Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Từ bảng cho thấy: Thành phần các chất có trong bã sắn trước và sau

khi lên men enzyme chủng A.oryzae MNI có khác nhau rõ rệt: hàm lượng

các chất khống của bã sắn sau khi lên men thu enzyme cao hơn rất nhiều so

với hàm lượng các chất khống đó trong bã chưa lên men, do trong quá trình

lên men chúng ta đã bổ sung thêm các loại khoáng cần thiết (mục 2.1.2

chương 2) cho nấm mốc. Hàm lượng khoáng so với ban đầu khi bổ sung,

tuy không cũn nhiều do nấm mốc đã sử dụng khống trong q trình sinh

trưởng và cũng như bị mất đi trong quá trình chiết xuất enzyme. Hàm lượng

protein tăng lên, cellulose tăng do sinh khối nấm sợi có trong bã sau lên men.

Đặc biệt hàm lượng tinh bột trong bã sau lên men giảm đi đáng kể (chỉ cũn

1,8- 5,3%). Điều này rất có ý nghĩa trong việc tận dụng nguồn bã sắn phế

thải sau lên men để nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu. Vì, nấm ăn và nấm

dược liệu khơng có nhu cầu cao về tinh bột nhưng lại cần rất nhiều cellulose

để sinh trưởng, phát triển, đặc biệt là nấm sò. Vì vậy, mà nguồn ngun liệu

phổ biến và chủ yếu hiện nay để nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu vẫn là

rơm rạ và mùn cưa của các loại gỗ khơng có tinh dầu. Do đó, sử dụng bã sắn

vào nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu là một hướng nghiên cứu mới.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa xác định được hàm lượng HCN.

Tuy nhiên, dựa theo các tài liệu công bố trước đõy hàm lượng HCN cũn lại

trong bã sắn là rất ít, khơng đáng kể, thông thường bã sắn khô chứa 7,58,5mg% HCN. Trong bã sắn tươi hàm lượng HCN còn khá cao

(162,40mg/kg), có thể gây độc nếu cho trâu bò ăn bã tươi. Theo Mai Thị

Thơm và Bựi Quang Tuấn, năm 2006, bã sắn ủ chua với 0,5% muối hoặc ủ

với 0,5% muối + 3% rỉ mật đều cho chất lượng thức ăn ủ chua tốt, an toàn

khi sử dụng cho gia súc, giảm chi phí thức ăn cho sản xuất sữa [6 ]. Đõy là

hàm lượng rất nhỏ nằm dưới ngưỡng gây độc rất nhiều. Theo Do Thanh

Hang and T R Preston (2005) [36] ngưỡng gõy độc 1.4 đến 4.4mg/kg trọng

lượng cơ thể động vật.



47



Trên thế giới cũng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu sử dụng bã sắn

khơ khơng cần xử lý HCN để lên men nhiều loại sản phẩm bằng Vi sinh vật,

trong đó cú dựng để trồng nấm ăn và nấm dựợc liệu, vỡ bã sắn hầu như

không chứa HCN (Ashok Pandey và CS, 2000).

Chúng tôi đã sử dụng bã sắn khô và bã sắn đã trải qua quá trình lên

men vi sinh vật, quá trình tách chiết được bổ sung và vắt khô nhiều lần để

lấy enzyme, thì hàm lượng HCN hầu như khơng còn gì nữa, nên khơng cần

xử lý gì hơn. Do đó có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng bã sắn làm nguồn

nguyên liệu trồng nấm ăn và nấm dược liệu.

3.2 Hoàn thiện quy trình trồng nấm ăn và nấm dược liệu trờn bó sắn

trước và sau khi lên men thu enzyme

3.2.1 Trồng nấm sò trắng (Pleurotus pulmonarius)

Nguyễn Văn Quyết, 2007, khi nghiên cứu sử dụng bã sắn trước và sau

lên men thu enzyme vào nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu ở quy mơ

phòng thí nghiệm, bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định.

Tác giả đã nghiên cứu về phương pháp xử lý nguyên liệu, ảnh hưởng

của một số yếu tố lên sự phát triển của nấm sò và nấm linh chi trờn bó sắn

(độ ẩm, hàm lượng các chất khoáng), tối ưu các điều kiện trên cho sự phát

triển của nấm sò ở điều kiện phòng thí nghiệm (10kg/mẻ). Đây là những

nghiên cứu bước đầu cần được bổ sung và hoàn thiện trong các nghiên cứu

tiếp theo nhằm đưa được vào sản xuất thực tiễn. Theo N.V.Quyết hàm lượng

tinh bột cao và hàm lượng cellulose thấp trong bã sắn là nguyên nhân làm

cho năng suất trồng trồng nấm sò và nấm dược liệu trên nguyên liệu này là

chưa cao.

