Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1-4. Thành phần acid amin không thay thế có trong nấm

Bảng 1-4. Thành phần acid amin không thay thế có trong nấm

Tải bản đầy đủ - 0trang

1971). Trong bào tử nấm linh chi, chất béo không no gồm acid oleic

(55,2%), acid linoleic (16,5%), acid palmitic (19,8%) (Trần Thế Cường1997). Sử dụng nấm có các acid béo khơng no hồn tồn có lợi cho sức khoẻ

con người [1 ].

Trong nấm ăn có tới 30-93% là chất Glucid nó khơng chỉ là chất dinh

dưỡng mà cũn là chất đa đường (polysaccharide) và hợp chất của đa đường

có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u. Thành phần đa đường trong

nấm ăn là các đường đơn như Glucose, semi-lactose, xylose, arabinose [1].

Thành phần cellulose trong nấm ăn bình qũn là 8%. Cellulose của

nấm có tác dụng chống lại sự lắng kết của muối mật và làm giảm hàm lượng

cholesterol trong mỏu, nhờ thế mà phũng được sỏi thận và huyết áp cao. Do

đó thường xuyên ăn các loại nấm như nấm hương, nấm mỡ, nấm sò, nấm

rơm ... rất có lợi cho sức khoẻ [1].

Vitamin là loại hợp chất hữu cơ không thể thiếu được trong cuộc sống

của con người mà phần lớn vitamin phải do thức ăn cung cấp. Trong nấm ăn

có nguồn vitamin phong phú, nhất là B1, B2, C, PP, B6, acid folic B12;

caroten dưới các dạng hợp chất thiamine, riboflavin, niacin, biotin, axit

ascorbic. Do đó, sử dụng nấm ăn ta có thể khắc phục được các chứng viêm

thần kinh, viêm mép, viêm đầu lưỡi, bại huyết, nóng trong [1].

Tương tự như hầu hết các loại rau quả, nấm là nguồn khoáng rất tốt.

Hàm lượng các chất khoáng trong nấm dao động từ 3-10% trung bình là 7%.

Thành phần khống chủ yếu là phospho (P), Natri (Na), Kali (K). Nấm

hương, nấm mỡ, nấm sò chứa nhiều K có lợi cho sức khoẻ người già. Nấm

mỡ có chứa nhiều P; Na; K rất tốt cho quá trình trao đổi chất ở hệ thần kinh của

con người [7 ].

Như vậy, ngoài việc cung cấp đạm và đường nấm cũn góp phần bồi

dưỡng cơ thể nhờ vào sự dồi dào về khoáng và vitamin (bảng 1-3).

1.2.2.2 Giá trị làm thuốc của nấm dược liệu



11



Từ ngàn năm nay, nấm linh chi đã được đánh giá là loại thuốc quí,

hiếm và đắt tiền hàng đầu trong nền y học cổ truyền của nhiều nước phương

Đơng, trong đó có Việt Nam. Các thầy thuốc Trung Hoa gọi linh chi là thuốc

thần tiên, nấm Trường thọ ... Từ khi phương pháp nuôi trồng nhõn tạo được

áp dụng và những cơng trình nghiên cứu khoa học về thành phần và tác dụng

dược lý, y học về nấm linh chi được công bố, loại nấm này ngày càng được

sử dụng rộng rói làm phương thuốc phòng và chữa nhiều loại bệnh tật cũng

như để tăng cường, bồi bổ sức khoẻ.

Tác dụng phòng và chữa bệnh của linh chi liên quan đến nhiều hệ

thống và cơ quan của cơ thể. Hầu hết các nghiên cứu khoa học đều đưa đến

kết luận về vai trò của linh chi như là chất làm bình thường hố các cơ quan

và tổ chức của cơ thể thông qua khả năng tự điều chỉnh của nó [5,60 ]. Dưới

đõy là một số công dụng chữa bệnh phổ biến của nấm linh chi

1) Chữa các bệnh về hệ tim mạch và đường huyết:

Nấm linh chi làm giảm cholesterol, giảm lượng đường trong mỏu, điều

hoà và ổn định huyết áp, chống xơ vữa động mạch, chống tụ mỏu, chữa bệnh

giảm bạch cầu , tiểu đường ... [21, 2, 16, 43, 60].

