Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Hoàn thiện quy trình trồng nấm ăn và nấm dược liệu trờn bó sắn trước và sau khi lên men thu enzyme

2 Hoàn thiện quy trình trồng nấm ăn và nấm dược liệu trờn bó sắn trước và sau khi lên men thu enzyme

Tải bản đầy đủ - 0trang

trồng nấm sò, hơn nữa lại rẻ tiền, dễ kiếm và phổ biến ở các vùng nông thôn

nước ta. Đặc biệt, phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa

phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sơng

ngòi gõy tắc nghẽn dòng chảy, gõy ơ nhiễm mơi trường. Đõy là nguồn tài

nguyên rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm khơng những

tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm được

chuyển sang làm phõn bún hữu cơ tạo thêm độ phì nhiêu cho đất. Do đó,

phối trộn rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất trồng nấm sò góp phần tăng hàm

lượng cellulose trong cơ chất, đồng thời tạo độ thơng thống cho cơ chất,

tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò, rút ngắn thời gian

nuôi sợi. Nếu thành công trong hướng nghiên cứu này, sẽ tận dụng đáng kể

nguồn phế phụ phẩm gõy ô nhiễm môi trường, đồng thời nõng cao năng suất

trồng nấm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

3.2.1.1 Phương pháp xử lý nguyên liệu

Dựa theo kết quả của N.V.Quyết, chúng tôi đưa ra phương pháp xử lý

hai loại nguyên liệu như sau:

Bã sắn các loại đã phơi khô, được bổ sung thêm CaCO 3 (bột nhẹ) với

tỷ lệ 2% (tức là 200g bột nhẹ/ 10kg nguyên liệu) trộn đều, sau đó được bổ

sung thêm nước để đạt độ ẩm 59,5 - 61,3% (tương đương với 12 - 13kg

nước/10kg nguyên liệu). Có thể kiểm tra độ ẩm bằng cách: nắm nguyên liệu

vào tay, sau đó bỏ tay ra nếu nguyên liệu tự rời nhau là được. Trong trường

hợp độ ẩm cao quá hoặc thấp quá thì cần phải chỉnh lại độ ẩm cho thật

chuẩn. Nếu độ ẩm cao quá, lượng tinh bột cũn lại trong bã tương đối lớn, sau

khi thanh trùng tinh bột sẽ bị hồ hố hồn tồn, tăng độ nhớt, khả năng lưu

thơng khí trong bịch giảm, làm sợi nấm phát triển kém và khả năng bị nhiễm

nấm cao. Nếu độ ẩm thấp quá, hệ sợi nấm phát triển nhanh nhưng ra quả thể

kém, chất lượng quả thể không tốt biểu hiện quả thể bé, cuống quả thể dài,



49



khi ăn rất dai, và hệ sợi nhanh bị lóo hoá ảnh hưởng đến năng suất và chất

lượng quả thể nấm ở những lần ra sau.

Đối với rơm rạ: chặt ngắn 10 - 15cm, ngõm trong nước vôi 15 - 20

phút vớt ra để ráo nước, ủ lại 1 - 2 ngày, sao cho độ ẩm đạt khoảng 65%, khi

đó rơm rạ có màu vàng tươi là được.

Bã sắn sau khi tạo ẩm và rơm rạ sau khi ủ được đem hấp khử trùng

trong nồi áp suất ở áp suất 1 atmotphe, nhiệt độ 121 0C, thời gian 60 phút. Để

nguội, phối trộn rơm rạ và bã sắn theo những tỷ lệ nhất định. Đóng bịch vào

túi nilon chịu nhiệt kích thước 25 ì 35cm, trọng lượng mỗi bịch 1,2 - 1,5kg,

đem hấp khử trùng lần 2 tương tự như lần 1. Sau khi hấp xong lấy bịch nấm

ra để nguội và cấy giống trong phòng cấy giống vơ trùng.

3.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng rơm rạ bổ sung lên sự sinh

trưởng và phát triển của nấm sò.

Để tiến hành thí nghiệm này, chúng tơi đã phối trộn rơm rạ vào bã sắn

theo những tỷ lệ khác nhau và chia lơ thí nghiệm để tiện cho việc theo dừi.

