Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số kiến nghị.

3 Một số kiến nghị.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà Nước.

Trong tình hình hiện nay, khi mà hệ thống ngân hàng Việt Nam thể hiện những bất

cập và hạn chế trong vai trò điều phối vốn cho nền kinh tế, thì việc tái cơ cấu hệ

thống ngân hàng là điều cần thiết và bắt buộc nếu muốn nền kinh tế vượt dạy. Theo

giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng: “cải cách khu vực này là phải

giải quyết các vấn đề mang tính cơ cấu, làm sao để hệ thống ngân hàng Việt Nam có

đủ vốn, đáng tin cậy, hoạt động nghiêm túc, giảm nợ xấu và các nguy cơ rủi ro được

quản lý trên cơ sở vững chắc”. Các nhà tài trợ cho rằng hệ thống ngân hàng Việt

Nam cần nâng cấp các tiêu chuẩn lên cho ngang bằng với tiêu chuẩn quốc tế, đặc

biệt là hệ thống kế toán và kiểm tốn minh bạch.

Thêm vào đó, Ngân hàng nhà nước cần thống nhất nhận thức và nhất quán trong

thực hiện chính sách tài chính với tầm nhìn vĩ mơ dài hạn.

Trong giai đoạn này, cần chủ động xây dựng một hệ thống các chỉ số và giới hạn có

tính cảnh báo trước các cạm bẫy và nguy cơ rủi ro cao cần phòng tránh như những

lĩnh vực các ngân hàng thương mại khơng nên cho vay thêm vì rủi ro cao hoặc đã

đến ngưỡng và giới hạn cho vay đối với một ngành, một vùng cụ thể để phân tán rủi

ro.

CIC- trung tâm thơng tin tín dụng là tổ chức cung cấp thơng tin tình hình dư nợ và

lịch sử vay vốn của doanh nghiệp tại các ngân hàng thành viên. Trong giai đoạn tới,

CIC cần phải tăng cường nguồn thơng tin phi tài chính khác như: năng lực quản lý

của đội ngũ lãnh đạo, chuyên môn của nhân viên, tình hình kỹ thuật cơng nghệ của

doanh nghiệp,… mà những thông tin này rất cần thiết cho ngân hàng trong việc

đánh giá, thẩm định khách hàng vay vốn.

NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ để khắc phục kịp thời

những tổn thất trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng, đặc biệt tăng cường

công tác kiểm tra tại chỗ. Do đó, cần xây dựng chuẩn mực thanh tra giám sát, thiết

lập quy trình thanh tra giám sát hiệu quả, chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc quy trình

đã đặt ra trên cơ sở phối hợp đồng bộ với hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ

NHTM. NHNN cần hoàn thiện phương thức thanh tra, giám sát từ xa nhằm phân

tích, đánh giá và cảnh báo tình trạng hoạt động và tình trạng rủi ro của các tổ chức

67



tín dụng. Bên cạnh đó, NHNN tiến hành thanh tra đột xuất đối với hoạt động chung

và trọng tâm là hoạt động cho vay của các NHTM.

Bên cạnh thanh tra giám sát hoạt động của các NHTM, NHNN cần có các biện pháp

xử lý mạnh tay đối với các NHTM vi phạm quy chế cho vay và an toàn trong ngân

hàng để răn đe.

Một trong những biện pháp nhằm tái cơ cấu các ngân hàng hiện nay mà NHNN sử

dụng là sát nhập các ngân hàng yếu kém và nhỏ lẻ thành một ngân hàng lớn. Tuy

nhiên, việc hợp nhất này thực sự có hiệu quả khơng khi mà thực chất hoạt động và

cơ cấu tổ chức dường như không thay đổi lớn và các khoản nợ xấu chỉ sát nhập lại.

Trong thời gian tới, Ngân hàng nhà nước cần tham chiếu các tổ chức tư vấn tài

chính thế giới để học hỏi thêm kinh nghiệm tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nước bạn

và lựa chọn giải pháp tối ưu nhất phù hợp với tình hình hiện nay.

Ngân hàng Nhà nước cần khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các NHTM chuyển

dịch theo hướng cung cấp dịch vụ, thay vì cho vay tín dụng như hiện nay.



Kết luận chương 3

Qua phân tích thực trạng tín dụng, thực trạng rủi ro tín dụng và thực trạng quản lý

rủi ro tín dụng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ở chương 2. Chương 3 đã đưa ra

một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh

Vượng. Đồng thời giúp ngân hàng hoàn thiện hơn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

của mình. Từ đó có thể giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng, hạn chế

những rủi ro trong quá trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn rất tiềm năng

nhưng rủi ro này.

Ngoài ra, chương 3 còn đưa ra những kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước và

chính phủ nhằm hồn thiện cơ chế quản lý trên lĩnh vực tài chính ngân hàng và có

những cải biến hợp lý để hệ thống ngân hàng ở Việt Nam cơ cấu lại theo hướng tốt

nhất và hiệu quả nhất, thanh lọc các ngân hàng yếu kếm và từng bước hoàn thiện hệ

thống ngân hàng để có đủ tiềm lực và vật lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế trong lĩnh vực ngân hàng.

68



Kết luận

Nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa các luồng

tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng và khiến cho hoạt động kinh

doanh ngân hàng trở nên phức tạp hơn. Thực tế đó, đòi hỏi hệ thống các NHTM

phải có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản trị rủi ro, trong đó nhấn

mạnh là quản trị rủi ro tín dụng do hoạt động này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kinh

doanh ngân hàng. Việc ngân hàng đương đầu với rủi ro tín dụng là điều không thể

tránh khỏi được. Vấn đề là làm thế nào hạn chế rủi ro này ở mức tỷ lệ chấp nhận

được.

Là một trong những thương hiệu quốc gia hàng đầu, VPBank đang có những bước

chuyển mình trong cơng tác quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng hướng đến các chuẩn

mực quốc tế nhằm từng bước an toàn hóa hoạt động tín dụng, tạo bàn đạp cho sự

phát triển vững mạnh, chắc chắn của ngân hàng. Theo mục tiêu đặt ra, VPBank

phấn đấu đến năm 2015 sẽ phấn đấu trở thành 1 trong 5 ngân hàng thương mại hàng

đầu Việt Nam, cũng như hồn thiện cơng tác quản trị rủi ro tín dụng.

Với những giải pháp mà tác giả đã đề xuất trong đề tài có thể ứng dụng vào thực tế

và góp phần hồn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ

tại VPBank nhằm giúp cho VPBank phát triển bền vững và an toàn trong điều kiện

cạnh tranh gay gắt hiện nay. Do thời gian thực tập không nhiều, cũng như kiến thức

hạn hẹp của bản than, khoá luận tốt nghiệp khơng tránh khỏ những sai sót, rất mong

nhận được những đóng góp q báu của q thầy cơ và các anh chị phòng Quan hệ

khách hang doanh nghiệp vừa và nhỏ- Chi nhánh Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP

Việt Nam Thịnh Vượng.

Em xin chân thành cảm ơn.



69



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số kiến nghị.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×