2) Điều trị u bướu, ung thư:

Nguyên nhõn chớnh gõy ra sự phát triển của u bướu là sự rối loạn hay

giảm chức năng miễn dịch của cơ thể, G.lucidum điều chỉnh, hoạt hoá hệ

thống miễn dịch và ngăn chặn sự phát triển các u bướu. Thành phần chớnh

kháng u là các polysaccharide, tritecpen, lectin ... [43, 60]

3) Điều trị HIV

Nấm linh chi được sử dụng để hỗ trợ các loại thuốc điều trị HIV khác

(ví dụ thuốc AVR) cho kết quả khả quan hơn khi chỉ dùng riêng các loại

thuốc ấy [43, 60].

4) Bảo vệ gan thận và chữa các tổn thương về gan



12



Nấm linh chi có tác dụng bảo vệ gan khỏi các tổn thương do nhiều nhân

tố, hiệu quả thu được ngay cả trước và sau khi có tổn thương. Nó đẩy mạnh sự

chuyển hoỏ cỏc chất độc và thuốc trong gan để hồi sinh các tế bào gan bị

nhiễm độc. Do đó nó được dùng để chữa bệnh viêm gan mãn tính như viêm

gan B, các chứng nhiễm độc và các bệnh về gan khác, loại trừ các triệu chứng

như vàng da, giảm cân, chóng mặt, mệt mỏi, chán ăn ... Nấm linh chi cũng có

tác dụng hỗ trợ thận thực hiện chức năng điều hồ của mình [43, 60].

5) Chữa các bệnh về đường hô hấp như hen, viêm phế quản món tớnh và các

bệnh dị ứng thông thường

Bằng cách chặn đứng các chất gõy nên chứng viêm và tăng cường hệ

thống miễn dịch, các triệu chứng hen và cảm cúm sẽ giảm, bệnh hen vì thế

mà đỡ trầm trọng. Các sản phẩm của nấm linh chi được sử dụng làm chất

chất chống ho và chất long đờm. Nấm linh chi cũng tăng cường sự tái tạo các

tế bào khí quản và các biểu mơ khí đạo, đặc biệt quan trọng với các bệnh

nhõn nghiện thuốc lá (lào) và bị viêm phế quản món tớnh [28, 60].

6) Chữa bệnh về đường tiêu hố

Nấm linh chi có tác dụng làm giảm lượng acid trong dạ dày. Lượng

acid này khi quá dư sẽ dẫn đến sự viêm loét dạ dày và hệ thống tiêu hố.

Linh chi cũng có tác dụng điều chỉnh nhu động ruột, do đó chữa được các

triệu chứng táo bún và tiêu chảy do hội chứng đường ruột bị kích thích [60]

7) Chữa các bệnh về suy nhược thần kinh, mệt mỏi

G.lucidum được sử dụng để điều trị chứng suy nhược thần kinh và mất

ngủ vì nó tác động lên hệ thần kinh trung ương, làm ổn định hoạt động của

cơ thể [43, 63 ]].

8) Hỗ trợ các q trình hố trị liệu và xạ trị liệu làm giảm các tác dụng phụ

như sự mệt mỏi, sự chán ăn, sự chốn tuỷ xương, rụng tóc, buồn nơn, viêm

miệng, mất ngủ ... [60].

9) Chăm sóc sắc đẹp



13



G.lucidum được gọi là “thuốc trường sinh”, giúp bảo vệ da và ngăn

ngừa sự lóo hố. G.lucidum duy trì và điều chỉnh lượng nước trong da, giữ

da mềm, mịn, sáng. Nó cũng ức chế sự hình thành và phá huỷ của sắc tố

melamin. G.lucidum cũng có tác dụng chống rụng tóc [60].

