Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



hội khác như Instagram, Zalo… cũng thu hút một lượng lớn người dùng. Cũng từ

mạng xã hội, cơn sốt thần tượng đã khiến giới trẻ “follow” mọi lúc mọi nơi những

người nổi tiếng, tin dùng những sản phẩm mà thần tượng quảng bá.

Các thương hiệu ngày càng có xu hướng sử dụng influencer như một kênh

hiệu để tiếp cận tới khách hàng của mình. Ngày nay, việc mua sắm online đã trở nên

rất khác so với trước kia. Người tiêu dùng không chỉ đơn thuần vào các sàn thương

mại điện tử và mua hàng. Họ mua hàng thông qua người mà họ tin tưởng.

Báo cáo của Awin’Global Report năm 2017 chỉ ra rằng, có 2.8 tỷ người trên

thế giới sử dụng ít nhất một nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram,

Weibo, hay Snapchat… và trung bình một người họ sử dụng 2 giờ mỗi ngày cho

những mạng xã hội này. Nắm bắt được xu hướng chung đó, các thương hiệu thường

xuyên sử dụng những người có ảnh hưởng trên các mạng xã hội quảng bá sản phẩm

cho mình.

2.1.2. Lịch sử ra đời và phát triển

• Giai đoạn đầu của influencer marketing



Trong văn hóa dân gian quảng cáo, người ta nói rằng từ lâu Nữ hồng và

Giáo hồng đã từng chứng thực y học vì lợi ích của người dân. Theo một nghĩa nào

đó, họ là những người có ảnh hưởng sớm nhất, thúc đẩy việc sử dụng thuốc cho

những người chưa tin.

Năm 1890, Nancy Green được Công ty Phay RT Davis thuê làm gương mặt

cho hỗn hợp bánh kếp của họ có tên là Dì Jemima. Dì Jemima đã cho bánh pancake

trộn một bản sắc độc đáo và khiến nó trở nên nổi tiếng. Cơ được coi là người mẫu

người Mỹ gốc Phi đầu tiên có ảnh hưởng đến một thế hệ người mua hỗn hợp bánh

pancake. Cô thậm chí đã được trao huy chương và giấy chứng nhận cho sự thể hiện

hiệu quả của mình. Trong lịch sử tiếp thị có ảnh hưởng, dì Jemima chắc chắn là một

trong những người tiên phong.

Trong những năm 1920, chỉ có một vài thương hiệu trên thị trường định hình

marketing sản phẩm bằng cách tập trung vào sản phẩm 1.0. Các thương hiệu này đã

tạo ra các cá nhân để bước đầu kích hoạt quyết định mua hàng của người tiêu dùng

một cách tình cảm. Santa Claus có lẽ là nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử



16



marketing người ảnh hưởng ở các nước phương Tây. Người đàn ông mặc áo đỏ, có

râu, âu yếm mà chúng ta biết ngày nay đã được tạo ra bởi Coca-Cola và vẫn là một

người có ảnh hưởng tới thương hiệu cho đến bây giờ. Một nhân vật nổi tiếng khác là

Tony the Tiger, người xuất hiện trên bao bì của Kellogg.



Ảnh 2.1.2. Quảng cáo của Kellogg

Nguồn: Instagram Kelloggsus



Sau đó, khơng ai còn sử dụng thuật ngữ những người có ảnh hưởng để mơ tả

các nhân vật này nữa nhưng có thể so sánh với những người có ảnh hưởng hiện nay.

Họ có một hiệu ứng tương tự và thật thú vị rằng những người có ảnh hưởng này vẫn

tồn tại cho đến ngày nay. Những nhân vật này làm gia tăng khả năng người tiêu dùng

sẽ u thích và gắn bó với thương hiệu.

