Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) VÀ CHI NHÁNH SÀI GÒN

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) VÀ CHI NHÁNH SÀI GÒN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Với tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược cổ đơng, nhân viên ACB đồng tâm bám sát

trong suốt hơn 17 năm hoạt động của mình và những kết quả đạt được đã chứng minh

rằng đó là các định hướng đúng đối với ACB. Đó cũng chính là tiền đề giúp Ngân hàng

khẳng định vị trí dẫn đầu của mình trong hệ thống NHTM tại Việt Nam trong lĩnh vực bán

lẻ. Dưới đây là một số cột mốc đáng nhớ của ACB:

- Giai đoạn 1993 - 1995: Đây là giai đoạn hình thành ACB. Những người sáng lập

ACB có năng lực tài chính, học thức và kinh nghiệm thương trường, cùng chia sẻ một

nguyên tắc kinh doanh là “quản lý sự phát triển của doanh nghiệp an toàn, hiệu quả” và đó

là chất kết dính tạo sự đồn kết bấy lâu nay. Giai đoạn này, xuất phát từ vị thế cạnh tranh,

ACB hướng về khách hàng cá nhân và doanh nghiệp trong khu vực tư, với quan điểm thận

trọng trong việc cấp tín dụng, đi vào sản phẩm dịch vụ mới mà thị trường chưa có (cho

vay tiêu dùng, dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union, thẻ tín dụng).

- Giai đoạn 1996 - 2000: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt

Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế MasterCard và Visa. Năm 1997, ACB bắt đầu tiếp cận

nghiệp vụ ngân hàng hiện đại theo một chương trình đào tạo tồn diện kéo dài hai năm, do

các giảng viên nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện. Năm 1999, ACB triển khai

chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng, xây dựng hệ thống mạng diện

rộng, nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt động giao dịch. Năm 2000, ACB đã thực

hiện tái cấu trúc như là một bộ phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên

2000. Cơ cấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ. Ngồi các

khối, còn có một số phòng ban do Tổng giám đốc trực tiếp chỉ đạo. Hoạt động kinh doanh

của Hội sở được chuyển giao cho Sở giao dịch (Tp. HCM). Việc tái cấu trúc nhằm đảm

bảo sự chỉ đạo xuyên suốt toàn hệ thống; sản phẩm được quản lý theo định hướng khách

hàng và được thiết kế phù hợp với từng phân đoạn khách hàng; quan tâm đúng mức việc

phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro.

- Giai đoạn 2001 – 2005: Cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống cơng

nghệ ngân hàng lõi là TCBS (The Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng tồn

diện), cho phép tất cả chi nhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức

thời, dùng chung cơ sở dữ liệu tập trung. Năm 2003, ACB xây dựng hệ thống quản lý chất

lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong các lĩnh

vực (i) huy động vốn, (ii) cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, (iii) thanh toán quốc tế và

(iv) cung ứng nguồn lực tại Hội sở. Năm 2005, ACB và Ngân hàng Standard Charterd

(SCB) ký kết thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật toàn diện; và SCB trở thành cổ đông chiến lược

của ACB. ACB triển khai giai đoạn hai của chương trình hiện đại hóa cơng nghệ ngân

hàng, bao gồm các cấu phần (i) nâng cấp máy chủ, (ii) thay thế phần mềm xử lý giao dịch

thẻ ngân hàng bằng một phần mềm mới có khả năng tích hợp với nền cơng nghệ lõi hiện

có, và (iii) lắp đặt hệ thống máy ATM.

- Giai đoạn 2006 đến 2009: ACB niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán

Hà Nội vào tháng 11/2006. Năm 2007, ACB đẩy nhanh việc mở rộng mạng lưới hoạt

động, thành lập mới 31 chi nhánh và phòng giao dịch, thành lập Cơng ty Cho th tài

chính ACB, hợp tác với các đối tác như Open Solutions (OSI) – Thiên Nam để nâng cấp

hệ ngân hàng cốt lõi, hợp tác với Microsoft về áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành

và quản lý, hợp tác với SCB về phát hành trái phiếu. ACB phát hành 10 triệu cổ phiếu

mệnh giá 100 tỷ đồng, với số tiền thu được là hơn 1.800 tỷ đồng. Năm 2008, ACB thành

lập mới 75 chi nhánh và phòng giao dịch, hợp tác với American Express về séc du lịch,

triển khai dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ JCB. ACB tăng vốn điều lệ lên 6.355 tỷ đồng.