Mỗi lơ thí nghiệm gồm 15 bịch nấm. Mục đích của thí nghiệm này là nhằm

tỡm ra một tỷ lệ phối trộn phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm

sũ trên cơ chất bã sắn là chủ yếu, chứ khơng phải trên rơm rạ. Do đó, chúng

tơi đã tiến hành phối trộn tỷ lệ rơm rạ/bó sắn từ 5 - 25% với bước nhảy là 5%,

như trình bày dưới đây.

 Ni cấy nấm sò trờn cơ chất bã sắn sau lên men thu enzyme

Thí nghiệm được bố trí làm 7 lô. Mỗi lô gồm 15 bịch, mỗi bịch có

trọng lượng 1,2 - 1,5kg (nước, khống, rơm rạ và bã sắn đã được tạo ẩm và

hấp thanh trùng) tương đương với khối lượng nguyên liệu bã sắn khô trong

một bịch là 600 – 700g và 50 – 200g rơm rạ. Các bịch được cấy giống đều

trên bề mặt và được nuôi trồng trong cùng điều kiện.

Lô 1: 100% cơ chất là bã sắn sau lên men

Lô 2: 5% rơm rạ và 95% bã sắn sau lên men



50



Lô 3: 10% rơm rạ và 90% bã sắn sau lên men

Lô 4: 15% rơm rạ và 85% bã sắn sau lên men

Lô 5: 20% rơm rạ và 80% bã sắn sau lên men

Lô 6: 25% rơm rạ và 75% bã sắn sau lên men

Lô 7: 100% cơ chất là rơm rạ

Đánh giá thí nghiệm dựa trên các kết quả theo dõi về: Sự sinh trưởng

và phát triển của hệ sợi nấm sò qua các khoảng thời gian khác nhau cho đến

khi xuất hiện quả thể, số lượng và đặc điểm quả thể tạo ra trên một vết rạch

bịch, cũng như tính tốn đến năng suất và hiệu quả kinh tế ... Kết quả thí

nghiệm được túm tắt trong bảng 3-2 và hình 3-1.

Bảng 3-2. Ảnh hưởng của hàm lượng rơm rạ bổ sung vào bã sắn sau lên

men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò

Lơ TN



1



2



3



4



Sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò qua

những khoảng thời gian ni trồng (ngày)



Số lượng quả thể trong

một vết rạch bịch



5



10



15



Hệ sợi lên

chậm,



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, đám

sợi có màu trắng

đục, ăn sâu gần

2/3 bịch



Sợi nấm đã ăn kín

bịch, tiến hành

rạch bịch



Quả thể lần đầu đều, lần

sau rất ít và nhỏ, một số

bịch khơng ra quả thể

(hình: 3-1A)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, ăn

sâu 2/3 bịch



Sợi nấm đã ăn kín

bịch, tiến hành

rạch bịch



Quả thể lần đầu nhiều,

nhưng trưởng thành rất ít,

lần sau ít và ra chậm

(hình: 3-1B)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, sợi

màu trắng, ăn sâu

gần tới đáy bịch



Sợi ăn kín bịch,

bắt đầu ra quả thể



Số lượng quả thể bình

quân 10- 15 quả thể,

nhưng chỉ có 5- 8 quả thể

trưởng thành (hình: 3-1C)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu

gần tới đáy bịch



Sợi ăn kín bịch,

bắt đầu ra quả thể



Số lượng quả thể bình

qn 10- 15 quả thể, có 710 quả thể trưởng thành

(hình: 3-1D)



51



5



6



7



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi màu trắng

đồng nhất và ăn

theo tia đồng đều,

ăn kín bịch, tiến

hành rạch bịch



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, sợi

mọc trắng mờ, ăn

kín bịch, bịch rắn

chắc và có thể

rạch bịch



Quả thể nấm trờn

cỏc vết rạch bịch

xuất hiện



Số lượng quả thể rất

nhiều, bình qn 18- 20

quả thể, có tới 10- 15 quả

thể trưởng thành (hình: 31G)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu

1/3 bịch



Hệ sợi ăn kín 2/3

bịch, hệ sợi ăn

chậm nhất trong

cỏc lụ.