Khách hàng thường dễ bị chi phối cảm xúc trong quá trình ra quyết định mua

hàng, và Santa và Tony đã tăng khả năng người tiêu dùng sẽ đồng cảm với Coca-Cola

hoặc Kellogg. Trước đây, quyết định mua hàng rất dễ dàng do chỉ có một số ít thương

hiệu trên thị trường. Do đó, khi sự lựa chọn sản phẩm được mở rộng, marketing

người có ảnh hưởng cũng tiếp tục theo một hướng mới.

• Giai đoạn thứ hai: Người nổi tiếng ảnh hưởng đến sự trỗi dậy



Nhiều thương hiệu xuất hiện trên thị trường đồng nghĩa với việc người mua

hàng có nhiều lựa chọn sản phẩm hơn và nó cũng khiến cho hành trình quyết định

mua sản phẩm của khách hàng trở nên phức tạp hơn. Thị trường của người bán đã

chuyển sang thị trường của người mua do sự thay đổi trong hành vi của người tiêu

dùng. Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống phát thanh tạo điều kiện cho quảng cáo



17



và quảng cáo trên đài phát thanh và TV trong quá trình tiếp thị tập trung vào người

tiêu dùng 2.0.

Trong giai đoạn marketing này, " khách hàng là thượng đế" nhưng lại thấy

mình trong tình trạng quá tải quảng cáo mỗi ngày. Do đó, những người nổi tiếng gia

tăng chức năng để trở thành những người có ảnh hưởng theo nghĩa là một cách tiếp

cận hai bước trong một thế giới đại chúng. Trái ngược với Santa và Tony, những

người nổi tiếng đã tạo ra được sự tin cậy cho người tiêu dùng do suy nghĩ, lối sống

hay những mối quan hệ của họ. Do đó, họ được sử dụng như lời chứng thực cho chiến

lược marketing của một thương hiệu để thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm

• Influencer marketing ngày nay



Nhiều thập kỷ trơi qua và ngành marketing đã chuyển qua giai đoạn 3.0. Ở giai

đoạn này của lịch sử marketing người ảnh hưởng, những phát triển về cơng nghệ

đóng góp một phần rất quan trọng đối với việc sử dụng những người ảnh hưởng trong

marketing. Thay đổi xã hội cho phép phát triển thị trường thích hợp. Ở thời kì này, bất

kỳ ai cũng có thể tạo nội dung trực tuyến trên các nền tảng công nghệ, đặc biệt là

mạng xã hội. Điều này đã sinh ra những người có ảnh hưởng mới hơn, từ những

người chỉ có vài nghìn người theo dõi đến những người có hàng triệu người theo dõi

trên mạng xã hội. Tất cả đều có hai điểm chung: tiếng nói xác thực và sức mạnh để

thu hút hiệu quả những người theo dõi họ với nội dung thẩm mỹ.

2.1.3. Thuật ngữ influencer.



Mạng xã hội đang dần trở thành một phần không thể thiểu của đời sống,

nhất là đối với một lượng khách hàng trẻ. Ở đó, mọi lời truyền miệng khen – chê dịch

vụ, sản phẩm của thương hiệu hay doanh nghiệp lan rộng một cách hết sức nhanh

chóng. Đây là nguyên do khiến cho những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội và

blogger nhanh chóng trở thành người ủng hộ và quảng bá thương hiệu.

Khái niệm influencer khơng còn chỉ là các chun gia, nhà phân tích,

blogger, phóng viên… mà còn là những người có ảnh hưởng hồn tồn có thể là nhân

viên hay thậm chí là khách hàng của chính doanh nghiệp. Hình thức marketing này

thay vì nhắm mục tiêu quảng cáo trực tiếp đến một nhóm khách hàng, thương hiệu sẽ



18



truyền cảm hứng và trả tiền cho người ảnh hưởng để giúp các thương hiệu quảng bá

hình ảnh tốt nhất của mình đến người tiêu dùng.

Influencers có thể được phân thành nhiều nhóm với những đặc điểm, thế

mạnh riêng. Tuỳ vào mục tiêu mỗi chiến dịch, nhãn hàng có thể sử dụng 1 hay kết

hợp nhiều nhóm influencer để đạt kết quả mong muốn.

