Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng1-1. Thành phần hố học của bã sắn phơi khơ [40 ]

(tính theo g/100g bã sắn phơi khơ)

Mẫu lấy từ cơ sở công nghiệp

Thành phần

Độ ẩm



Quy mô nhỏ (g)

13,00



Quy mô lớn (g)

12,50



Tinh bột



63,00



61,80



Sợi thô



14,50



12,80



Protein thô



2,00



1,50



Tro



0,65



0,58



Đường khử tự do



0,43



0,37



HCN



0,0087



0,0075



Polysaccharid khác



4,0113



8,4925



Các phương pháp xử lý bã sắn

Phương án xử lý bã sắn có hiệu quả nhất là tận dụng bã sắn để sản

xuất ra những sản phẩm có giá trị, vì như vậy có thể tiết kiệm được tồn bộ

hoặc đáng kể chi phí xử lý bã sắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các

cơ sở sản xuất. Ghildal và Losane (1990) đã xem xét, phõn tích lợi ích, tớnh

khả thi của các phương án xử lý bã sắn như sau:

Làm thức ăn cho động vật: Bã sắn sau khi phơi nắng hoặc sấy khô

thường được làm thức ăn cho gia súc, có thể cho ăn trực tiếp hoặc trộn lẫn

với các chất dinh dưỡng khác. Phương án này ít có hiệu quả kinh tế vỡ giỏ

bó sắn phơi khơ trên thị trường rất thấp. Ngồi ra, phơi bã sắn cũn phụ thuộc

vào điều kiện khí hậu, gõy mựi hơi và ở chừng mực nào đó có thể bị hư

hỏng. Hơn nữa, phơi bã sắn không thể áp dụng cho các cơ sở sản xuất lớn vì

lượng bã sắn thải ra hàng ngày quá lớn [3, 10 ]

Làm phân bón: Ngồi tinh bột và cellulose, bã sắn cũn một ít nitơ,

phospho, kali và các chất khoáng khác nên làm phõn bún rất tốt. Nhưng do



4



chi phí vận chuyển cao nên việc dùng bã sắn làm phõn bún chỉ giới hạn ở

khu vực gần nhà máy chế biến. Hơn nữa, lượng acid trong bã sắn ảnh hưởng

đến chất lượng phõn bún, những chất dễ bay hơi trong bã sắn ảnh hưởng xấu

đến mơi trương sinh thái, nên ít được quan tõm.

Sản xuất xirụ glucose: Đó cú cỏc nghiên cứu sử dụng kỹ thuật acid –

enzyme và enzyme – enzyme ở mức độ phù hợp để chuyển được 98-99%

tinh bột có trong bã sắn thành sirụ chứa lượng glucose cao (70% lượng

đường khử). Căn cứ vào ước tớnh chi phí thì quy trình trên khơng kinh tế vì

chi phí cơ đặc sản phẩm thuỷ phõn cao, phải dùng nhiều than hoạt tớnh để

khử màu, khó khuấy trộn khối bã sắn dày trong nồi, nên truyền nhiệt không hiệu

quả [13 ].

Sản xuất rượu Etylic: Sau khi thuỷ phõn tinh bột có trong bã sắn theo

quy trình acid – enzyme, cơ đặc để đạt lượng đường 15%, lên men rượu bằng

cách sử dụng nấm men Saccharomyces cerevisiae FT-18. Quá trình thuỷ

phõn tinh bột ở bã sắn chỉ đạt khoảng 7% đường khử. Nếu muốn có dịch

đường đạt đến 15%, có thể sử dụng hai phương án: hoặc cho thêm mật mớa

vào hoặc cô đặc sản phẩm thuỷ phõn. Tuy nhiên cả hai phương án đều kém

khả thi. Thêm vào đó lượng nước thải ra từ các nhà máy sẽ nhiều hơn và làm

phát sinh chi phí xử lý nước thải cao hơn [3 ]

Làm cơ chất cho quá trình lên men ở trạng thái rắn: Đã có một số

cơng trình nghiên cứu sử dụng bã sắn thay thế cho cám lúa mì trong quá

trình lên men VSV ở trạng thái rắn nếu bã sắn được bổ sung thêm nguồn

nitơ. Quy trình này có tớnh kinh tế vì chi phí phơi khơ bã sắn chỉ bằng

khoảng 1/3 chi phí cho cám lúa mì [23 ]

Trong những năm gần đõy trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số

nghiên cứu về sử dụng bã sắn làm cơ chất lên men thu sinh khối và enzyme

vi sinh vật:



5



Barbasova M.C.S và cộng sự năm 1996 đã dùng bã sắn để ni cấy

nấm Sò Pleurotus sajorcaju thu được kết quả tốt. Nấm sẽ phát triển mạnh khi

bổ sung thêm vào bã sắn 0,8g/kg cao nấm men.