Số lượng quả thể thu được

lần nhiều, nhưng các bịch

teo đi rất nhanh.



A



D



Quả thể nấm trờn

cỏc vết rạch bịch

xuất hiện



Số lượng quả thể nhiều,

bình quân 18-20 quả thể,

có tới 10- 12 quả thể

trưởng thành (hình: 3-1E)



B



E



C



G



Hình 3-1: Ảnh hưởng của hàm lượng rơm rạ bổ sung vào bã sắn sau lên

men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò



52



Từ kết quả thí nghiệm ở bảng 3-2 chúng tôi thấy rằng: Ở lô 5 và 6 hệ

sợi sinh trưởng nhanh hơn, hệ sợi mọc thưa hơn, sợi ăn theo tia đồng đều, do

đó thời gian ăn kín bịch của 2 lơ này cũng nhanh hơn các lô khác, chỉ khoảng

7 - 8 ngày hệ sợi đã ăn kín bịch khi đó có thể rạch bịch và chuyển bịch sang

nhà chăm sóc. Cũn lơ 1 và lơ 2 thời gian để hệ sợi ăn kín bịch phải mất 1013 ngày, lô 7 phải mất 20-25 ngày, khi đó mới có thể rạch bịch và chuyển

bịch sang khu chăm sóc. Ở các lơ 3 và lơ 4 hệ sợi cũng có thời gian sinh

trưởng nhanh, hệ sợi tương đối khoẻ và đẹp, thời gian để hệ sợi ăn kín bịch

chỉ khoảng 8- 12 ngày. Sự sinh trưởng của hệ sợi ở các lơ khác nhau có thể

giải thích như sau: Khi ta bổ sung thêm rơm rạ vào bã sắn tức là bổ sung

thêm lượng cellulose, làm cho cơ chất xốp hơn, thống hơn, khi đó hệ sợi có

khả năng sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Cũn trên bã sắn hàm lượng chất

dinh dưỡng cao, đặc biệt là tinh bột, khi được tạo ẩm và đóng bịch làm cơ

chất bện vào nhau, độ xốp và thoáng của cơ chất kém, do đó hệ sợi sinh

trưởng chậm hơn.

Khi so sánh với kết quả mà N.V.Quyết đã làm ở phòng thí nghiệm dựa

trên các chỉ tiêu như là: sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm, cũng

như khoảng thời gian để hệ sợi ăn kín bịch, tiến hành rạch bịch đến khi xuất

hiện những quả thể đầu tiên chúng tôi thấy rằng: ở các lô 5 và lơ 6 khoảng

thời gian này có rút ngắn đi chút ít (1-2 ngày), cũn các lơ 3 và lơ 4 có sự

tương đồng (8-10 ngày), các lơ 1 và lơ 2 thời gian này có kéo dài hơn một

chút (2-3 ngày), đặc biệt ở lô 7 thời gian này kéo dài từ 5 đến 10 ngày.

Nhưng nhìn chung ở tất cả các lô hệ sợi của nấm đều sinh trưởng và phát

triển tốt, đặc biệt tỷ lệ các bịch bị nhiễm nấm là rất ít, hầu như khơng có.

Thời gian để hệ sợi ăn kín bịch ở các lơ khác nhau phụ thuộc vào độ ẩm của

nguyên liệu, độ già của giống nấm lúc cấy vào, thời tiết, khí hậu ở thời điểm

ni trồng... Vì khi ni trồng trong phòng thí nghiệm có thể chủ động về

nhiệt độ và độ ẩm, cũn ngoài thực tế điều kiện thời tiết thất thường. Tuy



53



nhiên, những kết quả bước đầu cho thấy các nghiên cứu về ni trồng nấm sò

và nấm linh chi trong điều kiện phòng thí nghiệm mà N.V.Quyết đã thu được có

thể đem ra áp dụng vào thực tiễn sản xuất ở quy mơ trang trại.