ACB đạt danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2008” do Tạp chí Euromoney trao

tặng tại Hong Kong.

Trang 39



- Riêng trong năm 2009, ACB hồn thành cơ bản chương trình tái cấu trúc nguồn

nhân lực, tái cấu trúc hệ thống kênh phân phối, xây dựng mơ hình chi nhánh theo định

hướng bán hàng. Tăng thêm 51 chi nhánh và phòng giao dịch. Hệ thống chấm điểm tín

dụng đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp cũng đã hoàn thành và áp dụng chính

thức. Hệ thống bàn trợ giúp (help desk) bắt đầu được triển khai. Và lần đầu tiên tại Việt

Nam, chỉ có ACB nhận được 6 giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt nam năm 2009 ” do

6 tạp chí tài chính ngân hàng danh tiếng quốc tế bình chọn (Asiamoney, FinanceAsia,

Global Finance, Euromoney, The Asset và The Banker).

- Tính đến ngày 09/10/2010, ACB nhận được 4 giải thưởng Ngân hàng tốt nhất

Việt Nam 2010. từ các tạp chí tài chính danh tiếng là Asiamoney, FinanceAsia, The Asian

Banker và Global Finance.

2.1.1.3. Thị phần và khả năng cạnh tranh của ACB:

Thị phần tổng tài sản của riêng Ngân hàng ACB so với tổng phương tiện thanh

toán của Ngành ngân hàng đến 30/9/2010 khoảng 7,2%. Bên cạnh đó, thị phần tín dụng

của ACB khoảng 3,87%, tăng 0,33% so với đầu năm và khoảng 0,14% so với cùng kỳ

năm trước; và ACB tiếp tục nắm giữ thị phần tín dụng cao hơn so với các ngân hàng đồng

đẳng. Về huy động tiền gửi khách hàng, thị phần của ACB đến thời điểm 30/09/2010 là

6,5%.

2.1.1.4. Mục tiêu chiến lược:

- Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu

khách hàng và hướng tới khách hàng.

- Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm

bảo cho sự tăng trưởng được bền vững.

- Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an tồn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ

đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính vững

mạnh, có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn chưa hồn

hảo của ngành ngân hàng Việt Nam.

- Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên

nghiệp nhằm đảm bảo q trình vận hành của hệ thống liên tục, thơng suốt và hiệu

quả. Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một cách

xuyên suốt. ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.

- Chiến lược tăng trưởng ngang:

+ Tăng trưởng thông qua mở rộng hoạt động

+ Tăng trưởng thông qua hợp tác, liên minh với các đối tác chiến lược

+ Tăng trưởng thông qua hợp nhất và sáp nhập

- Chiến lược đa dạng hóa

2.1.1.5. Cơ cấu tổ chức

- Bảy khối: Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát triển kinh

doanh, Vận hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin.

- Bốn ban: Kiểm tra – kiểm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính sách và

quản lý tín dụng.

- Bốn phòng: Kế toán, Đầu tư, Quản lý rủi ro và thị trường, Quan hệ đối ngoại.

Trang 40



2.1.1.5.1. Sơ đồ tổ chức

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của ACB



Trang 41



Các

Sở

Giao

Dịch,

Chi

Nhán

h và

Phòn

g

Giao

Dịch



Khối

Khách

Hàng

Cá Nhân



Ban

Đảm

Bảo

Chất

Lượn

g



Trang 42

Ban

Chính

Sách Và

Quản Lý

Tín

Dụng



Ban

Chiến

Lược



Các

Hội

Đồng



Hội

Đồng

Sáng

Lập



Khối

Khách

Hàng

Doanh

Nghiệp



Khối

Ngân

Quỹ



Ban

Tổng

Giám

Đốc



Khối

Phát

Triển

Kinh

Doanh



Hội

Đồng

Quản

Trị



Đại

Hội

Đồng

Cổ

Đơng





đồ

tổ

ch

ức

củ

a

AC

B



Khối

Vận

Hành

Phòn

g

Đầu





Khối

Quản Trị

Nguồn

Lực



Trung

Tâm

Cơng

Nghệ

Thơng

Tin



Phòng

Quản Lý

Rủi Ro

Thị

Trường



Văn

Phòn

g

HĐQ

T



Phòn

g

Quan

Hệ

Đối

Ngoạ

i



Phòn

g

Kế

Tốn



Ban

Kiểm

Tốn

Nội

Bộ



Ban

Kiểm

Sốt



2.1.1.5.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức:

Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của ngân hàng gồm tất cả

các cổ đơng có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần. ĐHĐCĐ quyết định

những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Ngân hàng quy định. ĐHĐCĐ thông qua các báo

cáo tài chính hàng năm của Ngân hàng và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, bầu miễn

nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát của Ngân

hàng...