Có nhiều cách để “phân loại” influencer. Ngoài việc dựa vào lượt follower,

nhà marketing còn có thể dựa vào tính chất cơng việc, nội dung chia sẻ của họ cũng

như mức độ quan tâm của fans với những gì mà họ chia sẻ để phân loại. Chẳng hạn

như Hiip, nền tảng influencer marketing lớn nhất tại Việt Nam, dựa vào kết quả đo

lường về engagement rate – tỷ lệ tương tác của fans trên số lượng followers của mỗi

influencer, có được từ việc phân tích trung bình 30 bài viết của mỗi influencer trong

hệ thống hơn 2.000 influencer của Hiip để phân loại influencer thành 4 nhóm chính:

Người nổi tiếng, người ảnh hưởng lớn, người ảnh hưởng vừa và nhỏ, và người ảnh

hưởng siêu nhỏ.

• Social celebrities – Người nổi tiếng

Đây thường là những người hoạt động trong giới giải trí, có thương hiệu cá

nhân, đại diện cho lối sống riêng và có lượng fan siêu lớn (trên 1 triệu fans).

Họ sẽ giúp thêm giá trị sản phẩm, dịch vụ thông qua độ phủ sóng và khả năng

tác động đến tâm lí người dùng cũng như uy tín của bản thân. Họ thích hợp làm đại

sứ thương hiệu để xây dựng hình tượng người tiêu dùng chuẩn (đại diện) của sản

phẩm, từ đó lơi cuốn những người tiêu dùng có đặc tính tương tự đến với sản phẩm.

Ví dụ, để hướng đến đối tượng là khách hàng trẻ, sành điệu trong phân khúc

smartphone tầm trung, Oppo chọn Sơn Tùng M-TP làm đại diện. Trong khi đó,

“chững chạc” và đẳng cấp hơn, Samsung chọn siêu mẫu Thanh Hằng làm đại sứ riêng

cho các dòng smartphone phân khúc cao cấp.

• Macro influencers – Người ảnh hưởng lớn (vĩ mơ)

Họ có thể là những chun gia nổi bật trong một lĩnh vực nào đó, thường là

những người tạo ra xu hướng mới, kích thích fan làm theo trào lưu và có từ 250.000 –

1 triệu fan. Mặc dù độ nổi tiếng không bằng top celebs nhưng macro influencer gần

gũi với fan hơn và có khả năng thay đổi định kiến, ý kiến tiêu dùng cũng dễ hơn, mức



19



độ tương thích và liên quan đến sản phẩm, dịch vụ cũng tương đối tốt. Các macro

influencer là ý tưởng tuyệt vời để brand quảng bá sản phẩm đến một nhóm người cụ

thể nhưng vẫn đảm bảo sản phẩm có thể được nhìn thấy rộng rãi.

Mặt khác, người tiêu dùng sẽ nhận ra mức độ phổ biến của sản phẩm thơng

qua macro influencer. Ví dụ, nếu bạn đang dùng son Shu Uemura và phát hiện ra

Kaity Nguyễn cũng dùng dòng son này, hẳn bạn sẽ cảm thấy có chút thích thú và tin

cậy sản phẩm hơn.

• Power middle influencers – Người ảnh hưởng vừa và nhỏ

Những cái tên như nhà văn Phan Ý Yên, TV Producer Trần Quốc Khánh,

dancer Giang popper, blogger du lịch Đinh Hằng… nằm trong nhóm này. Họ thường

nổi tiếng trong một lĩnh vực chuyên mơn nào đó như: nhà văn, dancer, đạo diễn, huấn

luyện viên yoga, blogger du lịch, reviewers sản phẩm công nghệ.... Fan theo dõi họ

thường có sự quan tâm đặc biệt cũng như tin tưởng vào những nội dung/lĩnh vực mà

họ chia sẻ.