Đặc biệt, trong thí nghiệm của chúng tơi thời gian ươm sợi của nấm

sò trên cơ chất hỗn hợp bã sắn và rơm rạ đã giảm đi nhiều (50 – 55%) so với

ươm sợi nấm sò trên cơ chất là rơm rạ (thời gian kéo dài 20- 25 ngày tuỳ

theo mùa vụ và thời tiết) [1]. So với thời gian ươm sợi của nấm sò trên cơ

chất là bã sắn mà N.V.Quyết đã làm ở phòng thí nghiệm thì thời gian này có

nhanh hơn 1-2 ngày.

Chúng tơi tiến hành chăm sóc, thu hái nấm trong 65 ngày kể cả thời

gian nuôi sợi, tổng cộng khối lượng nấm tươi thu được trên các lô ghi lại ở

bảng 3- 3. Khi tính tốn năng suất bỡnh quõn/bịch tương đương với 1,2 –

1,5 kg nguyên liệu đã phối trộn và làm ẩm ở cỏc lụ để xem xét hiệu suất

trồng nấm ở cỏc lụ nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được ghi lại ở

bảng 3-3 và hình 3-2.

Bảng 3-3. Hiệu suất nấm sò trồng trên cơ chất bã sắn sau lên men



Lô TN



Khối lượng nấm (g/bịch)

sau các khoảng thời gian

thu hái

Lần 1



1

2

3

4

5

6

7



270

260

300

320

350

375

265



25

25

ngày ngày



Tổng



350

450

400

420

480

415

300



880

950

980

1035

1100

1150

810



260

240

280

295

270

360

250



Sản lượng nấm

(nguyên liệu đã

tạo ẩm)

Kg

Hệu

nấm/kg

suất

(%)

0,67

67,0

0,73

73,0

0,75

75,0

0,79

79,60

0,84

84,0

0,88

88,0

0,62

62,0



54



Sản lượng nấm

(ngun liệu khơ)

Kg

nấm/kg



Hiệu suất

(%)



1,30

1,40

1,46

1,54

1,64

1,71

1,16



130

140

146

154

164

171

116



Hình 3-2. Biểu đồ hiệu suất nấm sò trồng trên cơ chất bã sắn sau lên men

Kết quả ở bảng 3 – 3 cho thấy: Năng suất ở các lô 4, lô 5 và lô 6 cao

hơn các lô 1, 2, 3 và 7 đồng thời quả thể ở các lô này tương đối đồng đều ở

các lần thu hái, cuống quả thể to và mập. Ở các lô 1, 2, 3 và 7, quả thể nhỏ

hơn và ra không đồng đều. Năng suất nấm sò thu được trên cơ chất hỗn hợp

rơm và bã sắn của chúng tôi cao hơn năng suất nấm sò trồng trên rơm rạ

(trên rơm rạ đạt bình quõn 50 – 70% [1]), trong nghiên cứu này đạt 62%.

Tuy nhiên ở tất cả cỏc lô, sau 65 ngày thu hái bịch nấm đã teo đi rất nhiều, mặc

dù vẫn ra qua thể rải rác và rất ít ở các bịch, nên chúng tôi quyết định dừng thu

hái ở ngày 65.

Kết quả nghiên cứu của N.V.Quyết khi trồng nấm sò trên cơ chất là bã

sắn sau lên men và dừng thu hái nấm ở ngày thứ 70 hiệu suất cao nhất đạt

82,8% (nguyên liệu đã tạo ẩm) hoặc 165,7% (nguyên liệu khô). Trong

nghiên cứu này, khi bổ sung rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất để trồng nấm

hiệu suất đã được nõng lên, điển hình là ở các lô 5 và 6 hiệu suất này lần lượt

là 84% và 88% (nguyên liệu đã tạo ẩm) hoặc 164,0 và 171% (ngun liệu

khơ).



55



Chúng tơi tớnh tốn hiệu quả kinh tế sản xuất nấm sò trên các loại cơ

chất khác nhau [1, 8] ghi lại ở bảng 3-4.