Tiếp tục hướng nghiên cứu đó chúng tơi đã tiến hành nghiên cứu để

nâng cao năng suất của quy trình trồng nấm sò bằng bổ sung thêm nguồn

cellulose vào nguyên liệu trồng nấm. Nguyên liệu bổ sung chúng tôi chọn là

rơm rạ vì đây là nguồn nguyên liệu rất giàu cellulose đặc biệt thích hợp để



48



trồng nấm sò, hơn nữa lại rẻ tiền, dễ kiếm và phổ biến ở các vùng nông thôn

nước ta. Đặc biệt, phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa

phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sơng

ngòi gõy tắc nghẽn dòng chảy, gõy ơ nhiễm môi trường. Đõy là nguồn tài

nguyên rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những

tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm được

chuyển sang làm phõn bún hữu cơ tạo thêm độ phì nhiêu cho đất. Do đó,

phối trộn rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất trồng nấm sò góp phần tăng hàm

lượng cellulose trong cơ chất, đồng thời tạo độ thơng thống cho cơ chất,

tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm sò, rút ngắn thời gian

ni sợi. Nếu thành công trong hướng nghiên cứu này, sẽ tận dụng đáng kể

nguồn phế phụ phẩm gõy ô nhiễm môi trường, đồng thời nõng cao năng suất

trồng nấm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

3.2.1.1 Phương pháp xử lý nguyên liệu

Dựa theo kết quả của N.V.Quyết, chúng tôi đưa ra phương pháp xử lý

hai loại nguyên liệu như sau:

Bã sắn các loại đã phơi khô, được bổ sung thêm CaCO 3 (bột nhẹ) với

tỷ lệ 2% (tức là 200g bột nhẹ/ 10kg nguyên liệu) trộn đều, sau đó được bổ

sung thêm nước để đạt độ ẩm 59,5 - 61,3% (tương đương với 12 - 13kg

nước/10kg nguyên liệu). Có thể kiểm tra độ ẩm bằng cách: nắm nguyên liệu

vào tay, sau đó bỏ tay ra nếu nguyên liệu tự rời nhau là được. Trong trường

hợp độ ẩm cao quá hoặc thấp quá thì cần phải chỉnh lại độ ẩm cho thật

chuẩn. Nếu độ ẩm cao quá, lượng tinh bột cũn lại trong bã tương đối lớn, sau

khi thanh trùng tinh bột sẽ bị hồ hố hồn tồn, tăng độ nhớt, khả năng lưu

thơng khí trong bịch giảm, làm sợi nấm phát triển kém và khả năng bị nhiễm

nấm cao. Nếu độ ẩm thấp quá, hệ sợi nấm phát triển nhanh nhưng ra quả thể

kém, chất lượng quả thể không tốt biểu hiện quả thể bé, cuống quả thể dài,



49



khi ăn rất dai, và hệ sợi nhanh bị lóo hố ảnh hưởng đến năng suất và chất

lượng quả thể nấm ở những lần ra sau.

Đối với rơm rạ: chặt ngắn 10 - 15cm, ngõm trong nước vôi 15 - 20

phút vớt ra để ráo nước, ủ lại 1 - 2 ngày, sao cho độ ẩm đạt khoảng 65%, khi

đó rơm rạ có màu vàng tươi là được.

Bã sắn sau khi tạo ẩm và rơm rạ sau khi ủ được đem hấp khử trùng

trong nồi áp suất ở áp suất 1 atmotphe, nhiệt độ 121 0C, thời gian 60 phút. Để

nguội, phối trộn rơm rạ và bã sắn theo những tỷ lệ nhất định. Đóng bịch vào

túi nilon chịu nhiệt kích thước 25 ì 35cm, trọng lượng mỗi bịch 1,2 - 1,5kg,

đem hấp khử trùng lần 2 tương tự như lần 1. Sau khi hấp xong lấy bịch nấm

ra để nguội và cấy giống trong phòng cấy giống vơ trùng.