Ngoài các tác dụng kể trên, nấm linh chi cũn được sử dụng để điều trị

các triệu chứng viêm da, xơ cứng bì ... [28, 5]

Những nghiên cứu cho thấy thành phần chớnh của G. lucidum bao

gồm các polysaccharide, các acid béo chưa no, alcaloid, nucleotit, các

aminoacid, cumarin, manitol, lacton, các nguyên tố vi lượng và các vitamin,

các tripecpen. Trong đó thành phần có hoạt tớnh sinh học là các

polysaccharide, các tritecpen, sterol, lectin và protein. Hoạt tớnh sinh học

của một số hợp chất trong nấm linh chi được tổng kết như sau:

1) Hoạt tớnh kháng virut, kháng khuẩn

Các nghiên cứu chỉ ra rằng G.lucidum có tác dụng kháng virut và

kháng vi khuẩn (yếu hơn). Hoạt tớnh kháng vi khuẩn Gram (+) đã được tỡm

thấy ở các dịch chiết của cuống G.lucidum [45]. Các dịch chiết trong

methanol của thể sợi nấm G.lucidum ức chế B.subtilis và S. aureus [35].

Yoon và ctv., năm 1994 nghiên cứu tác dụng hỗ trợ của dịch triết trong nước

của cuống bào tử G.lucidum với bốn loại kháng sinh đã biết (ampiciline,

cephazolin, oxytetracylin, và chloramphenicol). Kết quả có ba trường hợp

đều có tác dụng hiệp lực, riêng cephazolin cho tác dụng ngược nhau khi

kháng vi khuẩn Bacillus subtilis và Klebsiella oxytoca [62]. Một số dịch

chiết trong nước và methanol của bào tử G.lucidum thể hiện khả năng kháng

lại năm dòng virut gõy bệnh như virut herpec loại 1 (HSV-1), loại 2 (HSV-2),

virut cúm A (Flu A) và virut gõy nhọt ở miệng (SVS) [37]

2) Hoạt tớnh kháng u, chống ung thư

U bướu, đặc biệt ung thư là một trong những nguyên nhõn gõy tử

vong hàng đầu trên thế giới. Giá trị phòng và chữa trị những loại bệnh này



14



của G.lucidum đã được chứng minh không những trong phòng thí nghiệm

mà cả trên thử nghiệm lõm sàng.

Ganopoly là một phõn đoạn polysaccharide chiết từ G.lucidum được

bán trên thị trường ở nhiều nước Chõu Á để chữa nhiều bệnh món tớnh bao

gồm cả ung thư và bệnh gan. Gao và cộng sự (2005) [38 ] đã nghiên cứu hoạt

tớnh kháng u và cơ chế của nó trên các dòng tế bào u người và chuột. Điều

trị chuột mang u sarcoma-180 trong 10 ngày làm giảm rừ rệt trọng lượng

khối u với tỉ lệ 32,3; 48,2 và 84,9% và thời gian phát triển 1,5; 3,5; và 13,1%

tương ứng với các liều dùng 20; 50; và 100mg/kg.

Bột G.lucidum có tác dụng ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư

của các bệnh nhõn mắc bệnh bạch cầu, u bạch huyết, và u tuỷ [57 ]. Dịch

chiết trong ethanol và DMSO của G.lucidum đẩy lựi sự phát triển của dòng

tế bào ung thư trực tràng người SW 480 [61].

Minh Quyền và ctv., năm 2002 nhận thấy polysaccharide chiết từ thể

quả và sinh khối sợi nấm linh chi làm tăng trọng lượng và thời gian sống của

chuột nhắt trắng mang u báng sarcoma 180 [9 ]. Thử nghiệm lõm sàng trên

bệnh nhõn ung thư vòm miệng của Kim Dung và cộng sự (2002) [17] cho

thấy Linh chi có tác dụng hạn chế các tác dụng phụ do tia xạ và hạn chế tổn

thương của tia xạ đối với các tế bào chịu trách nhiệm miễn dịch ở các bệnh

nhõn ung thư vòm miệng.