 Trên cơ chất là rơm rạ (chi phí cho 1 tấn rơm rạ)

+ Chi phí

Rơm rạ khơ

Túi nilon (30 ì 40 cm)

Bơng nút

Vơi bột, chun nịt

Giống nấm

Công lao động

Khấu hao nhà xưởng + dõy buộc

Điện nước + năng lượng sấy

Tổng chi phí cho 1 tấn rơm rạ

+Thu nhập

Năng suất thấp nhất 50%

Giá thành

Lợi nhuận

 Trên mùn cưa



1.000kg

6kg

6kg



ì 300đ/kg

ì 30.000

ì 15.000đ/kg



40kg

20 cơng



ì 12.000đ

ì 30.000



500kg

5.000.000



ì 10.000đ

– 2.160.00



= 300.000đ

= 180.000đ

= 90.000đ

= 10.000đ

= 480.000đ

= 600.000đ

= 250.000đ

= 250.000đ

= 2.160.000đ

= 500 kg

= 5.000.000đ

= 2.840.000đ



Cách tớnh toán tương tự như cơ chất là rơm rạ, chỉ khác ở 2 điểm

là:chi phí cho nguyên liệu và năng suất nấm thu được. Đối với mùn cưa chi

phí cho 1kg mùn cưa khơ là 500đ/kg, nên chi phí cho 1.000kg là 500.000đ

và tổng chi phí cho 1tấn nguyên liệu là 2.360.000đ. Năng suất nấm thu được

600kg, tổng thu được là 600kg ì 10.000đ = 6.000.000đ. Lợi nhuận thu

được/1tấn nguyên liệu là: 6.000.000đ – 2.360.000đ = 3.640.000đ

 Trên bã sắn (Theo tài liệu N.V.Quyết)

Cách tớnh toán tương tự như hai loại cơ chất trên, chỉ khác ở 2 điểm là:chi

phí cho nguyên liệu và năng suất nấm thu được. Đối với bã sắn chi phí cho

1kg nguyên liệu là 1.200đ, nên chi phí cho 1.000kg là 1.200.000đ và tổng chi

phí cho 1tấn nguyên liệu là 3.060.000đ. Năng suất nấm thu được 828kg

(Theo N.V.Quyết), tổng thu được là 828kg ì 10.000đ = 8.280.000đ. Lợi

nhuận thu được/1tấn nguyên liệu là: 8.280.000đ – 3.060.000đ = 5.220.000đ.

 Trên bã sắn + rơm rạ: Chi phí cho 1kg bã sắn là 1.200đ, 1kg



56



rơm rạ là 300đ. Tổng chi phí cho 1 tấn nguyên liệu (bã sắn + rơm rạ) là

3.120.000đ. Hiệu quả thu được là 880kg ì 10.000 = 8.880.000đ. Lợi nhuận

thu được thừ 1 tấn nguyên liệu: 8.880.000đ – 3.120.000đ = 5.760.000đ.

Bảng 3-4: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất các loại nấm ăn

Chi phí

Cơ chất



(1000đ/tấn

nguyên liệu)



Rơm rạ

Mùn cưa

Bã sắn

Bã sắn + Rơm rạ



2.160.000

2.360.000

3.060.000

3.120.000



Số lượng

nấm thu

hoạch được

(kg/tấn NL)

500

600

828

880



Giá trị bán ra

(x1000đ/tấn

nguyên liệu)

5.000.000

6.000.000

8.280.000

8.880.000



Lợi nhuận

(x1000đ/tấn

nguyên liệu)

2.840.000

3.640.000

5.220.000

5.760.000



Như vậy, bổ sung rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất trồng nấm vừa nõng

cao năng suất, vừa tiết kiệm chi phí hơn cho nguồn nguyên liệu là bã sắn,vì

tớnh về giá thành thì rơm rạ rẻ tiền hơn rất nhiều so với bã sắn, đồng thời có

thể rút ngắn được thời gian cho một quy trình ni trồng so với trồng nấm

trên rơm rạ. Nồng độ bổ sung chúng tôi chọn ở đõy là 25% vì hiệu suất thu

hồi nấm cao và giá thành lại rẻ hơn.