3.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng rơm rạ bổ sung lên sự sinh

trưởng và phát triển của nấm sò.

Để tiến hành thí nghiệm này, chúng tôi đã phối trộn rơm rạ vào bã sắn

theo những tỷ lệ khác nhau và chia lơ thí nghiệm để tiện cho việc theo dừi.

Mỗi lơ thí nghiệm gồm 15 bịch nấm. Mục đích của thí nghiệm này là nhằm

tỡm ra một tỷ lệ phối trộn phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm

sũ trên cơ chất bã sắn là chủ yếu, chứ không phải trên rơm rạ. Do đó, chúng

tơi đã tiến hành phối trộn tỷ lệ rơm rạ/bó sắn từ 5 - 25% với bước nhảy là 5%,

như trình bày dưới đây.

 Ni cấy nấm sò trờn cơ chất bã sắn sau lên men thu enzyme

Thí nghiệm được bố trí làm 7 lơ. Mỗi lơ gồm 15 bịch, mỗi bịch có

trọng lượng 1,2 - 1,5kg (nước, khoáng, rơm rạ và bã sắn đã được tạo ẩm và

hấp thanh trùng) tương đương với khối lượng nguyên liệu bã sắn khô trong

một bịch là 600 – 700g và 50 – 200g rơm rạ. Các bịch được cấy giống đều

trên bề mặt và được nuôi trồng trong cùng điều kiện.

Lô 1: 100% cơ chất là bã sắn sau lên men

Lô 2: 5% rơm rạ và 95% bã sắn sau lên men



50



Lô 3: 10% rơm rạ và 90% bã sắn sau lên men

Lô 4: 15% rơm rạ và 85% bã sắn sau lên men

Lô 5: 20% rơm rạ và 80% bã sắn sau lên men

Lô 6: 25% rơm rạ và 75% bã sắn sau lên men

Lô 7: 100% cơ chất là rơm rạ

Đánh giá thí nghiệm dựa trên các kết quả theo dõi về: Sự sinh trưởng

và phát triển của hệ sợi nấm sò qua các khoảng thời gian khác nhau cho đến

khi xuất hiện quả thể, số lượng và đặc điểm quả thể tạo ra trên một vết rạch

bịch, cũng như tính tốn đến năng suất và hiệu quả kinh tế ... Kết quả thí

nghiệm được túm tắt trong bảng 3-2 và hình 3-1.

Bảng 3-2. Ảnh hưởng của hàm lượng rơm rạ bổ sung vào bã sắn sau lên

men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò

Lơ TN



1



2



3



4



Sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò qua

những khoảng thời gian ni trồng (ngày)



Số lượng quả thể trong

một vết rạch bịch



5



10



15



Hệ sợi lên

chậm,



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, đám

sợi có màu trắng

đục, ăn sâu gần

2/3 bịch



Sợi nấm đã ăn kín

bịch, tiến hành

rạch bịch



Quả thể lần đầu đều, lần

sau rất ít và nhỏ, một số

bịch khơng ra quả thể

(hình: 3-1A)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, ăn

sâu 2/3 bịch



Sợi nấm đã ăn kín

bịch, tiến hành

rạch bịch



Quả thể lần đầu nhiều,

nhưng trưởng thành rất ít,

lần sau ít và ra chậm

(hình: 3-1B)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Sợi nấm ăn theo

tia đồng đều, sợi

màu trắng, ăn sâu

gần tới đáy bịch



Sợi ăn kín bịch,

bắt đầu ra quả thể



Số lượng quả thể bình

qn 10- 15 quả thể,

nhưng chỉ có 5- 8 quả thể

trưởng thành (hình: 3-1C)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu

gần tới đáy bịch



Sợi ăn kín bịch,

bắt đầu ra quả thể



Số lượng quả thể bình

quân 10- 15 quả thể, có 710 quả thể trưởng thành

(hình: 3-1D)



51



5



6



7



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi màu trắng

đồng nhất và ăn

theo tia đồng đều,

ăn kín bịch, tiến

hành rạch bịch



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, sợi

mọc trắng mờ, ăn

kín bịch, bịch rắn

chắc và có thể

rạch bịch



Quả thể nấm trờn

cỏc vết rạch bịch

xuất hiện



Số lượng quả thể rất

nhiều, bình quân 18- 20

quả thể, có tới 10- 15 quả

thể trưởng thành (hình: 31G)



Hệ sợi lên

đều, thưa



Hệ sợi ăn theo tia

đồng đều, ăn sâu

1/3 bịch



Hệ sợi ăn kín 2/3

bịch, hệ sợi ăn

chậm nhất trong

cỏc lụ.



