Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

32



Thơng tin cá nhân



Nhóm



sinh



viên



tạo



Tỷ lệ phần



trả lời

1

32

28

28

23



trăm (%)

1

28,2

25,2

25,2

21,4



20



18,0



15



13,5



6

4



5,4

3,6



3



2,7



2

4

5

1

6



1,8

3,6

4,5

0,9

5,4



Khơng muốn nêu cụ thể

Năm 1

Năm 2

Năm 3

Năm 4

Đại học Khoa học xã hội

Nhân Văn

Đại

học



Đơn vị đào



Số người



Kinh



tế-



ĐHQGHN

Đại học Ngoại ngữ

Học viện Ngân hàng

Học viện báo chí tun

truyền

Đại học FPT

Đại học văn hóa

Đại học Thăng Long

Đại học Mở

Đại học Bách Khoa

Đại học Kinh tế quốc dân

Học viện An ninh

Đại học Y

Đại học Kinh doanh công

nghệ

Học viện Kĩ thuật Mật mã

Đại học Kiến trúc

Đại học Điện lực

Đại học Thủy lợi

Học viện tài chính

Đại học Thương mại

Học viện phụ nữ

Đại học Luật

Đại học Hà Nội

Học viện cơng nghệ bưu



7

2

3



6,3

1,8

2,7



5



4,5



1

1

1

4

3

2

5

3

2

1



0,9

0,9

0,9

3,6

2,7

1,8

4,5

2,7

1,8

0,9



33



Thơng tin cá nhân

chính viễn thơng

Đại học Công nghiệp

Du lịch

Kinh tế



Ngành học



Số người



Tỷ lệ phần



trả lời



trăm (%)



5

20

18



4,5

18,0

16,2



Ngoại ngữ

16

14,4

Chính trị

8

7,2

Luật

10

9,0

Cơng nghệ thơng tin

11

9,9

Kĩ thuật

9

8,1

Truyền thơng

6

5,4

Y

4

4,5

Sư phạm

3

2,7

Điều tra

2

1,8

Quốc tế

3

2,7

Xã hội học

1

0,9

Bảng 4.1. Thông tin về các đối tượng được điều tra

(Nguồn: Số liệu từ khảo sát của tác giả)

Trong số 111 câu trả lời ghi nhận được từ những người tham gia khảo sát



có 64 nữ, 46 nam ứng với tỷ lệ là 57,6% và 41,4%. Như vậy có sự chênh lệch khá lớn

giữa tỷ lệ nam và nữ. Có thể bước đầu nhận định rằng đề tài hấp dẫn đối tượng sinh

viên là nữ giới hơn.

Những nhóm sinh viên tham gia khảo sát có tỷ lệ ngang nhau giữa sinh viên

năm nhất đến năm tư, từ đó có thấy mức độ quan tâm giữa các khóa sinh viên trong

các trường đại học về influencer marketing không chênh nhau nhiều. Thêm vào đó, số

lượng sinh viên khảo sát chủ yếu có ngành học liên quan đến du lịch chiếm tỉ lệ cao

nhất 18%, sau đó là các sinh viên có ngành học liên quan đến kinh tế (chiếm 16,2%),

ngoại ngữ (chiếm 14,4%). Sinh viên đang theo học các ngành khác tại các trường Đại

học trên địa bàn Hà Nội như chính trị, kĩ thuật, cơng nghệ thơng tin, … cũng có sự

quan tâm tuy nhiên chưa cao.

4.2. Xu hướng đi du lịch của sinh viên Hà Nội.

4.2.1. Thời gian và tần suất đi du lịch của sinh viên Hà Nội



34

• Thời gian đi du lịch



Hiện nay phần đa hình thức đào tạo tại các trường đại học là chế tín chỉ, tăng

tính chủ động cho sinh viên trong việc sắp xếp lịch học và thời gian học của mình, sẽ

có những ngày sinh viên khơng cần đến lớp, do đó sinh viên sẽ có thời gian rảnh để

làm những việc cá nhân khác, trong đó có việc đi du lịch.