 Ni cấy nấm sò trờn cơ chất bã sắn chưa lên men

Đối với bã sắn trước khi lên men chúng tơi cũng bố trí thí nghiệm

tương tự như cơ chất là bã sắn sau lên men thu enzyme. Thí nghiệm được

chia làm 7 lơ như sau:

Lơ 1: 100% cơ chất là bã sắn trước lên men

Lô 2: 5% rơm rạ và 95% bã sắn trước lên men

Lô 3: 10% rơm rạ và 90% bã sắn trước lên men

Lô 4: 15% rơm rạ và 85% bã sắn trước lên men

Lô 5: 20% rơm rạ và 80% bã sắn trước lên men

Lô 6: 25% rơm rạ và 75% bã sắn trước lên men

Lô 7: 100% cơ chất là rơm rạ



57



Mỗi lơ gồm 15, mỗi bịch có trọng lượng 1,2 - 1,5kg (nước, khoáng,

rơm rạ và bã sắn đã được tạo ẩm và hấp thanh trùng) tương đương với khối

lượng nguyên liệu bã sắn khô trong một bịch là 600 – 700g và 50 – 200g

rơm rạ. Các bịch được cấy giống đều trên bề mặt và được nuôi trồng trong

cùng điều kiện.

Chúng tôi cũng tiến hành theo dừi sự sinh trưởng và phát triển của hệ

sợi nấm qua các khoảng thời gian khác nhau, kết quả được ghi lại ở bảng 3-5 và

hình 3-3.

Bảng 3-5. Ảnh hưởng của lượng rơm rạ bổ sung với nguyên liệu bã sắn

trước lên men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò



TN



Sự sinh trưởng và phát triển của nấm Sò qua

những khoảng thời gian nuôi trồng (ngày)

15



Số lượng quả thể trong một

vết rạch bịch



5



10



1



Hệ sợi lên

chậm,



Sợi nấm ăn theo tia

đồng đều, đám sợi có

màu trắng đục, hệ sợi

phủ kín bề mặt bịch



Hầu hết chưa

ăn kín bịch



Quả thể lần đầu ra rất ít

khoảng 3-5 quả thể, lần sau

rất ít và nhỏ, một số bịch

khơng ra quả thể (hình: 33A)



2



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu gần

1/3 bịch



Sợi nấm ăn tới

đáy bịch



Quả thể lần đầu nhiều, nhưng

trưởng thành rất ít, cuống quả

thể dài và gầy (hình: 3-3B)



3



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo tia

đồng đều, sợi màu

trắng, ăn sâu 1/3

bịch



Sợi ăn kín

bịch, bắt đầu ra

quả thể



Số lượng quả thể bình qn 1012 quả thể, nhưng chỉ có 5- 7

quả thể trưởng thành (hình: 33B)



4



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu gần

1/2 bịch



Sợi ăn kín

bịch, bắt đầu ra

quả thể



Số lượng quả thể bình quân

10- 15 quả thể, có 5- 10 quả

thể trưởng thành (hình: 3-3C)



5



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu 2/3

bịch



Số lượng quả thể nhiều, bình

Sợi ăn kín

qn 15-20 quả thể, có tới 7- 12

bịch, bắt đầu ra

quả thể trưởng thành (hình: 3quả thể

3D)



6



Hệ sợi lên



Hệ sợi ăn theo tia



Sợi ăn kín



58



Số lượng quả thể nhiều 15- 20



7



đều, thưa



đồng đều, ăn sâu gần

hết bịch



bịch, bắt đầu ra

quả thể



quả thể, có tới 10- 15 quả thể

trưởng thành (hình: 3-3E)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu 1/3

bịch



Hệ sợi ăn kín

2/3 bịch, hệ sợi

ăn chậm nhất

trong cỏc lụ.



Số lượng quả thể thu được lần

nhiều, nhưng các bịch teo đi

rất nhanh.



A



B



D



E



C



G



Hình 3-3: Ảnh hưởng của lượng rơm rạ bổ sung với nguyên liệu bã sắn

trước lên men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò

Trên cơ chất là bã sắn trước lên men, chúng tôi cũng tiến hành chăm sóc

và thu hái nấm trong 65 ngày kể từ thời gian ni sợi. Năng suất bỡnh

qũn/bịch của nấm đạt được trên cơ chất này được ghi lại ở bảng 3-6 và hình 34.

Bảng 3-6. Hiệu suất nấm sò trồng trên cơ chất bã sắn trước lên men



59



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Hoàn thiện quy trình trồng nấm ăn và nấm dược liệu trờn bó sắn trước và sau khi lên men thu enzyme

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×