Số lượng quả thể thu được

lần nhiều, nhưng các bịch

teo đi rất nhanh.



A



D



Quả thể nấm trờn

cỏc vết rạch bịch

xuất hiện



Số lượng quả thể nhiều,

bình qn 18-20 quả thể,

có tới 10- 12 quả thể

trưởng thành (hình: 3-1E)



B



E



C



G



Hình 3-1: Ảnh hưởng của hàm lượng rơm rạ bổ sung vào bã sắn sau lên

men tới sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò



52



Từ kết quả thí nghiệm ở bảng 3-2 chúng tơi thấy rằng: Ở lô 5 và 6 hệ

sợi sinh trưởng nhanh hơn, hệ sợi mọc thưa hơn, sợi ăn theo tia đồng đều, do

đó thời gian ăn kín bịch của 2 lô này cũng nhanh hơn các lô khác, chỉ khoảng

7 - 8 ngày hệ sợi đã ăn kín bịch khi đó có thể rạch bịch và chuyển bịch sang

nhà chăm sóc. Cũn lơ 1 và lơ 2 thời gian để hệ sợi ăn kín bịch phải mất 1013 ngày, lơ 7 phải mất 20-25 ngày, khi đó mới có thể rạch bịch và chuyển

bịch sang khu chăm sóc. Ở các lơ 3 và lơ 4 hệ sợi cũng có thời gian sinh

trưởng nhanh, hệ sợi tương đối khoẻ và đẹp, thời gian để hệ sợi ăn kín bịch

chỉ khoảng 8- 12 ngày. Sự sinh trưởng của hệ sợi ở các lơ khác nhau có thể

giải thích như sau: Khi ta bổ sung thêm rơm rạ vào bã sắn tức là bổ sung

thêm lượng cellulose, làm cho cơ chất xốp hơn, thống hơn, khi đó hệ sợi có

khả năng sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Cũn trên bã sắn hàm lượng chất

dinh dưỡng cao, đặc biệt là tinh bột, khi được tạo ẩm và đóng bịch làm cơ

chất bện vào nhau, độ xốp và thoáng của cơ chất kém, do đó hệ sợi sinh

trưởng chậm hơn.

Khi so sánh với kết quả mà N.V.Quyết đã làm ở phòng thí nghiệm dựa

trên các chỉ tiêu như là: sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm, cũng

như khoảng thời gian để hệ sợi ăn kín bịch, tiến hành rạch bịch đến khi xuất

hiện những quả thể đầu tiên chúng tôi thấy rằng: ở các lô 5 và lô 6 khoảng

thời gian này có rút ngắn đi chút ít (1-2 ngày), cũn các lơ 3 và lơ 4 có sự

tương đồng (8-10 ngày), các lô 1 và lô 2 thời gian này có kéo dài hơn một

chút (2-3 ngày), đặc biệt ở lô 7 thời gian này kéo dài từ 5 đến 10 ngày.

Nhưng nhìn chung ở tất cả các lơ hệ sợi của nấm đều sinh trưởng và phát

triển tốt, đặc biệt tỷ lệ các bịch bị nhiễm nấm là rất ít, hầu như khơng có.

Thời gian để hệ sợi ăn kín bịch ở các lơ khác nhau phụ thuộc vào độ ẩm của

nguyên liệu, độ già của giống nấm lúc cấy vào, thời tiết, khí hậu ở thời điểm

ni trồng... Vì khi ni trồng trong phòng thí nghiệm có thể chủ động về

nhiệt độ và độ ẩm, cũn ngoài thực tế điều kiện thời tiết thất thường. Tuy



53



nhiên, những kết quả bước đầu cho thấy các nghiên cứu về ni trồng nấm sò

và nấm linh chi trong điều kiện phòng thí nghiệm mà N.V.Quyết đã thu được có

thể đem ra áp dụng vào thực tiễn sản xuất ở quy mơ trang trại.

