Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



4.1 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng phân tử PEG lên quá trình sol-gel,

GPC và khả năng phân hủy in vitro

4.1.1 Đánh giá sản phẩm pentablock copolymer tổng hợp dựa trên sự khác

nhau của khối lượng phân tử PEG



Hình 4.1.1.1.1.1: Sản phẩm pentablock copolymer tổng hợp khác nhau ở loại

PEG.

Pentablock copolymer loại này được tổng hợp dựa trên sự khác nhau về khối

lượng gốc ưa nước PEG (1500 g/mol, 1800 g/mol, 2050 g/mol). Trong khi đó gốc kị

nước PLA và số OS nhạy pH gắn vào triblock sẽ cố định là tỉ lệ PLA/PEG = 2/1 và

số tỉ lệ OS/triblock = 6. Sản phẩm sau tổng hợp có dạng sệt, từ nâu nhạt đến nâu

đậm khi tăng khối lượng phân tử PEG.

4.1.2 Đánh giá khối lượng phân tử các hợp chất tổng hợp thông qua kết quả đo

GPC

Bảng 4.1.2.1.1: Kết quả đo GPC các hợp tổng hợp từ PEG 1800 g/mol

Chất chuẩn PEG

Triblock



Mn

1385

2406



Mw

1719

3146



PDI

1,241

1,307



62



Pentablock

Bảng 4.1.2.1.2:

Chất chuẩn PEG

Triblock

Pentablock



3205



3791



1,183



Kết quả đo GPC các hợp tổng hợp từ PEG 2050 g/mol

Mn

1807

2877

5269



Mw

2210

3477

6638



PDI

1,223

1,209

1,260



Nhận xét: Dựa vào các kết quả đo GPC, ta thấy có sự thay đổi khối lượng

phân tử số (Mn) và khối lượng phân tử khối (Mw) từ triblock qua pentablock, chứng

tỏ đã có OS được gắn vào. Tuy nhiên độ đa phân tán của pentablock từ loại PEG

(1800) thấp hơn so với PEG (2050) nên PEG (1800) đồng đều hơn PEG (2050). Do

PEG (2050) có khối lượng phân tử triblock lớn hơn nhiều so với PEG (1800) nên

khả năng linh động của PEG (2050) để gắn OS sẽ kém hơn PEG (1800).

4.1.3 Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và pH lên sự chuyển pha sol-gel của

mẫu pentablock PEG – 2PLA – 6OS



63



Hình 4.1.3.1.1.1: Đồ thị chuyển pha sol-gel của pentablock PEG (1800) – 2PLA

– 6OS.



Hình 4.1.3.1.1.2: Đồ thị chuyển pha sol-gel của pentablock PEG (2050) – 2PLA

– 6OS.

Nhận xét: Dựa vào đồ thị chuyển pha sol-gel của triblock có thể thấy khi

%copolymer càng cao thì vùng gel càng mở rộng, thỏa yêu cầu nằm trong điều kiện

cơ thể là 37C. Tuy nhiên đối với pentablock nhạy nhiệt/pH thì khả năng gel hóa sẽ

tốt hơn triblock, dù ở nồng độ rất thấp. Điều này nhờ vào các nhóm nhạy pH OS bị

deion hóa khi pH thấp tạo ra các liên kết kị nước. Đồng thời nhóm nhạy nhiệt PLA

cũng dễ dàng tạo ra các tương tác kị nước ở nhiệt độ thấp, %copolymer càng lớn thì

số liên kết kị nước càng lớn làm tăng cầu nối micelle dẫn đến tăng khả năng gel của

hydrogel. Nếu càng tăng nồng độ thì vùng gel càng rộng, khó khăn trong việc xác

định điểm gel và khả năng ứng dụng của nó.

 So sánh sự chuyển pha sol-gel của các pentablock có khối lượng phân tử

PEG khác nhau.