Kết quả từ phiếu khảo sát cho thấy, với những dịp như nghỉ hè (38,7%), và

thích thì đi (32,4%) là hai khoảng thời gian sinh viên lựa chọn để đi du lịch nhiều

nhất:

Biểu đồ 4.2.1.1. Khoảng thời gian dành để di du lịch của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Theo khảo sát của tác giả)

Sinh viên là đối tượng tương đối thoải mái về thời gian để đi du lịch. Là những

người trẻ thích khám phá và có những cá tính riêng, họ luôn sẵn sàng lên đường du

ngoạn bất cứ khi nào họ muốn mà không phải quá lo nghĩ về việc sắp xếp cơng việc

hay gia đình.

• Tần suất đi du lịch của sinh viên Hà Nội



Trong những năm gần đây, sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần

thứ 4 - công nghệ 4.0 làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện và nâng

cao, đặc biệt là sự tiện nghi. Khoảng cách giữa việc tiếp cận thông tin ngày càng được

thu hẹp, việc đi lại cũng ngày càng trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn. Đời sống, mức

thu nhập của người dân cũng ngày một được nâng cao, tiền được sử dụng cho dịch vụ

cũng từ đó mà tăng lên. Thực trạng chỉ ra rằng những sinh viên ở thành phố thường

được đầu tư hơn, tuy nhiên các gia đình ở nơng thơn cũng đang có xu hướng cố gắng

để con em học trên Hà Nội không thua kém quá xa so với bạn bè trang lứa. Do vậy

sinh viên ngày này có điều kiện nhiều hơn để đi du lịch, con số phản ảnh tần suất đi

du lịch của sinh viên Hà Nội là một trong những minh chứng rõ rang nhất khi tần suất

đi du lịch của sinh viên là 2- 3 lần/năm chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 50%).



35



Biểu đồ 4.2.1.2 Tần suất đi du lịch của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Số liệu khảo sát của tác giả)

Từ kết quả phân tích cho thấy, mức độ đi du lịch của đối tượng nghiên cứu

trung bình mỗi năm là khá cao. Kết quả này chứng minh rằng với đối tượng nghiên

cứu là sinh viên, tuy thuộc nhóm đối tượng đang còn lệ th uộc vào thu nhập, và phần

lớn là từ trợ cấp của gia đình cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày, chi phí cho q trình

học tập nhưng sinh viên vẫn có nhu cầu đi du lịch khá cao, điều này chịu tác động

một phần từ việc học tập, nghiên cứu, một phần xuất phát từ tâm lý thích khám phá,

tìm hiểu những điều mới lạ nên họ sẵn sàng tiết kiệm chi phí để thỏa mãn nhu cầu đi

du lịch của bản thân.

4.2.2. Kinh phí dành cho du lịch của sinh viên Hà Nội



Bên cạnh vấn đề về sức khỏe, thời gian thì kinh phí dành cho chuyến du

lịch là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Để có thể chi trả cho các nhu cầu bản

thân, dịch vụ trong suốt chuyến đi, kết quả thu được từ phiếu điều tra cho thấy đến

40,5% các bạn sinh viên cho biết nguồn kinh phí các bạn được bố mẹ hoặc người thân

hỗ trợ, ngồi ra có những bạn sinh viên đi làm thêm nên có sẵn thu nhập, hoặc tiết

kiệm từ các chi tiêu hàng ngày để có chi phí đi du lịch.

Biều đồ 4.2.2.1 Nguồn kinh phí dành cho du lịch của sinh viên Hà

Nội



36



(Nguồn: Khảo sát của tác giả)

Kết quả phiếu khảo sát cũng cho biết, với câu hỏi thường chi bao nhiêu cho

chuyến du lịch: Có 44,1% sinh viên cho biết mức chi tiêu của các bạn là từ 1-3 triệu;

25,2% sẵn sàng chi trả từ 3- 5 triệu cho chuyến đi của mình. Có những sinh viên cũng

cho biết mức chi tiêu của các bạn chỉ dừng lại ở dưới 1 triệu (13,5%) và cũng có

những bạn dành trên 5 triệu (17,1%) cho nhu cầu đi du lịch của mình. Tuy nhiên phần

trăm của hai nhóm này chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ. Phần lớn sinh viên Hà Nội dành một

khoản chi tiêu cho du lịch ở mức độ trung bình. Điều này chứng tỏ các bạn sinh viên

thường chọn những điểm du lịch không cách Hà Nội quá xa cũng như các chi phí dịch

vụ không quá đắt đỏ để là nơi thỏa mãn những nhu cầu của mình.