Đặc biệt, trong thí nghiệm của chúng tơi thời gian ươm sợi của nấm

sò trên cơ chất hỗn hợp bã sắn và rơm rạ đã giảm đi nhiều (50 – 55%) so với

ươm sợi nấm sò trên cơ chất là rơm rạ (thời gian kéo dài 20- 25 ngày tuỳ

theo mùa vụ và thời tiết) [1]. So với thời gian ươm sợi của nấm sò trên cơ

chất là bã sắn mà N.V.Quyết đã làm ở phòng thí nghiệm thì thời gian này có

nhanh hơn 1-2 ngày.

Chúng tơi tiến hành chăm sóc, thu hái nấm trong 65 ngày kể cả thời

gian nuôi sợi, tổng cộng khối lượng nấm tươi thu được trên các lô ghi lại ở

bảng 3- 3. Khi tính tốn năng suất bỡnh qũn/bịch tương đương với 1,2 –

1,5 kg nguyên liệu đã phối trộn và làm ẩm ở cỏc lụ để xem xét hiệu suất

trồng nấm ở cỏc lụ nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được ghi lại ở

bảng 3-3 và hình 3-2.

Bảng 3-3. Hiệu suất nấm sò trồng trên cơ chất bã sắn sau lên men



Lô TN



Khối lượng nấm (g/bịch)

sau các khoảng thời gian

thu hái

Lần 1



1

2

3

4

5

6

7



270

260

300

320

350

375

265



25

25

ngày ngày



Tổng



350

450

400

420

480

415

300



880

950

980

1035

1100

1150

810



260

240

280

295

270

360

250



Sản lượng nấm

(nguyên liệu đã

tạo ẩm)

Kg

Hệu

nấm/kg

suất

(%)

0,67

67,0

0,73

73,0

0,75

75,0

0,79

79,60

0,84

84,0

0,88

88,0

0,62

62,0



54



Sản lượng nấm

(ngun liệu khơ)

Kg

nấm/kg



Hiệu suất

(%)



1,30

1,40

1,46

1,54

1,64

1,71

1,16



130

140

146

154

164

171

116



Hình 3-2. Biểu đồ hiệu suất nấm sò trồng trên cơ chất bã sắn sau lên men

Kết quả ở bảng 3 – 3 cho thấy: Năng suất ở các lô 4, lô 5 và lô 6 cao

hơn các lô 1, 2, 3 và 7 đồng thời quả thể ở các lô này tương đối đồng đều ở

các lần thu hái, cuống quả thể to và mập. Ở các lô 1, 2, 3 và 7, quả thể nhỏ

hơn và ra khơng đồng đều. Năng suất nấm sò thu được trên cơ chất hỗn hợp

rơm và bã sắn của chúng tơi cao hơn năng suất nấm sò trồng trên rơm rạ

(trên rơm rạ đạt bình qũn 50 – 70% [1]), trong nghiên cứu này đạt 62%.

Tuy nhiên ở tất cả cỏc lô, sau 65 ngày thu hái bịch nấm đã teo đi rất nhiều, mặc

dù vẫn ra qua thể rải rác và rất ít ở các bịch, nên chúng tôi quyết định dừng thu

hái ở ngày 65.

Kết quả nghiên cứu của N.V.Quyết khi trồng nấm sò trên cơ chất là bã

sắn sau lên men và dừng thu hái nấm ở ngày thứ 70 hiệu suất cao nhất đạt

82,8% (nguyên liệu đã tạo ẩm) hoặc 165,7% (nguyên liệu khô). Trong

nghiên cứu này, khi bổ sung rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất để trồng nấm

hiệu suất đã được nõng lên, điển hình là ở các lơ 5 và 6 hiệu suất này lần lượt

là 84% và 88% (nguyên liệu đã tạo ẩm) hoặc 164,0 và 171% (nguyên liệu

khô).



55



Chúng tôi tớnh tốn hiệu quả kinh tế sản xuất nấm sò trên các loại cơ

chất khác nhau [1, 8] ghi lại ở bảng 3-4.