 Hội đồng quản trị: Do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan Quản trị ngân hàng, có tồn

quyền nhân danh ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi

của ngân hàng trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ mà khơng được ủy

quyền. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ quyết định chiến lược phát triển ngân hàng, xây

dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý ngân

hàng, đưa ra các biện pháp, các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu do ĐHĐCĐ đề ra.

 Ban kiểm soát: Do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của

ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động của hệ thống

kiểm tra và kiểm toán nội bộ của ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo

cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của ngân hàng.

 Các Hội đồng: Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị

ngân hàng, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh; đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an

toàn và đúng mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, ngân hàng có 04 Hội đồng, bao gồm:

- Hội đồng nhân sự có chức năng tư vấn cho Hội đồng quản trị các vấn đề về chiến

lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực của ngân hàng để phát huy cao nhất sức mạnh

của nguồn nhân lực, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu phát triển của ngân hàng.

- Hội đồng tín dụng có chức năng xét cấp tín dụng, phê duyệt hạn mức tiền gửi của

ngân hàng tại các tổ chức tín dụng khác, phê duyệt việc áp dụng biện pháp xử lý nợ và

miễn giảm lãi; quyết định về chính sách tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên tồn hệ

thống.

- Hội đồng đầu tư có chức năng thẩm định các dự án đầu tư và đề xuất ý kiến cho

cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.

- Hội đồng ALCO có chức năng quản lý cấu trúc bảng tổng kết tài sản của Ngân

hàng, xây dựng và giám sát các chỉ tiêu tài chính, tín dụng phù hợp với chiến lược kinh

doanh của ngân hàng.

 Tổng giám đốc: Do HĐQT bổ nhiệm, là người chịu trách nhiệm trước HĐQT và

trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Giúp việc cho Tổng Giám đốc là

các Phó Tổng Giám đốc, các Giám đốc khối, Kế tốn trưởng và bộ máy chun mơn

nghiệp vụ.

2.1.1.6. Các dự án phát triển hoạt động kinh doanh đang thực hiện

2.1.1.6.1. Trung tâm ATM: Đến 30/09/2010, ACB đã lắp đặt 363 máy ATM. Theo

kế hoạch đến năm 2010, ACB sẽ có ít nhất 400 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc.

Việc triển khai phát hành và thanh toán bằng thẻ ATM sẽ góp phần phổ cập phương tiện

thanh tốn khơng dùng tiền mặt. Với những tính năng ưu việt, thẻ thanh tốn sẽ dần điều

chỉnh thói quen sử dụng tiền mặt trong cộng đồng dân cư.

2.1.1.6.2. Mở thêm công ty trực thuộc: Tháng 4 năm 2009, HĐQT Ngân hàng Á

Châu đã đồng ý chủ trương thành lập công ty trực thuộc là Cơng ty TNHH một thành viên

Tài chính Ngân hàng Á Châu trên cơ sở xem xét các yếu tố sau:

Trang 43



- Thị trường tài chính đối với phân đoạn khách hàng thu nhập thấp, trung bình là

thị trường có rất nhiều tiềm năng vì khối lượng khách hàng được đánh giá là khá lớn.

- Đây là hoạt động rủi ro cao nhưng nếu quản lý tốt thì hiệu quả kinh doanh cũng

sẽ cao.

- Với tư cách là ngân hàng bán lẻ, ACB có kinh nghiệm nhất định đối với việc triển

khai các sản phẩm phục vụ cho phân đoạn đối tượng này trong thời gian vừa qua.

- Cần phải có cơng ty quản lý riêng để chun mơn hóa và tránh phân tán nguồn

lực của ACB đối với hoạt động kinh doanh có rủi ro đặc thù này.