Biểu đồ 4.2.2.2 Mức chi tiêu dành cho du lịch của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Theo khảo sát của tác giả)

Những kết quả trên còn cho thấy, với một lượng khá nhiều sinh viên hiện nay

ngoài việc trang bị kiến thức trên giảng đường đại học, rèn luyện các kỹ năng cứng

trau dồi bản thân thì sinh viên còn có nhu cầu được trải nghiệm thực tiễn để học hỏi

và tích lũy dần cho bản thân những kinh nghiệm, những kỹ năng cần thiết trong công

việc thông qua việc đi làm them hay đi du lịch để khám phá. Bên cạnh đó cũng có thể

suy ra rằng sinh viên có ngân sách chi tiêu khác nhau thì sẽ có động cơ đi du lịch

khác nhau, dù thu nhập thấp hay cao đều có nhu cầu đi du lịch. Tuy nhiên đối với

những sinh viên ngoài ngân sách chi tiêu đến từ việc xin hỗ trợ từ người thân, tiết

kiệm họ có thêm khoản kinh phí từ làm thêm thì thường sẽ có nhu cầu đi du lịch



37



nhiều hơn và mức chi tiêu của họ cho chuyến đi đa phần cũng sẽ thoải mái hơn so với

những sinh viên có ngân sách chi tiêu thấp hơn.

4.2.3. Đặc điểm lưu trú khi đi du lịch của sinh viên Hà Nội



Qua cuộc khảo sát 111 phiếu đối với sinh viên Hà Nội, có 67 sinh viên

lưu trú tại các điểm du lịch mà họ đi từ 2 - 3 ngày (chiếm 60,4%); từ 4 - 5 ngày có 25

bạn sinh viên lưu lại (chiếm 22,5%), 10 sinh viên sử dụng 1 ngày cho chuyến du lịch

(9 %) và số sinh viên dành trên 5 ngày cho chuyến du lịch của mình là 9 sinh viên

(8,1%).



Bảng 4.2.3.1. Số ngày lưu trú của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Số ngày lưu trú



Số



Tỷ lệ



2- 3 ngày



Sinh viên

67



(%)



4-5 ngày



25



22,5



Trên 5 ngày



10



9



1 ngày



9



8,1



Tổng cộng



111



100



60,4



* Đánh giá chung: Điều kiện học tập, mức thu nhập với số lượng thời gian

ngày nghỉ, thời gian rảnh trong một năm là nguyên nhân quan trọng để tạo điều kiện

cho sinh viên có thời gian đi du lịch dài ngày hay ngắn ngày, thời gian lưu trú lại

điểm du lịch là nhiều hay ít. Số ngày lưu trú của sinh viên tương thấp kèm theo việc

họ thường đi với gia đình hay bạn bè thì chi phí dành cho một chuyến đi của họ cũng

sẽ gần như là thấp hơn so với số thời gian lưu trú của những khách du lich khác.



38



Cùng liên quan đến việc lưu trú khi đi du lịch của sinh viên, trong đề tài

nghiên cứu của mình, tác giả cũng tiến hành khảo sát về loại hình lưu trú và thu được

kết quả như sau:



Bảng 4.3.2.2. Loại hình lưu trú

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Số ngày lưu trú



Số



Khách sạn/Rerost

Nhà nghỉ

Homestay

Nhà người quen

Khác

Tổng cộng



viên

28

45

27

8

3

111



sinh



Tỷ lệ (%)

25,2

40,5

24,3

7,2

2,8

100



Tùy thuộc vào khả năng thanh tốn, hình thức đi du lịch, đặc điểm chi tiêu của

mỗi cá nhân và mục đích, nhu cầu, động cơ du lịch thì loại hình lưu trú của mỗi đối

tượng sẽ là khác nhau. Theo kết quả điều tra của tác giả thì loại hình lưu trú là nhà

nghỉ được nhiều đối tượng nghiên cứu lựa chọn nhất với 40,5%, tiếp đó là khách

sạn/resort với 25,2% và sau đó là homestay với 24,3%. Kết quả này cũng phần nào

phản ánh được việc lựa chọn loại hình lưu trú đối với đối tượng nghiên cứu không

quá quan trọng, họ chỉ cần một nơi nghỉ chân, qua đêm an toàn, với các tiện nghi cơ