M.R Beux và cộng sự năm 1996 cũng thông báo họ đã sử dụng bã sắn

và bã mớa để nuôi nấm linh Chi (Lentinula edodes).

Balagopalan,



Padmaja







George



cấy



Trichoderma



pseudokoningiirifar trên bã sắn có sử dụng 0,15% (NH 4)2SO4, sau 24 ngày

hàm lượng protein thô đạt 6,18%. Nếu sử dụng Aspergillus niger lên men bã

sắn ở 300C, độ ẩm 60%, sau 5 ngày lên men hàm lượng protein đạt 7,7%.

M. Raimbault và C.Ramires Tora, 1997 đã dùng Rhizopus có khả năng

phõn giải tinh bột sống cấy lên bã sắn đã được khử trùng bằng hơi nước. Kết

quả, hàm lượng protein trong bã sắn được tăng lên 14%. Nếu dùng 50% bã

sắn + 50% bột đậu tương thì hàm lượng protein thu được là 20%.

Ở Việt Nam, bã sắn chủ yếu sử dụng để làm thức ăn gia súc trực tiếp,

ủ chua hay phơi khô nhưng chất lượng khơng cao. Đã có nhiều nghiên cứu

nhằm tận dụng và nõng cao chất lượng bã sắn từ quá trình sản xuất tinh bột

thủ công hoặc bán công nghiệp bằng cách dùng men thuốc bắc, sau 12 ngày

lên men có thể tăng tỷ lệ protein của bã sắn lên tới 8-9 lần, trung bình tăng 45 lần [25].

Nguyễn Thị Xũn Sõm, 1995 dùng hỗn hợp hai giống Phanerochaete

chrysosporium và Endomycopsis fibuligera để lên men trong môi trường

70% bã sắn, 30% chất dinh dưỡng đã thu được chế phẩm có hàm lượng protein

15-17%, không chứa độc tố và đã được thử nghiệm làm thức ăn cho gia súc có

hiệu quả.

Nguyễn Thạc Hoà, 1999 cũng sử dụng hai chủng trên để lên men trên

môi trường gồm bã sắn 75-80%, cám gạo 15-20% và các muối vô cơ bổ sung

làm thức ăn gia súc.



6



Đặng Văn Lợi, 2000 cũng đã sử dụng chủng A.niger phõn lập được từ

bã sắn của nhà máy sản xuất tinh bột để lên men bã sắn làm thức ăn cho gia

súc. Sau 21 giờ lên men hàm lượng protein thơ đạt 10,1% chất khơ, trong

q trình lên men bã sắn bởi A.niger, xianua bị thuỷ phõn hoàn toàn, sản

phẩm không chứa độc tố aflatoxin.

Bùi Thị Quỳnh Vân, 2000 đã nghiên cứu sử dụng tổ hợp các vi sinh vật

Saccharomyces cerevisiae NM7, Aspergillus oryzae NM1 và Aspergillus niger

BS2 để lên men bã sắn phế thải nhằm nâng cao chất lượng bã sắn phế thải. Sau

khi xử lý bã sắn theo hai phương án trực tiếp và gián tiếp, trong bã sắn chứa

10,84% protein, 2,4IU/g amylase, 1,65IU/g cellulase (xử lý trực tiếp) và

12,96% protein, 2,54IU/g amylase, 1,8IU/g cellulase (xử lý gián tiếp).

Đoàn Văn Thược, 2005, tuyển chọn được chủng B.subtilis V37 sinh

amylase và protease trên cơ chất bã sắn.

Ngơ Thanh Xũn, 2006, thu chế phẩm dạng thô enzym phytase từ lên

men bã sắn ứng dụng thử nghiệm trên lợn thu được kết quả tốt.

Nguyễn Văn Quyết, 2007, sử dụng cơ chất là bã sắn sau lên men chiết

xuất enzyme đã nuôi trồng thành cơng nấm ăn (nấm sò) và nấm dược liệu

(nấm linh chi) với năng suất tương ứng là 82,8% và 10,8%.