64



Hình 4.1.3.1.1.3: Đồ thị chuyển pha sol-gel của pentablock PEG – 2PLA – 6OS.

a) Nồng độ 13%; b) Nồng độ 18%.

Nhận xét: Khi so sánh sự chuyển pha sol-gel của triblock và pentablock có

thể thấy nếu tăng khối lượng phân tử PEG thì vùng gel sẽ được nâng lên cao nhờ

vào khả năng liên kết với nước của gốc ưa nước tăng trong khi số lượng gốc kị nước

không đổi. Điều này phù hợp khi thực hiện ở một nồng độ nhất định ở các loại PEG.



65



4.2 Khảo sát ảnh hưởng của block nhạy nhiệt PLA lên quá trình sol-gel, GPC

và khả năng phân hủy in vitro.

4.2.1 Đánh giá sản phẩm pentablock copolymer tổng hợp dựa trên sự khác

nhau của số block nhạy nhiệt PLA



Hình 4.2.1.1.1.1: Sản phẩm pentablock copolymer tổng hợp khác số block nhạy

nhiệt PLA.

Sản phẩm pentablock copolymer dạng này được thiết kế cố định khối lượng

PEG là 1800 g/mol và tỉ lệ mSerine/triblock là 6/1, thay đổi tỉ lệ PLA/PEG là 2/1 và

2,4/1. Sản phẩm có dạng sệt, màu nâu.

4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và pH lên sự chuyển pha sol-gel của

mẫu pentablock PEG (1800) – PLA – 6OS



66



4.3 Khảo sát ảnh hưởng của block nhạy pH OS lên quá trình sol-gel, GPC và

khả năng phân hủy in vitro.

4.3.1 Đánh giá sản phẩm pentablock copolymer tổng hợp dựa trên sự khác

nhau của số block nhạy pH OS

4.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ và pH lên sự chuyển pha sol-gel của

mẫu pentablock PEG (2050) – 2PLA – OS



67



CHƯƠNG 5:

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



68



KẾT LUẬN

Trong luận văn này đã tổng hợp được hydrogel nhạy nhiệt/pH OS-PLAPEG-PLA-OS có cấu trúc khác nhau:

-



PEG (1500)-2PLA-6OS.



-



PEG (1800)-2PLA-6OS.



-



PEG (1800)-2,4PLA-6OS.



-



PEG (2050)-2PLA-6OS.



-



PEG (2050)-2PLA-12OS.



Kết quả đo GPC chứng tỏ có OS được gắn vào do sự tăng khối lượng phân tử

trung bình số.

Kết quả thử sol-gel của các pentablock copolymer đã tổng hợp cho thấy sự

ảnh hưởng của khối lượng phân tử gốc ưa nước, tỉ lệ gốc kị nước/gốc ưa nước hay

số OS gắn vào triblock. Nếu khối lượng phân tử PEG càng nhỏ thì vùng gel càng

thấp. Đồng thời khi tăng tỉ lệ PLA/PEG thì điểm gel sẽ bắt đầu sớm và có thể rộng

hơn. Từ đó ta thấy pentablock có cấu trúc PEG (2050)-2PLA-6OS có kết quả phù

hợp nhất để thử phân hủy (gel ở nhiệt độ 37C, pH 7,4).

KIẾN NGHỊ

Một số kiến nghị để phát triển nghiên cứu theo hướng tốt hơn và có tính ứng

dụng cao hơn:

-



Khảo sát cấu trúc OS-PLA-PEG-PLA-OS có khối lượng phân tử PEG

2050 g/mol, 6 OS gắn vào nhưng giảm tỉ lệ PLA/PEG.



-



Khảo sát cấu trúc OS-PLA-PEG-PLA-OS khi tăng khối lượng phân tử

PEG.



-



Thử nghiệm trong môi trường in vivo từ cấu trúc phù hợp để đánh giá

độ tương thích sinh học.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×