3) Hoạt tớnh giảm đường huyết

Thành phần có hoạt tớnh giảm đường huyết của G.lucidum là

polysaccharide. Năm 2004, Zang và Lin nghiên cứu thấy polysaccharide

phõn lập từ quả thể của G.lucidum có tác dụng làm giảm lượng đường huyết

ở chuột do có hoạt tớnh giải phóng insulin bằng cách xúc tiến dòng Ca 2+ tới

các tế bào ò tuyến thượng thận [64]. He và cộng sự (2006) cho biết dịch chiết

polysaccharide tổng của G.lucidum có tác dụng làm giảm lượng đường huyết

và ngăn chặn quá trình biến chứng động mạch thận trên chuột bị gõy đái tháo

đường thực nghiệm bởi streptoxin [41]



15



4) Hoạt tớnh giảm cholesterol

Chế độ ăn uống dư thừa tinh bột, protein và acid béo có thể dẫn tới

chứng đọng cholesterol. Chứng này làm tăng độ nhớt của mỏu. Do đó cơ tim

phải làm việc vất vả hơn để tuần hoàn mỏu trong cơ thể. Đồng thời giảm độ

bền vững của các mao mạch vận chuyển mỏu. Kết quả có thể gõy ra nhiều

bệnh liên quan đến q trình tuần hồn mỏu như đau tim, xơ cứng động

mạch, cao huyết áp ...

Kết quả thử nghiệm trên chuột cao lỏng nấm linh chi có tác dụng làm

giảm chỉ số lipid mỏu của chuột [19]. Thử nghiệm lõm sàng trên các bệnh

nhõn rối loạn lipid mỏu bằng bài thuốc LP4 có G.lucidum của Văn Thành

cho thấy bài thuốc này có tác dụng hạ các chỉ số cholesterol, triglycerid và

tăng cõn nặng, giảm các triệu chứng của bệnh mà khơng thấy có tác dụng

phụ nào [4].

5) Ảnh hưởng lên sự ngưng kết các tiểu cầu

Các cục nghẽn là nguyên nhõn trực tiếp gõy ra đột quị, phình mạch,

suy cơ tim. Sự nghẽn mạch cản trở tuần hồn mỏu có thể gián tiếp dẫn tới sự

viêm gan, viêm thận, đái tháo đường cấp, ung thư ... Tác nhõn chớnh dẫn tới

sự tụ mỏu là các tiểu cầu. Sự đông mỏu xảy ra khi các tiểu cầu tích tụ ở vết

thương để ngăn cản mỏu chảy và giúp quá trình phục hồi các mơ. Sau khi

qua trình phục hồi kết thúc, các tiểu cầu được giải phóng và đi vào mỏu.

Nhưng trong một số trường hợp sự giải phóng này khơng xảy ra dẫn tới sự

tắc nghẽn mạch mỏu.

Acid ganoderic S từ G.lucidum gõy ra sự ngưng kết các tiểu cầu bằng

cách kích thích sự thuỷ phõn của phosphatidylinositol 4,5-bisphosphat [54 ].

Tao và Feng, năm chỉ ra rằng một phương thuốc thảo dược của Trung Quốc

từ G.lucidum ức chế sự ngưng kết tiểu cầu khi sử dụng cho bệnh nhân xơ vữa

động mạch. Ađenozin cũng có tác dụng ức chế sự ngưng kết tiểu cầu [55].