Các nghiên cứu nhằm sử dụng bã sắn để sản xuất amylase, protease,

cellulase, xylanase dùng cho chăn nuôi đang được Bộ môn CNSH-VS,

ĐHSP Hà Nội tiếp tục triển khai.

1.2 Công nghệ trồng nấm ăn, nấm dược liệu từ các phế phụ phẩm

nông nghiệp

1.2.1 Khái quát về ngành sản xuất nấm ở Việt Nam

Nấm được trồng ở hơn 100 quốc gia và việc sản xuất nấm hàng năm

tăng 7%. Sản xuất nấm hàng năm trên thế giới đã vượt mốc 5 triệu tấn (theo

tổ chức Nông Lương thế giới FAO- 2006) và dự kiến đạt khoảng 7 triệu tấn

trong 10 năm tiếp theo. Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới bao gồm



7



Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hà Lan, Pháp, Ba Lan, Tõy Ban Nha và Canađa. Từ

năm 2003, việc sản xuất nấm của Việt Nam ngày càng gia tăng đáng kể và

Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nấm rơm đứng thứ 3 trên thế giới.

Kể từ năm 1990, ở Việt Nam sản xuất nấm được xem là ngành mang

lại hiệu quả kinh tế cao thu hút sự tham gia của nhiều bà con nơng dõn. Các

lồi nấm chớnh được sản xuất tại các trang trại nấm ở miền Nam là nấm sò

và nấm rơm, cũn ở miền Bắc bao gồm các loài nấm như nấm hương, nấm tai

mèo, nấm linh chi (Ganoderma lucidum)- một loài nấm được dùng làm

thuốc và nấm hương (Lentinus edodes). Trong những năm qua, sản xuất nấm

hàng năm đạt 15.000 tấn nấm tươi. Các vùng sản xuất nấm chớnh ở việt

Nam là Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên và Hà Nam (vùng đồng

bằng sơng Hồng có số lượng lớn nấm Hương), Đồng Tháp, Tõy Ninh, Sóc

Trăng có qui mơ lớn về sản xuất nấm Rơm. Vùng sản xuất nấm tai mèo

chớnh là Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Khoảng 60% số lượng nấm được bán cho thị trường trong nước chủ

yếu là sản phẩm nấm tươi, 40% cũn lại được xuất khẩu sang thị trường nước

ngoài với giá trị hàng năm đạt 40 triệu USD. Các sản phẩm nấm xuất khẩu

chủ yếu được đóng hộp và xuất khẩu bằng đường biển sang thị trường các

nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ý.

Định hướng và chiến lược của Việt Nam đối với ngành hàng nấm

đến năm 2010 là tận dụng 10% rơm rạ từ việc sản xuất lúa, mùn cưa từ

chế biến gỗ và các bã mía (khoảng 4 triệu tấn ngun liệu thơ) để sản xuất

nấm với chỉ tiêu đạt 1 triệu tấn nấm tươi (trong đó 50% cho tiêu thụ trong

nước và 50% cho xuất khẩu).

1.2.2 Giá trị dinh dưỡng và làm thuốc của nấm

1.2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của nấm ăn

Việc trồng nấm ăn đã được phát triển trong thời gian trước đõy và

ngày nay đã trở thành một hoạt động kinh tế có tầm quan trọng. Nấm được



8



trồng trên tồn thế giới nhất là các loài của chi Agaricus (nấm mỡ),

Pleurotus (nấm sò), Lentinus (nấm hương), Auricula (mộc nhĩ), Volvariella

(nấm rơm) ... [44 ].

Dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh có vai trò rất quan trọng

khơng chỉ trong cuộc sống hàng ngày của con người, mà cũn có vai trò trong

điều trị các bệnh món tớnh. Nấm được các bác sĩ trên tồn thế giới cơng

nhận là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng có đặc tớnh chữa bệnh (bảng 12, 1-3, 1-4) [8 ]. Các tổ chức y tế đang tích cực kiểm tra hiệu quả sử dụng