Ngồi ra, tháng 4 năm 2009, HĐQT Ngân hàng Á Châu cũng đã đồng ý chủ trương

thành lập công ty trực thuộc là Công ty TNHH Một thành viên Kinh doanh vàng Ngân

hàng Á Châu nhằm đảm bảo tính độc lập trong hoạt động kinh doanh vàng mang thương

hiệu ACB.

2.1.1.6.3. Mở rộng mạng lưới hoạt động: Theo kế hoạch đến cuối năm 2010, ACB

sẽ có 285 chi nhánh và phòng giao dịch tại 36 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Và trong

năm 2011, ACB dự kiến sẽ tiếp tục mở thêm 95 đơn vị nâng tổng số lượng chi

nhánh/phòng giao dịch lên 380.

2.1.1.7. Vị thế hiện tại và mục tiêu nhắm đến của ACB đến 2010-2015:

ACB đang có vị trí dẫn đầu trong khối các NHTMCP, hiện nay ACB là ngân hàng

có tốc độ tăng trưởng cao nhất ngành, có tổng tài sản lớn nhất trong khối NHTMCP và thứ

5 trong ngành (sau 4 NHTMNN).

Mục tiêu của ACB là tiếp tục giữ vị thế hàng đầu trong khối NHTMCP trong suốt

5 năm tiếp theo ở các chỉ tiêu: tăng trưởng (phấn đấu cao hơn 2 lần so với tốc độ tăng

trưởng bình qn của ngành), chỉ số tài chính (duy trì ở mức an tồn cao, trong đó ROE

cần đạt 25% đến 30%), chất lượng tài sản có, quản lý rủi ro theo thông lệ tốt nhất, các chỉ

tiêu tăng trưởng bền vững, hệ thống sản phẩm và kênh phân phối đa dạng, chất lượng dịch

vụ tốt. ACB sẽ tiếp tục là NHTMCP có quy mơ tổng tài sản lớn nhất trong khối NHTMCP

và dần rút ngắn khoảng cách đối với các NHTMNN. Nếu các NHTMNN tiếp tục tăng

trưởng bình quân như các năm vừa qua và ACB duy trì tốc độ tăng trưởng cao gấp 1,6 lần

tốc độ tăng trưởng chung của ngành (tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của ngành ngân hàng

Việt Nam 2010-2015 dự kiến khoảng 22%), thì sau đến năm 2015 ACB có thể trở thành

đuổi kịp một NHTMNN về quy mô. Tăng trưởng bền vững, mà trước hết là nguồn vốn

huy động, là mục tiêu quan trọng nhất trong vòng 5 năm tới của ACB.

Tăng trưởng đối với ACB là nắm bắt thị phần mục tiêu bao gồm dân cư, các doanh

nghiệp vừa và nhỏ, bởi các thành phần kinh tế này có tiềm năng thu nhập và tăng trưởng

cao nhất và sẽ ngày càng đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc tăng trưởng kinh tế.

Dự kiến tới năm 2015 tổng tài sản của ACB sẽ đạt 34.5 tỷ USD (với tỷ giá bình quân năm

2015 dự kiến là 24.887). Tổng tài sản của ACB khi đó đòi hỏi một nguồn vốn tối thiểu (để

đảm bảo hệ số an toàn vốn CAR = 8%) đối ứng vào khoảng 38,400 tỷ đồng (trên 1.5 tỷ

USD), nếu tỷ lệ và cơ cấu cho vay của ACB như hiện nay. Quy mô này tương đương quy

mô của ngân hàng khu vực và giúp ACB có đủ năng lực cạnh tranh sau khi ngành tài

chính ngân hàng Việt Nam hoàn toàn mở cửa.

2.1.1.8. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ACB những năm gần đây

2.1.1.8.1. Tình hình hoạt động của ACB những năm gần đây:

Trong 17 năm hoạt động, ACB luôn giữ vững sự tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định.

Điều này được thể hiện bằng các chỉ số tài chính tín dụng của ACB qua các năm như sau:

Trang 44



 Tổng tài sản:

Với thời gian hoạt động mới hơn 17 năm, đây chưa phải là một thời gian dài đối

với hoạt động của một doanh nghiệp nhưng với sự dẫn dắt của một đội ngũ lãnh đạo giỏi

và đội ngũ nhân viên trẻ năng động, vững chuyên môn, Ngân hàng ACB đã không ngừng

phát triển, dần khằng định mình là một trong những ngân hàng dẫn đầu trong khối

NHTMCP. Biểu đồ sau thể hiện sự tăng trưởng trong tổng tài sản của ACB trong những

năm gần đây.