bản và thoải mái là được chứ khơng đòi hỏi cao về chất lượng và dịch vụ. Việc này

cũng góp phần vào việc giảm chi phí cho chuyến đi. Một điểm đặc biệt là các bạn



39



sinh viên Hà Nội đa phần cũng không lựa chọn loại hình homestay – một loại hình

lưu trú khá thú vị và hấp dẫn những người khách du lịch, đặc biệt là giới trẻ và lại có

chi phí đa dạng, không quá cao hơn so với giá tiền nhà nghỉ. Một phần nguyên nhân

dường như là do chủ các homestay chưa có sự quảng cáo rộng rãi và hấp dẫn để có

thể thu hút được đối tượng khách du lịch triển vọng này.

4.2.4. Xu hướng lựa chọn điểm đến của sinh viên Hà Nội



Khi tiến hành khảo sát đối tượng nghiên cứu về việc lựa chọn điểm du lịch

trong hay ngồi nước, thì có đến 91 bạn (82%) chọn đi du lịch trong nước và chỉ có 1

bạn (0.9%) chọn đi du lịch nước ngồi. Phần còn lại chiếm khoảng 17% sinh viên có

lựa chọn điểm đến du lịch cả trong và ngồi nước. Điều này khơng khó để lý giải bởi

lẽ sinh viên không phải là đối tượng quá dư giả về tiền bạc cũng như thời gian. Với

chi phí thường dành cho chuyến đi từ 1-3 triệu thì việc lựa chọn tới tham quan các

điểm đến trong nước hoàn toàn là một lựa chọn phù hợp và tiết kiệm cho các bạn sinh

viên Hà Nội.



Biểu đồ 4.2.4. Xu hướng lựa chọn điểm đến du lịch của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Theo khảo sát của tác giả)

Với xu hướng đa phần lựa chọn các điểm trong nước và với tiêu chí tiết kiệm

được đặt lên hàng đầu, các bạn sinh viên phần đa lựa chọn tự tổ chức tour cho chính

mình và khơng q ngạc nhiên khi có đến 91 bạn chọn các tự tổ chức chuyến đi trong

khi số lượng lựa chọn việc mua tour từ các công ty du lịch và các nhà cung ứng dịch

vụ đơn lẻ thì chưa đến 20 bạn lựa chọn.



40



Bảng 4.2.4 Hình thức đi du lịch của sinh viên

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

T



Hình thức



Tần số



Tỷ lệ (%)



Tự tổ chức

Cơng ty du lịch

Khác



91

11

9

111



82

9.9

8,1

100



T

1.

2.

3.

Tổng



4.2.5. Động cơ đi du lịch của sinh viên Hà Nội

• Động cơ đẩy



Động cơ đẩy là động cơ xuất phát từ nội tại cá nhân du khách và họ tham

gia du lịch bởi các yếu tố nội bộ hay có thể nói là mục đích của chuyến đi như: du

lịch nghỉ dưỡng, du lịch kết hợp công việc, du lịch kết hợp chữa bệnh, du lịch tham

quan, du lịch kết hợp thăm người thân, du lịch teambuilding và một vài động cơ khác.

Biểu đồ 4.5.2.1. Mục đích đi du lịch của sinh viên Hà Nội

(Nguồn: Số liệu khảo sát của tác giả)

Kết quả điều tra từ 111 phiếu thăm dò ý kiến của sinh viên cho thấy, phần lớn

sinh viên đi du lịch với mục đích tham quan khám phá, cụ thể trong 111 sinh viên thì

có đến 80 lựa chọn động cơ đi du lịch để tham quan, khám phá. Tiếp đến có 48 lựa



41



chọn động cơ đi du lịch để nghỉ dưỡng. Mục đích đi du lịch văn hóa có 12 lựa chọn

và du lịch kết hợp cơng việc có 8 lựa chọn. Những hoạt động đi du lịch với mục đích

khác như du lịch hành trình, du lịch kết hợp với thăm thân, teambuilding, … không

được ưu tiên chọn chưa cho chuyến du lịch của các bạn sinh viên.