nấm cho hỗ trợ nghiên cứu lõm sàng hoặc cho phương pháp điều trị của bệnh

nhõn bị bệnh HIV, ung thư, béo phì và các bệnh thần kinh. Rất ít nghiên cứu

về tớnh chất dinh dưỡng của nấm. Bởi vì, hầu hết nấm tươi có tới 90% là

nước, do đó phõn tích dinh dưỡng dựa vào trọng lượng khơ của nó sẽ có hiệu

quả hơn khi so sánh với các thực phẩm khác. Nấm rất giàu protein và các

acid amin, trong đó có nhiều loại khơng thay thế được, khơng gõy xơ cứng

động mạch và không làm tăng lượng cholesterol trong mỏu như nhiều loại

thịt động vật. Carbohydrate đơn giản rất thấp, các chất chống oxy hố cao và

rất ít chất béo. Thành phần của nấm thiếu cholesterol, vitamin A, hoặc

vitamin C, nhưng có nguồn vitamin B phức tạp như: Riboflavin (B2), niacin

(B3)... , và khoáng chất như phospho (P), Kali (K), Natri (Na) ... khơng có

các độc tố. Bởi vậy, nấm được xem như một loại “rau sạch” và “thịt sạch”,

được sử dụng ngày càng rộng rói trong các bữa ăn [50 ] .

Giá trị dinh dưỡng của một số nấm ăn phổ biến (so với trứng gà) [8 ].

Bảng 1-2. Thành phần dinh dưỡng của nấm (% chất khô)



Trứng

Nấm mỡ

Nấm hương

Nấm sò

Nấm rơm



Độ ẩm

(%)

74

89

92

91

90



Protein

%

13

24

13

30

21



Lipid

%

11

8

5

2

10



9



Carbohy

drate %

1

60

78

58

59



Tro

%

0

8

7

9

11



Năng lượng

(Calo)

156

381

392

345

369



Bảng 1-3. Hàm lượng vitamin và chất khống trong nấm

(Đơn vị tính : mg/100g chất khơ)

Axit



Riboflav



Thiam



Axit



Sắt



Canxi



Phosp



nicotinic



in



ine



ascorbic



Trứng



0,1



0,31



0,4



0



2,5



50



210



Nấm mỡ



42,5



3,7



8,9



26,5



8,8



71



912



Nấm hương



54,9



4,9



7,8



0



4,5



12



171



Nấm sò



108,7



4,7



4,8



0



15,2



33



1348



Nấm rơm



91,9



3,3



1,2



20,2



172,



71



677



ho



Bảng 1-4. Thành phần acid amin khơng thay thế có trong nấm

(Đơn vị tính: mg trong 100g chất khơ)



Trứng

Nấm mỡ

Nấm hương

Nấm sò

Nấm rơm



Lisyne



Histidi



Arginin



Threonin



Valine



913

527

174

321

384



n

295

179

87

87

187



790

446

348

306

366



616

366

261

264

375



859

420

261

390

607



Methionin Isoleucine Leucine

406

126

87

90

80



703

366

218

266

491



1193

580

348

390

312



Hàm lượng đạm (protein) của nấm thấp hơn thịt, cá nhưng lại cao hơn

bất kì một loại rau quả nào khác. Đặc biệt có sự hiện diện gần như đủ mặt

các loại acid amin khơng thay thế, trong đó có 9 loại acid amin cần thiết cho

con người. Nấm giàu leucine và lysine là 2 loại acid amin ít có trong ngũ cốc

[7 ]. Nấm ăn thơm, ngon và có hương vị hấp dẫn là do trong protein của nấm



gồm nhiều acid amin tự do và những hợp chất thơm đặc thù của từng loại

nấm. Như nấm hương có chất Guanosine 5’-monophosphat tạo ra hương vị

thơm đặc trưng (Nakajima; Mouri và cộng sự 1969) [1 ].

Hàm lượng chất béo thô (lipid) trong nấm ăn dao động từ 1% tới 1520% theo trọng lượng khô, nhưng tất cả đều thuộc các axit béo không no như

mono, đi, tri-glycerid, steral, sterol este và phospholipid (Holtz và Schider



10



1971). Trong bào tử nấm linh chi, chất béo không no gồm acid oleic

(55,2%), acid linoleic (16,5%), acid palmitic (19,8%) (Trần Thế Cường1997). Sử dụng nấm có các acid béo khơng no hồn tồn có lợi cho sức khoẻ

con người [1 ].