Sở hữu từ 10.000 – 250.000 fans, nhóm này tương tác đủ tốt và thường xuyên

trao đổi với fan. Người ảnh hưởng vừa và nhỏ có nhiều khả năng thuyết phục người

theo dõi thử sản phẩm hoặc tạo ra nhận diện về thương hiệu. Khi hợp tác với nhóm

này, thông điệp về nhãn hàng sẽ được truyền tải qua lăng kính và phong cách riêng

của từng người. Từ đó, người tiêu dùng dễ dàng tiếp nhận thông điệp về chất

lượng/đặc tính sản phẩm mà nhãn hàng muốn truyền tải. Ví dụ, blogger Đinh Hằng

thường xuyên post những bài viết chia sẻ kinh nghiệm du lịch bụi tiết kiệm nên khi cô

“share” thông tin vé máy bay giảm giá của 1 hãng bay nào cũng được fan quan tâm

rất nhiều.

• Micro influencer – Người ảnh hưởng siêu nhỏ

Họ được xem là những người “bình thường” nhất trong các nhóm

influencer. Họ có thể là người mẫu, photographer tự do, sinh viên múa… và có quan

hệ thân thiết với fans. Thơng thường, khán giả theo dõi những người ảnh hưởng siêu

nhỏ này bởi vì họ thật sự có một mối quan hệ thật ngoài đời hoặc là chia sẻ một sự

quan tâm đặc biệt về một chủ đề nào đó trong cuộc sống. Chia sẻ của họ cũng là trải

nghiệm thật sự của 1 người tiêu dùng bình thường nên mức độ đáng tin rất cao.



20



Dữ liệu phân tích của Hiip cho thấy, dù giới hạn về lượt theo dõi (1.000 –

10.000 fans) nhưng micro influencer lại là nhóm có tỷ lệ tương tác cao nhất trong 4

nhóm. Do đó, nếu muốn tiếp cận khách hàng mục tiêu ở cấp độ “ngách” nhất, brand

có thể hợp tác với nhóm này. Mặt khác, hợp tác với người ảnh hưởng siêu nhỏ cũng

giúp brand tiết kiệm được rất nhiều chi phí mà vẫn đạt được một số mục tiêu nhất

định.

Như vậy, nhóm influencer nào cũng có thế mạnh và mang lại lợi ích riêng.

Tuỳ theo từng mục tiêu chiến dịch cũng như ngân sách mà thương hiệu nên có cách

sử dụng 1 hoặc kết hợp nhiều nhóm influencer khác nhau để đạt hiệu quả mong

muốn. Nếu 1 chiến dịch nhằm mục đích gia tăng nhận diện thương hiệu nhưng đồng

thời cũng muốn xây dựng hình tượng cao cấp của thương hiệu, brand có thể hợp tác

với celebs, kết hợp với macro influencer. Nếu 1 chiến dịch muốn người tiêu dùng trải

nghiệm, tham gia, tương tác thì sự kết hợp giữa người ảnh hưởng nhỏ và siêu nhỏ

cũng có thể là giải pháp phù hợp.

Trên thực tế, nhiều nhãn hàng ln có sự kết hợp các nhóm influencer khác

nhau khi triển khai 1 chiến dịch influencer marketing. Điển hình như Sunlight với

chiến dịch “Việc nhà có thể đợi”. Ngồi hợp tác với celebs như MC Phan Anh, ca sĩ

Đăng Khơi, nhãn hàng còn chọn những cái tên “macro” như nhà văn Trang Hạ, MC

Trang Moon, VJ Thuỳ Minh hay những “micro” hot mom như nhà báo Thu Hà, Uyên

Bùi để lan truyền thông điệp của mình.