Bảng 2.1: Tăng trưởng tổng tài sản qua các năm

(ĐV tính: triệu đồng)

Chỉ tiêu



Năm 2007



Tổng tài sản



Năm 2008



Năm 2009



105,306,

130



85.391.681



Năm 2010



167,881,

047



205,102,

950



(Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng ACB từ 2007 đến năm 2010)



Biểu đồ thể hiện Tổng tài sản của ACB từ 2007 – 2010

Qua biểu đồ trên, nhận thấy tổng tài sản của ACB đã có sự tăng trưởng đều qua các

năm. Trong năm 2008 và 2009, tuy là những năm kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế tồn

cầu bị ảnh hưởng nặng nề của suy thối kinh tế, lạm phát tăng cao, nhiều ngân hàng lớn

trên thế giới bị phá sản thì Ngân hàng ACB vẫn đạt được sự tăng trưởng tương đối cao.

Điều này khẳng định sức mạnh và vị thế của ACB đối với nền kinh tế và sự tin tưởng của

khách hàng.

 Phân tích tình hình huy động vốn:

Với vị thế của một ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam, cùng việc hoạt động kinh

doanh ổn định, hiệu quả trong thời gian qua, Ngân hàng ACB đã tạo được sự tin tưởng

của khách hàng thể hiện thông qua chỉ tiêu vốn huy động không ngừng tăng lên qua các

năm. Chi tiết tăng trưởng vốn huy động của ACB được thể hiện thông qua biểu đồ sau:

Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn

(ĐVT: triệu đồng)

Chỉ tiêu



Năm 2007

Giá trị



Tỷ



Năm 2008

Giá trị

Trang 45



Tỷ



Năm 2009

Giá trị



Năm 2010

Tỷ



Giá trị



Tỷ



trọng



trọn

g



trọng



trọng



Vay NHNN



65,463



0.09



0



0.00



10,258,943



7.63



9,451,667



5.16



Tiền gửi và

tiền vay từ

các TCTD

khác



6,994,030



9.41



9,901,891



10.86



10,449,828



7.77



28,129,963



15.36



Tiền gửi của

khách hàng



55,283,10

4



74.35



64,216,94

9



70.43



108,991,74

8



81.0

3



106,936,61

1



58.39



Vốn tài trợ,

ủy thác đầu

tư, cho vay



-



0.00



0



0.00



270,304



0.20



379,768



0.21



Cơng cụ tài

chính phái

sinh và các

khoản nợ tài

chính khác



322,512



0.43



298,865



0.33



23,351



0.02



Trái phiếu

(chuyển đổi)

và chứng chỉ

tiền gửi



11,688,79

6



15.72



16,755,82

5



18.38



4,510,000



3.35



38,234,151



20.88



Cộng



74,353,90

5



100



91,173,53

0



100



134,504,17

4



100



183,132,16

0



100



-



(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Ngân hàng ACB năm2008, 2010)

Qua bảng số liệu trên, ta thấy vốn huy động của ACB liên tục tăng qua các năm,

đặc biệt tăng nhanh trong giai đoạn 2008 – 2009, vốn huy động đã tăng 43,330,644 triệu

đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 47.5%. Sang năm 2010, thì nguồn vốn huy động tiếp tục

tăng lên 48,627,986 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 36.2%.

Trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng qua các năm thì nguồn vốn huy

động từ tiền gửi khách hàng cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất . năm 2009 là năm mà

tỷ trọng tiền gửi khách hàng cá nhân chiếm cao nhất (81.03%). Nguyên nhân chính vẫn do

ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, lạm phát đã làm cho nền kinh tế việt nam bị

chững lại. Thị trường địa ốc bất động sản đóng băng, kinh doanh và đầu tư khó khăn dẫn