16



6) Bảo vệ gan

Polysaccharide liên kết với protein từ G.lucidum có tác dụng bảo vệ gan

[45, 46]. Song và các cộng sự (1998) phân lập một polyme ngoại bào từ dịch

nuôi cấy G.lucidum thể hiện tác dụng bảo vệ gan bằng cách giảm hoạt tính

enzyme chuyển hoá glutamic pyruvic transaminaza (GPT) lên huyết tương của

chuột. Shieh (2001) kết luận rằng cơ chế bảo vệ gan và thận của G.lucidum là

do tác dụng loại trừ các supeoxit gây tổn thương cho gan và thận [52].

Đào Văn Phan, Trần Mạnh Hùng và các cộng sự, năm 2005 nghiên cứu

tác dụng bảo vệ gan của G.lucidum Việt Nam trên chuột gây suy nhược gan

thực nghiệm bằng paracetamol (PAR), đietylnitrozamin và CCl 4. Kết quả cho

thấy khi dùng cao lỏng G.lucidum trước và cả trong thời gian cho uống

paracetamol thì cao lỏng G.lucidum có tác dụng ngăn cản đáng kể sự tăng các

chỉ số về men gan do paracetamol gây ra. Với trường hợp gây suy gan bằng

CCl4 thì men gan có giảm nhưng khơng nhiều. Các tổn thương tế bào gan của

chuột suy gan khi dùng G.lucidum cũng giảm đi rõ rệt [18, 26, 27].

7) Chống oxy hoá

Các tiểu phần oxy hoá hoạt động (ROS) như các anion supeoxit và gốc

tự do hyđroxi có thể gõy ra bệnh ung thư và các loại bệnh khác bằng các

hoạt động như là một tác nhõn khơi mào hay kích thích. Do đó sự phản hoạt

động hay loại bỏ các tác nhõn này có thể rất quan trọng trong việc phòng

chống các bệnh tật.

Các polysaccharide liên kết với protein từ dịch chiết ethanol từ

G.lucidum thể hiện hoạt tớnh loại bỏ gốc tự do hyđroxi và supeoxit. Dịch

chiết trong nước nóng của G.lucidum thể hiện tác dụng chống oxy hoá lên

gan và thận chuột và các dịch chiết cũng làm giảm sự đứt góy trên DNA do

sự quang phõn hyđropeoxit [42]. Liu và cộng sự cũng kết luận rằng tỉ lệ

polysaccharide/protein trong polysaccharide liên kết với protein càng thấp

thì hoạt tớnh càng lớn.



17



Quang Thường và cộng sự, năm 1996 thăm dò hoạt tớnh chống oxy

hoá của nấm linh chi cho thấy linh chi có tác dụng ức chế q trình oxy hố

ở dịch đồng thể nóo chuột với hiệu suất 38% [12].

1.2.3 Đặc điểm sinh học của nấm Sò

Nấm sò (Pleurotus spp.) là một nhóm nấm ăn q khơng những có tác

dụng về mặt dinh dưỡng mà còn có tác dụng chữa bệnh, hiện được nghiên

cứu tập trung ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Đông Á. Sản

lượng nấm sò thời gian gần đây tăng tới 400%. Theo Shukla và Biswas

(2000) việc ni trồng nấm sò đang phát triển rộng rãi và thu lợi cao nhờ

công nghệ đơn giản, nguồn cơ chất phong phú [56]. Hơn nữa chúng có khả

năng sinh trưởng và phát triển ở những điều kiện mơi trường nhiệt độ khí

hậu khác nhau và thời gian sinh trưởng khá ngắn [53, 63].

Ở Việt Nam, việc ni trồng nấm ăn nói chung và nấm sò nói riêng

đang được đẩy mạnh trong cả nước và là nguồn thu nhập đáng kể trong quá

trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Tuy nhiên, chất lượng của

nấm phụ thuộc nhiều vào chủng loại, trong đó các đại diện thuộc phân chi

Pleurotus sinh bào tử vơ tính (Coremiopleurotus Hilber) có nhiều đặc tính

q báu, đặc biệt là hàm lượng đạm rất cao [32 ]. Chính vì thế việc nghiên

cứu kỹ phân chi này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn.