2.2. Influencer marketing điểm đến du lịch

2.2.1. Định nghĩa



Ngành du lịch là một lĩnh vực không giống như bất kỳ một loại hình kinh

doanh nào khác bởi vì thay vì một sản phẩm, doanh nghiệp lữ hành bán một nơi, một

địa điểm du lịch và tất cả những dịch vụ mà điểm đến đó cung cấp. Mỗi doanh nghiệp

du lịch đang phải rơi vào tình trạng cạnh tranh khốc liệt mỗi khi muốn quảng bá du

lịch ở một địa điểm nhất định và mức độ cạnh tranh cao này đòi hỏi các doanh nghiệp

phải đưa ra một cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo và phương thức quảng cáo thông qua

những người có ảnh hưởng cũng đang được các doanh nghiệp du lịch tích cận tiếp

nhận và sử dụng.



21



Influencer Marketing điểm đến du lịch là phương thức marketing về điểm đến

du lịch cùng với những dịch vụ mà du khách có thể được trải nghiệm tại đó thơng qua

những người có sức ảnh hưởng xã hội đến đối tượng mục tiêu. Những "người gây ảnh

hưởng" thường được lựa chọn trong quảng bá điểm đến du lịch thường là các travel

bloggers, hoặc cũng có thể là những nghệ sĩ, diễn viên có sức ảnh hưởng, có tác động

"dẫn dắt, gợi ý" để thuyết phục người khác hành động theo kết quả mà các doanh

nghiệp đang mong muốn.

Kết nối với những người có ảnh hưởng trong du lịch giúp gia tăng sự tương tác

và cả sự tin tưởng mọi người dành cho điểm đến mà doanh nghiệp muốn hướng tới.

Những người ảnh hưởng hàng đầu trong lĩnh vực có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận

đến với nhiều khách hàng mục tiêu hơn. Những influencer được lựa chọn có thể dẫn

dắt cho mọi người sự tin tưởng vào thương hiệu du lịch bằng cách kết nối doanh

nghiệp với những người quan tâm đến họ. Sự quan tâm và hứng thú của du khách có

thể giúp các cơng ty du lịch bán được thêm nhiều sản phẩm du lịch, lấy được lòng tin

của người dùng, loan truyền thơng điệp PR nhanh chóng...

2.2.2. Vai trò



Khi cả thế giới dần chuyển sang phương thức truyền thông xã hội, thì những

người có nhu cầu đi du lịch cũng đang có xu hướng tham khảo những người quen hay

những người cùng mối quan tâm với họ trên mạng để đưa ra quyết định về việc lựa

chọn điểm đến, thậm chí là lịch trình vui chơi, phương tiện di chuyển, …

Thay vì bị động tiếp nhận thơng tin từ các thương hiệu du lịch như trước đây,

hiện nay du khách có thể tìm kiếm và lắng nghe thơng tin từ những người ảnh hưởng

đến họ, những người mà có lượng theo dõi khổng lồ trên Facebook, YouTube,

Instagram hay các mạng xã hội khác.

Sự gia tăng số lượng những người ảnh hưởng trên các phương tiện truyền

thông xã hội mở ra nhiều cơ hội chưa từng có. Nó tạo ra một kênh mới giúp các công

ty lữ hành và khách sạn có thể kết nối với người tiêu dùng một cách trực tiếp, rất tự

nhiên và quy mơ hơn. Có thể dễ dàng nhận ra được những ảnh hưởng tích cực từ

phương thức quảng cáo này đối với điểm đến du lịch.



22



Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp quan trọng vào sự phát triển của

quốc gia, cụ thể, năm 2017, Du lịch & Lữ hành đóng góp gần 9,4% vào GDP, vào

khoảng 468.300 tỉ đồng. Tuy nhiên, ngồi phương thức truyền thống, các hãng lữ

hành vẫn còn chậm chân trong việc thu hút nguồn khách đến từ không gian mạng, và

khai thác ‘mỏ vàng' các đại sứ du lịch trực tuyến. Các hoạt động xúc tiến du lịch vẫn

còn tập trung vào phương thức truyền thống như tham gia các hội chợ du lịch hoặc

quảng bá ở các thị trường du lịch trọng điểm, chưa thật sự ứng dụng công nghệ thông

tin vào lĩnh vực du lịch trong xu hướng Cách mạng Công nghiệp 4.0.