đến các khách hàng chỉ muốn gửi tiền tiết kiệm an toàn và hưởng lãi suất cao vì thời kỳ

này lãi suất tiền gửi tiết kiệm tăng lên đến 17 – 18%. Điều đó, làm cho tiền gửi khách

hàng tăng lên 69.7% trong năm 2009. Tuy nhiên, đến năm 2010 tiền gửi của khách hàng

trong nước là 106.936 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 58.39% trong nguồn vốn huy động của

ACB, đã giảm xuống 48,627,986 triệu đồng so với năm 2009, tương tứng với tỷ lệ giảm là

36.1%. Nguyên nhân chính là do, việc huy động vốn từ tiền gửi khách hàng trong các

tháng đầu năm 2010 và tác động việc điều chỉnh chính sách đảm bảo các tỷ lệ an tồn theo

Thơng tư 13 thì nhu cầu vốn từ thị trường cấp 2 trở nên cần thiết hơn so với năm trước đối

với tất cả các ngân hàng, không loại trừ ACB. Tỷ trọng nguồn vốn từ thị trường cấp 2 của

ACB trên tổng nguồn vốn huy động là khoảng 17%.

Trang 46



0.00



Số tiền vay từ NHNN, số dư cuối năm 2009 của ACB là 10,257 tỷ đồng, chiếm tỷ

trọng 7.63%. Tỷ trọng này đến năm 2010 giảm xuống còn 5.16%. Tiền gửi và tiền vay của

các TCTD khác tăng, cụ thể là đầu năm 2010 10.449 tỷ đồng, thì đến cuối năm 2010 là

28,130 tỷ đồng, nâng tỷ trọng từ 7.77% lên 15.36%. Các khoản vốn ACB nhận được từ

Chính phủ, các tổ chức quốc tế và tổ chức khác đến năm 2010 đạt 379,768 triệu đồng.

Chủ yếu là từ các tổ chức quốc tế tài trợ cho các dự án của Chính phủ. Khoản vốn này

chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 0.21%) trong tổng vốn huy động của ACB và phần chênh lệch

tăng/giảm không đáng kể qua các năm. Từ việc phân tích các số liệu qua các năm, cho

thấy ACB ln duy trì được nguồn vốn huy động đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ

tăng trưởng của ngành.

 Tình hình sử dụng vốn:

Hoạt động tín dụng của ACB trong các năm qua luôn đạt mức tăng trưởng tốt. Tính

đến cuối năm 2010, tổng dư nợ cho vay của ACB (bao gồm dư nợ cho vay tổ chức tín

dụng) đạt 87,195 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2005-2010 là

59.8%. Các sản phẩm của ACB đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi thành phần kinh tế,

cung cấp nhiều sản phẩm tín dụng như cho vay bổ sung vốn lưu động, tài trợ và đồng tài

trợ các dự án đầu tư, cho vay sinh hoạt tiêu dùng, cho vay sửa chữa nhà, cho vay mua

nhà…

Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn theo loại hình cho vay của ACB:

(ĐVT: triệu đồng)

Năm 2008

Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



15,937,627



45.75



35,618,575



50.96



43,889,956



50.34



Cho vay trung và dài

17,532,288

hạn



50.33



10,837,709



15.51



19,870,669



22.79



Cho vay đồng tài trợ



1,362,785



3.91



23,434,480



33.53



23,434,480



26.88



Cho vay từ nguồn tài

trợ chính phủ, các tổ

chức quốc tế và tổ

chức khác



-



-



-



-



-



-



Các khoản nợ chờ xử





-



-



-



-



-



-



Cộng



34,832,700



100



69,890,764



100



87,195,105



100



Cho vay ngắn hạn



(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2009, 2010)

Theo số liệu phân tích trên, có thể chỉ cho ta thấy loại hình cho vay chủ yếu của

ACB là cho vay ngắn hạn. Đây cũng là định hướng chính sách tín dụng trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng ACB. Tính đến thời điểm 30/12/2010, thì cho vay ngắn hạn đạt

mức 43.89 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng trên 50,3% tổng dư nợ cho vay của ACB. Nguyên nhân

do các khoản tín dụng trong ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống) chủ yếu là giành cho các

doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và một phần dành cho khách hàng cá nhân. Vì đây là

các nhóm khách hàng có số lượng lớn, và quan hệ tín dụng nhiều với ACB. Như chúng ta

biết, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động của các doanh

nghiệp gặp phải chuyện thiếu hụt, đặc biệt là trong năm 2008 – 2010, những năm mà cơn

bão tài chính tồn cầu đang hồnh hành thì thì việc thiếu hụt nguồn vốn lưu động để duy

Trang 47



trì hoạt động kinh doanh là tất yếu. Trong khi đó, nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu này cho

doanh nghiệp chính là nguồn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Hiện nay, nước ta đã và

đang quá trình cơng nghiệp hóa, tốc độ phát triển kinh tế đạt ở mức cao và đang trong quá

trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp lại cần

thiết hơn bao giờ hết. vì vậy, dư nợ cho vay ngắn hạn ở mức tương đối cao là điều tất

nhiên.