Từ kết quả trên ta có thể dễ dàng nhận thấy, đa phần đối tượng nghiên cứu có

động cơ du lịch với mục đích tham quan, vui chơi, khám phá, thư giãn là chủ yếu có

lẽ một phần xuất phát từ những áp lực cuộc sống, học tập khiến cho sinh viên có nhu

cầu cao được giải trí lấy lại tinh thần, cân bằng cuộc sống. Hoặc có thể thấy trong

khoảng thời gian gần đây, có một nghề khá thu hút giới trẻ đó là đi du lịch, viết bài và

review về những chuyến đi rồi đăng lên mạng xã hội, website, xuất bản thành sách.

Đó là nghề travel blogger. Những travel blogger này cũng thường khá trẻ, có những

người là sinh viên. Điều này cũng minh chứng rõ nét cho động cơ đi du lịch ngày nay

rất đa dạng và phong phú. Du lịch không chỉ đơn thuần là du lịch hưởng thụ, là mất đi

một khoản chi phí về tiền bạc mà du lịch còn mang lại những giá trị tinh thần cũng

như giá trị về vật chất.

• Động cơ kéo



Động cơ kéo là động cơ xuất phát từ lực kéo bên ngoài, do đó tác giả xây

dựng các tiêu chí để sinh viên lựa chọn cho điểm đến du lịch đó là: Nhiều danh lam

thắng cảnh, di tích lịch sử; món ăn ngon, giá cả hợp lý; nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí;

cơ sở lưu trú tốt; đường đi thuận lợi; chi phí đến đó rẻ; con người tại điểm đến thân

thiện mến khách; được truyền cảm hứng từ những bài viết, review trên mạng; được

người quen giới thiệu...

Biểu đồ 4.5.2.2. Động cơ kéo sinh viên đi du lịch

(Nguồn: Khảo sát của tác giả)

Theo kết quả điều tra thu được cho thấy, có nhiều lý do khiến sinh viên thực

hiện chuyến du lịch của bản thân, trong đó những động cơ như: món ăn ngon, giá cả

hợp lý; có nhiều cảnh đẹp; có nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí; được truyền cảm hứng

từ những bài viết trên mạng…là những động cơ được sinh viên lựa chọn nhiều nhất.



42



Bên cạnh những lý do mang tính truyền thống như về cảnh đẹp, món ăn thì

những lý do rất đáng nhắc đến và đặc biệt là phù hợp vơi những người trẻ đó là việc

đi du lịch do được truyền cảm hứng từ những bài viết trên mạng. Đây là nguồn thơng

tin hữu ích cho mỗi sinh viên trước mỗi chuyến đi để họ xác định được cần chuẩn bị

những gì hoặc chính những bài viết đó là động lực kéo họ thực hiện chuyến đi của

mình.

4.3. Ảnh hưởng của influencer marketing đến xu hướng đi du lịch của sinh viên



Hà Nội

4.3.1. Quan điểm về influencer marketing của sinh viên Hà Nội

Ở phần 2 của bảng khảo sát là nhóm câu hỏi có nội dung liên quan đến quan

điểm của người tham gia khảo sát về influencer marketing. Ở phần mở đầu của bảng

khảo sát, tác giả đã trình bày khái niệm cơ bản về influencer marketing để người tham

gia khảo sát có thể dễ dàng tiếp cận những câu hỏi nhằm mục đích đánh giá hiệu quả

của loại hình marketing này đối với sinh viên Hà Nội.

• Mức độ quan tâm



Khi được hỏi câu hỏi “Bạn thường thấy influencer marketing xuất hiện ở đâu?”

thì có đến 107 bạn (chiếm 95,5%) chọn câu trả lời là mạng xã hội. Các phương tiện

truyền thông khác như quảng cáo truyền hình, website, tờ rơi, … có rất ít sự lựa chọn,

khơng q 25% đối tượng được khảo sát. Điều này cho thấy mạng xã hội thực sự đang

là một công cụ marketing vô cùng hiệu quả cho các thương hiệu du lịch, đặc biệt là

với đối tượng là các bạn sinh viên, những người dành thời gian sử dụng mạng xã hội

nhiều nhất. Với mức độ nhận biết thương hiệu tuyệt đối 100%, cứ 100 người thì có

đến 99 người đăng kí tài khoản (theo thống kê của Công ty nghiên cứu thị trường

W&S vào tháng 2/2018) thì Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất ở Việt Nam và

đương nhiên, facebook cũng là nơi các bạn trẻ biết đến và theo dõi nhiều influencer du

lịch nhất.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×