Nấm sò (nấm tai lệch, nấm xoè, nấm bào ngư, nấm bèo) có tên khoa

học chung là Pleurotus spp, thuộc chi Pleurotus họ Pleurotaceae, bộ

Agaricales, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm

thật – Eumycota, giới Nấm – Fungi. Trong đó có 39 lồi khác nhau về màu

sắc, hình dạng, khả năng thích nghi với các điều kiện nhiệt độ chúng là

những lồi nấm sò tớm (P. ostreatus), nấm sò trắng (P. pulmonarius), nấm sò

nõu (P. sajo-caju) ... [1].

Nấm có dạng hình phễu lệch, mọc thành cụm tập chung, mỗi cánh

nấm gồm 3 phần: mũ, phiến, cuống [7].



18



Mũ nấm hình phễu nơng, lệch, hình sò đến hình thỡa. Mặt mũ nấm

nhẵn, phẳng, khi ẩm có thể hơi có lơng mịn, màu trắng , hơi có sắc thái vàng

bẩn, khi khô hơi vàng bẩn. Mép mũ đầu tiên cuộn vào trong, sau đó phát

triển hơi cuộn lại hồn chỉnh, lượn sóng và chia thuỳ ít hay nhiều, khi già có

thể nứt ra . Kích thước 3 -8 (15) cm.

Cuống nấm ngắn màu trắng có khi có sắc thái vàng bẩn, hơi phủ lông

mịn ở gốc và mọc dớnh vào với cuống nấm khác thành cụm. Kích thước 0,2

-2 (5) ì 0,2 -1 cm.

Phiến nấm màu trắng, xếp xít nhau, men dần xuống cuống. Khi già

hay khơ có sắc thái vàng. Giá dạng chuỳ, khơng màu, kích thước 13,5 -19 ì

6,5 -7,5 àm.

Bào tử hình elip dài gần đến hình trụ, khơng màu, màng nhẵn, kích

thước 3,5 -4 ì 8,5 -9,5 àm.

Hệ thống sợi nấm đimitric gồm sợi nguyên thuỷ có vách ngăn ngang,

có khố và sợi cứng, khơng vách ngăn, màng dày; kích thước 2,5 -7,5 àm

đường kớnh. Hệ sợi nấm trong môi trường nuôi cấy thuần khiết màu trắng,

mọc khá nhanh với sợi khơng khí phát triển, phần lớn tạo thành sợi nguyên

thuỷ, khi đưa ra ánh sáng có khả năng hình thành mầm nấm , nấm non.

Nấm mọc trên gỗ mục của các cõy lá rộng, thường hình thành từng

búi. Nấm mọc nhiều vào mùa nóng ấm. Đõy là loài nấm ăn, quý nhất khi

chưa già. Đã được nuôi trồng chủ động ở nhiều nước và ở nước ta cũng đã

nuôi trồng trên qui mô công nghiệp [29].

1.2.4 Đặc điểm sinh học của nấm Linh Chi

Nấm linh Chi (vạn niên nhung, chi linh, mộc linh chi, hổ nhũ linh chi,

bất lão hảo, thần tiên thảo, đoạn thảo, nấm lim ...) có tên khoa học là

Ganoderma lucidum (Leyss.Fr.) Kast thuộc giới Fungi, ngành Basidiomycota,

lớp Homobasidiomycetes, bộ Polyporales, họ Ganodermataceae, chi

Ganoderma. Ở Trung Quốc loài nấm này được gọi là Lingzhi, Ở Nhật Bản là

Reishi, Munnertake, Sachitake, Ở hàn Quốc là Youngzhi [30, 52].