Trong khi đó, tỷ lệ cho vay trung dài hạn tương đối thấp (15.51 – 22.79% / tổng dư

nợ). Đặc trưng của những khoản tín dụng trung và dài hạn là nhằm mục đích đầu tư tài sản

cố định và thực hiện dự án đầu tư. Vì lẽ đó mà thời gian thu hồi vốn sẽ dài, vòng quay vốn

chậm. Điều này thì lại khơng phù hợp với điều kiện kinh tế đang bị suy thoái, lạm phát

làm cho các doanh nghiệp kinh doanh, đầu tư rất khó khăn. Vì vậy mà tỷ lệ vay vốn trung

dài hạn của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là rất thấp.

Thời gian cho vay dự án kéo dài, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động, nên

ngân hàng phải chịu rủi ro cho vay rất cao, chi phí thẩm định, quản lý khoản vay lớn và

phức tạp hơn nhiều so với vay ngăn hạn. Thêm vào đó, lãi suất thị trường cho vay thay đổi

liên tục làm cho ngân hàng gặp khơng ít khó khăn, lãi suất trên thị trường hạ thì khách

hàng trả nợ sớm. Vì vậy, ngân hàng khơng thể chủ động trong việc lên kế hoạch để sử

dụng nguồn vốn đó. Nếu lãi suất tăng thì ngân hàng phải lỗ do trả chi phí huy động vốn

cao mà cho vay với lãi suất thấp.

Khi huy động tiền gửi khách hàng, thì tiền gửi khách hàng ngắn hạn thường chiếm

tỷ trọng cao hơn tiền gửi trung và dài hạn vì lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn thường

cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn. Đồng thời, khi ngân hàng sử dụng

nguồn vốn ngắn hạn mà tài trợ cho vay ngắn hạn thì đó là một chiến lược đúng đắn vì nó

đảm bảo được khả năng thanh khoản của ngân hàng đồng thời, giảm thiểu rủi ro trong

thanh khoản có thể xảy ra. Mặt khác, khi cho vay trung và dài hạn thì rủi ro xảy ra cũng

rất lớn, nếu lãi suất cho vay trung và dài hạn mà tăng thì có lợi cho ngân hàng (hưởng lãi

cho vay cao) nhưng trường hợp lãi suất cho vay giảm thì ngân hàng sẽ thiệt hại rất lớn

(khơng đủ bù đắp nguồn vốn huy động). Mặt khác, nếu ngân hàng mà sử dụng vốn huy

động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn thì rủi ro trong thanh khoản là rất lớn. Vì vậy,

dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất cũng là một dấu hiệu tốt đảm bảo tính

thanh khoản cho ngân hàng.

Loại hình cho vay chiếm tỷ trọng lớn thứ hai là cho vay đồng tài trợ. Đây là loại

hình cấp tín dụng trung và dài hạn cho những dự án đầu tư cần quy mơ nguồn vốn vay lớn

mà mình ACB thì khơng được phép cấp tín dụng hồn tồn mà cần phải có sự phối hợp

cùng với một ngân hàng khác, nhằm chia sẻ khoản cấp tín dụng và rủi ro tín dụng khi xảy

ra. Loại hình cho vay này thường giành cho các khách hàng là các doanh nghiệp lớn hay

các tập đồn vì họ thường có nhiều dự án đầu tư với quy mô lớn nên cần các khoản cấp tín

dụng lớn. Vì vậy, mà dư nợ cho vay đồng tài trợ cũng tương đối cao và ổn định qua các

năm.