 Trên cơ chất là rơm rạ (chi phí cho 1 tấn rơm rạ)

+ Chi phí

Rơm rạ khơ

Túi nilon (30 ì 40 cm)

Bơng nút

Vơi bột, chun nịt

Giống nấm

Cơng lao động

Khấu hao nhà xưởng + dõy buộc

Điện nước + năng lượng sấy

Tổng chi phí cho 1 tấn rơm rạ

+Thu nhập

Năng suất thấp nhất 50%

Giá thành

Lợi nhuận

 Trên mùn cưa



1.000kg

6kg

6kg



ì 300đ/kg

ì 30.000

ì 15.000đ/kg



40kg

20 cơng



ì 12.000đ

ì 30.000



500kg

5.000.000



ì 10.000đ

– 2.160.00



= 300.000đ

= 180.000đ

= 90.000đ

= 10.000đ

= 480.000đ

= 600.000đ

= 250.000đ

= 250.000đ

= 2.160.000đ

= 500 kg

= 5.000.000đ

= 2.840.000đ



Cách tớnh toán tương tự như cơ chất là rơm rạ, chỉ khác ở 2 điểm

là:chi phí cho nguyên liệu và năng suất nấm thu được. Đối với mùn cưa chi

phí cho 1kg mùn cưa khơ là 500đ/kg, nên chi phí cho 1.000kg là 500.000đ

và tổng chi phí cho 1tấn nguyên liệu là 2.360.000đ. Năng suất nấm thu được

600kg, tổng thu được là 600kg ì 10.000đ = 6.000.000đ. Lợi nhuận thu

được/1tấn nguyên liệu là: 6.000.000đ – 2.360.000đ = 3.640.000đ

 Trên bã sắn (Theo tài liệu N.V.Quyết)

Cách tớnh toán tương tự như hai loại cơ chất trên, chỉ khác ở 2 điểm là:chi

phí cho nguyên liệu và năng suất nấm thu được. Đối với bã sắn chi phí cho

1kg nguyên liệu là 1.200đ, nên chi phí cho 1.000kg là 1.200.000đ và tổng chi

phí cho 1tấn nguyên liệu là 3.060.000đ. Năng suất nấm thu được 828kg

(Theo N.V.Quyết), tổng thu được là 828kg ì 10.000đ = 8.280.000đ. Lợi

nhuận thu được/1tấn nguyên liệu là: 8.280.000đ – 3.060.000đ = 5.220.000đ.

 Trên bã sắn + rơm rạ: Chi phí cho 1kg bã sắn là 1.200đ, 1kg



56



rơm rạ là 300đ. Tổng chi phí cho 1 tấn nguyên liệu (bã sắn + rơm rạ) là

3.120.000đ. Hiệu quả thu được là 880kg ì 10.000 = 8.880.000đ. Lợi nhuận

thu được thừ 1 tấn nguyên liệu: 8.880.000đ – 3.120.000đ = 5.760.000đ.

Bảng 3-4: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất các loại nấm ăn

Chi phí

Cơ chất



(1000đ/tấn

nguyên liệu)



Rơm rạ

Mùn cưa

Bã sắn

Bã sắn + Rơm rạ



2.160.000

2.360.000

3.060.000

3.120.000



Số lượng

nấm thu

hoạch được

(kg/tấn NL)

500

600

828

880



Giá trị bán ra

(x1000đ/tấn

nguyên liệu)

5.000.000

6.000.000

8.280.000

8.880.000



Lợi nhuận

(x1000đ/tấn

nguyên liệu)

2.840.000

3.640.000

5.220.000

5.760.000



Như vậy, bổ sung rơm rạ vào bã sắn làm cơ chất trồng nấm vừa nõng

cao năng suất, vừa tiết kiệm chi phí hơn cho nguồn nguyên liệu là bã sắn,vì

tớnh về giá thành thì rơm rạ rẻ tiền hơn rất nhiều so với bã sắn, đồng thời có

thể rút ngắn được thời gian cho một quy trình ni trồng so với trồng nấm

trên rơm rạ. Nồng độ bổ sung chúng tơi chọn ở đõy là 25% vì hiệu suất thu

hồi nấm cao và giá thành lại rẻ hơn.

 Ni cấy nấm sò trờn cơ chất bã sắn chưa lên men

Đối với bã sắn trước khi lên men chúng tơi cũng bố trí thí nghiệm

tương tự như cơ chất là bã sắn sau lên men thu enzyme. Thí nghiệm được

chia làm 7 lô như sau:

Lô 1: 100% cơ chất là bã sắn trước lên men

Lô 2: 5% rơm rạ và 95% bã sắn trước lên men

Lô 3: 10% rơm rạ và 90% bã sắn trước lên men

Lô 4: 15% rơm rạ và 85% bã sắn trước lên men

Lô 5: 20% rơm rạ và 80% bã sắn trước lên men

Lô 6: 25% rơm rạ và 75% bã sắn trước lên men

Lô 7: 100% cơ chất là rơm rạ



57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×