19



Ganoderma là một trong những chi lớn nhất của bộ Polyrorales. Sự

phõn loại và gọi tên các lồi trong chi này có nhiều trường hợp lẫn lộn. Sau

khi loại bỏ những tên gọi đồng nghĩa, khó hiểu, sai thì trong chi Ganoderma

cũn 148 lồi. Trong đó Ganoderma lucidum (G.lucidum) là lồi có mặt

thường xun nhất trong các nghiên cứu về ni trồng, phõn tích hố học,

cơng dụng dược học, y học ... Trên thế giới, G.lucidum có khoảng 45 lồi, ở

Việt Nam có 15 lồi [5, 51].

Trong tự nhiên, nấm Linh Chi được tỡm thấy ở các rừng rậm vùng

nhiệt đới hoặc cận nhiệt, nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao. Chúng sống kí sinh

trên cõy gỗ (thường là cõy thuộc bộ đậu Fabales) cũn sống hay đã mục nát.

Thể quả gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5-11), có thể ở trên thõn cõy (cuống

thường ngắn, tai nấm nhỏ), quanh gốc cõy hoặc từ các rễ cõy (nổi hoặc ngầm

gần mặt đất), khi ấy cuống nấm thường dài, có thể phõn nhánh và đơi khi tán

nấm rất lớn (~30cm). Thể quả gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm [5].

Cuống nấm dài hoặc ngắn, thường đớnh bờn, đôi khi trở thành đớnh tõm

do quá trình liền tán mà thành. Cuống nấm thường hình trụ, ít khi phân nhánh,

đôi khi uốn khúc cong quẹo, đường kính từ 0,3 - 3,5cm, chiều dài từ 2,7 –

22cm. Lớp vỏ cuống láng đỏ- nâu đen- nâu đỏ, bóng, khơng có lơng [5].

Mũ nấm khi non có hình trứng, lớn lên thành hình rẻ quạt, hay hình

bán nguyệt, hình thận, kích thước thay đổi: rộng 2- 25cm, dài 3- 30cm, dày

0,5- 2cm. Mặt trên bóng như đánh vecni, màu từ vàng chanh, vàng nghệ đến

vàng nõu, vàng cam, đỏ nõu-nõu tớm, có đường võn đồng tõm, lượn sóng và

võn tán xạ. Phần cuống đính hơi gồ lên hoặc lừm xuống. Mặt dưới màu nõu

nhạt, mang các ống rất nhỏ, chứa bào tử. Bào tử khi chín màu nõu. Khi nấm

trưởng thành thì phát tán bào tử [7].

Nấm linh chi mọc trong tự nhiên rất hiếm. Hơn thế nữa, nấm tỡm

được không mấy khi nguyên vẹn mà hay bị sõu bọ cắn nát. Trong lịch sử

không biết bao nhiêu người đã tỡm cách cấy giống và trồng loại nấm này



20



nhưng đều thất bại. Mói tới năm 1971, hai nhà khoa học người Nhật tên là

Yukio Naoi và Zenzaburo Kasai, Giáo sư của phõn khoa Nông nghiệp, Đại

học Kyoto mới thành công trong việc gõy giống và người ta mới sản xuất

được loại nấm một cách qui mơ. Từ đó linh chi được trồng và sử dụng trong

việc bào chế theo qui mơ cơng nghiệp [5].

1.2.5 Quy trình ni trồng nấm ăn và nấm dược liệu

Ở Việt Nam hiện nay chúng ta đã tiến hành nuôi trồng 10 loại nấm phổ

biến có năng suất và chất lượng tương đương với các nước trong khu vực.

Quy trình chung trong trồng nấm ăn và nấm dược liệu trên các nguồn nguyên

liệu truyền thống như mùn cưa, bông và rơm rạ được mô tả túm tắt theo hình

1.1 dưới đõy:

Ủ nguyên liệu

Phối trộn bổ sung



Đóng bịch



Thanh trùng



Cấy giống



Chăm sóc và thu

hái

Hình 1-1: Sơ đồ quy trình trồng nấm



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1-4. Thành phần acid amin không thay thế có trong nấm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×