Một nghiên cứu của McKinsey cho thấy "Marketing thông qua truyền miệng

từ người này đến người khác tạo ra doanh thu gấp đôi quảng cáo trả tiền". Và trong số

đó, marketing thơng qua truyền miệng chiếm một tỷ lệ khách hàng quay lại cao hơn là

37%. Marketing thông qua người ảnh hưởng tạo cho nhãn hàng một cơ hội rõ ràng

của việc tận dụng sức mạnh của việc truyền miệng ở quy mô lớn thông qua người ảnh

hưởng mà người dùng thường xuyên theo dõi và ngưỡng mộ họ.

Ngược lại với các hình thức marketing truyền thống thường làm gián đoạn trải

nghiệm của khách du lịch, các hình thức marketing tự nhiên giúp nhãn hàng mang

đến nội dung phù hợp sẽ tạo ra một trải nghiệm thật hơn cho du khách và đây là một

giải pháp tiếp thị mạnh mẽ cho các nhãn hàng.

Trong thời gian đầu xây dựng thương hiệu và cải thiện doanh số bán hàng của

các doanh nghiệp lữ hành, marketing với người ảnh hưởng cũng giúp nâng cao sự

xuất hiện trên cơng cụ tìm kiếm về thương hiệu. Theo The Social Media Revolution,

người dùng tạo ra các bài trên trang xã hội chiếm 25% kết quả tìm kiếm của 20

thương hiệu đứng đầu thế giới. Khi càng nhiều người đề cập đến thương hiệu của

doanh nghiệp trên phương tiện truyền thông xã hội, thông tin sẽ càng phổ biến hơn

trên Google.

2.3. Đặc điểm, tính cách, nhu cầu và xu hướng đi du lịch của sinh viên



Sinh viên được xem là một nhóm xã hội đặc biệt, đang trong quá trình tiếp thu

những kiến thức, kỹ năng, chun mơn tại các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị

cho hoạt động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.



23



Thuật ngữ sinh viên có gốc từ tiếng La tinh “Student”, nghĩa là người làm việc,

tìm kiếm, người khai thác tri thức. Sinh viên là đối tượng đang chuẩn bị cho một hoạt

động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội. Các hoạt động học tập, nghiên

cứu khoa học, hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất

cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình của mình.

Sinh viên là con người thuộc một lứa tuổi nhất định và là một nhân cách nên có thể

được xác định về ba phương diện: sinh lí, tâm lí và xã hội.

* Phương diện sinh lí: Tuổi sinh viên được xem xét từ 19 đến 25 tuổi, tuy

nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối. Lứa tuổi được bắt đầu sau khi

kết thúc phổ thông trung học chấm dứt ở tuổi 24 – 25, vì ở tuổi 24 - 25 con người đã

hoàn tất sự phát triển về thể chất (thường nữ sớm hơn nam từ 1 đến 2 năm), đây là

tuổi mà con người đã đạt đến mức hoàn thiện tất cả các hệ thống thần kinh, cơ

xương… Ở lứa tuổi sinh viên các yếu tố bẩm sinh di truyền cũng có thể được biến đổi

dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và giáo dục.

* Phương diện tâm lý: Ở tuổi sinh viên, các chức năng tâm lý có nhiều thay

đổi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý

học cho thấy rằng ở tuổi này, các hoạt động tư duy của sinh viên rất tích cực và có

tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng khái quát các vấn đề, nhờ đó

mà tự mình phát hiện ra cái mới. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt

chẽ với khả năng sáng tạo.

* Về phương diện xã hội: Đây là đặc trưng quan trọng nhất của tuổi sinh viên

được thể hiện ở mức độ xã hội, ở kế hoạch chuẩn bị tham gia vào một phạm vi cơ bản

của đời sống, tham gia vào một cộng đồng xã hội nào đó . Nghiên cứu sinh viên ở góc

độ ý thức thì đó là q trình hình thành thế giới quan nắm vững các giá trị và các tiêu

chuẩn về ý thức nghề nghiệp.

Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể

chế chính trị. Sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ

tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội. Chính sinh viên là

nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau



24



có cấu trúc của tầng lớp tri thức xã hội. Các tổ chức chính trị, xã hội, dòng tộc gia

đình có nhiều kỳ vọng đối với sinh viên.

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi

phối của hoạt động chủ đạo. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả tập trung, quan

tâm đến sinh viên, những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức,

kỹ năng, nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học, học viện.

Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn

đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày. Sinh viên là những trí thức tương lai, họ

sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt. Học tập ở đại học là một cơ hội tốt để

sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái

mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi,

trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình.

Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh

viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập

một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn.

Bên cạnh những mặt tích cực thì sinh viên cũng không tránh khỏi những hạn

chế chung của lứa tuổi thanh niên. Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành

động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới. Ngày nay, trong xu thế mở

cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thơng tin, nền văn hố của

chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả

văn hố phương Đơng và phương Tây. Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá

của các nền văn hoá khác là cần thiết. Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích

những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó,

sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hố khơng phù hợp với chuẩn mực xã

hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và khơng có lợi cho bản thân họ.

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so

với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình

cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu,

khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách.

Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn



25



lọc, tiếp thu cái mới. Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập,

rèn luyện và phấn đấu của sinh viên.

Từ những phân tích về đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý của đối tượng sinh viên

và qua những khảo sát được thực hiện, tác giả nhận ra được một số đặc điểm đang lưu

ý về xu hướng đi du lịch của sinh viên như sau:

- Phần lớn các bạn sinh viên đi du lịch với mục đích vui chơi giải trí, và điều



này khơng có gì là sai đối với lứa tuổi này. Do vậy, các điểm đến thường được lựa là

những địa điểm du lịch có nhiều khu vui chơi, nghỉ dưỡng để phục vụ nhu cầu giải trí,

hoặc sẽ là nơi có nhiều phong cảnh đẹp để phục vụ cho sở thích chụp ảnh hoặc nhu

cầu nghỉ ngơi thư giãn.

- Việc chọn chọn lựa điểm đến du lịch của các bạn sinh viên thường bị ảnh

hưởng rất nhiều bởi tâm lý đám đông. Trong một khoảng thời gian ngắn trở lại đây,

người ta bắt gặp rất nhiều những bài viết chia sẻ kinh nghiệm về những chuyến đi du

lịch ngắn, kéo dài từ 2-3 ngày với những lịch trình cụ thể để cộng đồng du lịch có thể

tham khảo theo. Các nhóm chia sẻ kinh nghiệm du lịch xuất hiện rất nhiều trên các

trang mạng xã hội với số lượng thành viên có thể lên đến vài tram nghìn người có thể

kể đến như Checkin Việt Nam, Kinh nghiệm du lịch Thái Lan,… Có rất nhiều bạn trẻ,

đặc biệt là sinh viên nhờ động lực từ những bài viết này, không ngần ngại bắt đầu

chuyến đi của mình bắt đầu từ việc tham khảo những lịch trình của người viết.

- Sinh viên là những người đang trong độ tuổi ln thích trải nghiệm và tìm tòi

sự mới mẻ. Phần lớn trong số họ thay vì du lịch đến một nơi họ đã từng đến thì họ

ln muốn địa điểm sẽ là một nơi mới lạ hơn mà họ chưa từng đặt chân, thậm chí có

thể là nơi mà ít du khách ghé đến. Tuy nhiên do chưa có khả năng kinh tế nên việc

chọn lựa điểm đến của đối tượng này luôn phải đắn đo, cân nhắc. Những chuyến du

lịch với khoảng cách gần hoặc có chi phí rẻ thường được đối tượng này ưu tiên chọn

lựa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×