Bảng 2.4: Bảng phân tích số liệu sử dụng vốn theo ngành nghề kinh doanh của ACB:

(ĐVT: triệu đồng)

Năm 2010

Chỉ tiêu

Thương mại

Nông, lâm nghiệp



Năm 2009



Năm 2008



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



27,617,019



31.67



19,831,560



31.80



8,175,846



23.47



249,095



0.29



166,870



0.27



221,790



0.64



Trang 48



Sản xuất và gia

công chế biến



13,516,938



15.50



11,266,591



18.07



4,514,346



12.96



Xây dựng



3,570,687



4.10



2,373,316



3.81



946,652



2.72



Dịch vụ cá nhân và

cộng đồng



33,421,670



38.33



22,939,329



36.79



17,709,042



50.84



Kho bãi, giao

thông vận tải và

thông tin liên lạc



2,606,580



2.99



1,756,208



2.82



739,817



2.12



Giáo dục và đào

tạo



80,160



0.09



31,255



0.05



2,595



0.01



Tư vấn và kinh

doanh bất động sản



1,276,296



1.46



519,614



0.83



608,307



1.75



Nhà hàng và khách

sạn



1,474,081



1.69



997,745



1.60



493,586



1.42



667,142



0.77



630,766



1.01



4,300



0.01



Các ngành nghề

khác



2,715,437



3.11



1,844,724



2.96



1,416,419



4.07



Cộng



87,195,105



100



62,357,978



100



34,832,700



100



Dịch vụ tài chính



(Nguồn : Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2009, 2010 của ACB)

Theo số liệu từ bảng phân tích trên cho thấy, ACB chủ yếu cho vay dịch vụ cá nhân

và cộng đồng với dư nợ vay khoảng 33.5 tỷ đồng (2010), chiếm tỷ trọng khoảng 38%. Từ

đây có thể thấy rằng, chiến lược phát triển của ACB chủ yếu là đánh mạnh vào cho vay

dịch vụ cá nhân và cộng đồng và xếp thứ hai là cho vay thương mại.

Dựa vào bảng thống kê ta thấy: ngân hàng cho vay mở rộng đối với tất cả các

ngành nghề. Dư nợ cho vay ở các ngành nghề qua ba năm đều có sự tăng trưởng cao.

Nguyên nhân là do có sự phát triển và tăng trưởng của kinh ế đất nước nói chung và thành

phố Hồ Chí Minh nói riêng kéo theo sự tăng trưởng và phát triển các ngành nghề. Thành

phố Hồ Chí Minh luôn là đầu tàu kinh tế của cá nước, tạo nên nhiều điều kiện ưu đãi cũng

như cơ hội làm ăn cho các doanh nghiệp.

Trong tổng dư nợ cho vay, thì lĩnh vực dịch vụ cá nhân và cộng đồng; thương mại

chiếm tỷ trọng tương đối cao, còn lại là các ngành sản xuất và gia công chế biến ; xây

dựng và các ngành khác. Điều này phản ánh đúng thực trạng tình hình kinh tế của nước ta,

bởi lẽ các nhóm ngành như: Dịch vụ tài chính; Tư vấn và kinh doanh bất động sản; Nhà

hàng và khách sạn; Nông, lâm nghiệp...mới phát triển ở nước ta trong những năm gần đây,

thời gian thu hồi vốn khá dài, đòi hỏi khả năng quản trị. Cụ thể, dư nợ của ngành “Dịch vụ

cá nhân và cộng đồng” năm 2008 đạt chiếm 17,709,042 triệu đồng, chiếm 50.84% tổng dư

nợ, tiếp tục dẫn đầu về tỷ trọng cho vay qua các năm. Trong khi đó, dư nợ của ngành Kho

bãi, giao thơng vận tải và thơng tin liên lạc còn hạn chế, dao động trong khoảng 2.12 2.99% trong tỷ trọng cho vay.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, tỷ trọng cho vay trong tổng dư nợ của ngành tư vấn và

kinh doanh bất động sản đang có chiều hướng giảm dần vì đây là một ngành dịch vụ mới

phát triển ở nước ta trong hai ba năm trở lại đây. Có thể nói, đây là một ngành mới xuất

hiện ở việt nam nhưng số lượng kinh doanh rất đông đảo. Tuy nhiên quy mơ các cơng ty

còn nhỏ lẻ và kinh doanh chưa chuyên nghiệp. Mặt khác, đây được hiểu là ngành nghề

Trang 49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) VÀ CHI NHÁNH SÀI GÒN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×