Trong nấm ăn có tới 30-93% là chất Glucid nó khơng chỉ là chất dinh

dưỡng mà cũn là chất đa đường (polysaccharide) và hợp chất của đa đường

có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u. Thành phần đa đường trong

nấm ăn là các đường đơn như Glucose, semi-lactose, xylose, arabinose [1].

Thành phần cellulose trong nấm ăn bình qũn là 8%. Cellulose của

nấm có tác dụng chống lại sự lắng kết của muối mật và làm giảm hàm lượng

cholesterol trong mỏu, nhờ thế mà phũng được sỏi thận và huyết áp cao. Do

đó thường xuyên ăn các loại nấm như nấm hương, nấm mỡ, nấm sò, nấm

rơm ... rất có lợi cho sức khoẻ [1].

Vitamin là loại hợp chất hữu cơ không thể thiếu được trong cuộc sống

của con người mà phần lớn vitamin phải do thức ăn cung cấp. Trong nấm ăn

có nguồn vitamin phong phú, nhất là B1, B2, C, PP, B6, acid folic B12;

caroten dưới các dạng hợp chất thiamine, riboflavin, niacin, biotin, axit

ascorbic. Do đó, sử dụng nấm ăn ta có thể khắc phục được các chứng viêm

thần kinh, viêm mép, viêm đầu lưỡi, bại huyết, nóng trong [1].

Tương tự như hầu hết các loại rau quả, nấm là nguồn khoáng rất tốt.

Hàm lượng các chất khoáng trong nấm dao động từ 3-10% trung bình là 7%.

Thành phần khống chủ yếu là phospho (P), Natri (Na), Kali (K). Nấm

hương, nấm mỡ, nấm sò chứa nhiều K có lợi cho sức khoẻ người già. Nấm

mỡ có chứa nhiều P; Na; K rất tốt cho quá trình trao đổi chất ở hệ thần kinh của

con người [7 ].

Như vậy, ngoài việc cung cấp đạm và đường nấm cũn góp phần bồi

dưỡng cơ thể nhờ vào sự dồi dào về khoáng và vitamin (bảng 1-3).

1.2.2.2 Giá trị làm thuốc của nấm dược liệu



11



Từ ngàn năm nay, nấm linh chi đã được đánh giá là loại thuốc quí,

hiếm và đắt tiền hàng đầu trong nền y học cổ truyền của nhiều nước phương

Đơng, trong đó có Việt Nam. Các thầy thuốc Trung Hoa gọi linh chi là thuốc

thần tiên, nấm Trường thọ ... Từ khi phương pháp nuôi trồng nhõn tạo được

áp dụng và những công trình nghiên cứu khoa học về thành phần và tác dụng

dược lý, y học về nấm linh chi được công bố, loại nấm này ngày càng được

sử dụng rộng rói làm phương thuốc phòng và chữa nhiều loại bệnh tật cũng

như để tăng cường, bồi bổ sức khoẻ.

Tác dụng phòng và chữa bệnh của linh chi liên quan đến nhiều hệ

thống và cơ quan của cơ thể. Hầu hết các nghiên cứu khoa học đều đưa đến

kết luận về vai trò của linh chi như là chất làm bình thường hố các cơ quan

và tổ chức của cơ thể thơng qua khả năng tự điều chỉnh của nó [5,60 ]. Dưới

đõy là một số công dụng chữa bệnh phổ biến của nấm linh chi

1) Chữa các bệnh về hệ tim mạch và đường huyết:

Nấm linh chi làm giảm cholesterol, giảm lượng đường trong mỏu, điều

hoà và ổn định huyết áp, chống xơ vữa động mạch, chống tụ mỏu, chữa bệnh

giảm bạch cầu , tiểu đường ... [21, 2, 16, 43, 60].

2) Điều trị u bướu, ung thư:

Nguyên nhõn chớnh gõy ra sự phát triển của u bướu là sự rối loạn hay

giảm chức năng miễn dịch của cơ thể, G.lucidum điều chỉnh, hoạt hoá hệ

thống miễn dịch và ngăn chặn sự phát triển các u bướu. Thành phần chớnh

kháng u là các polysaccharide, tritecpen, lectin ... [43, 60]

3) Điều trị HIV

Nấm linh chi được sử dụng để hỗ trợ các loại thuốc điều trị HIV khác

(ví dụ thuốc AVR) cho kết quả khả quan hơn khi chỉ dùng riêng các loại

thuốc ấy [43, 60].

4) Bảo vệ gan thận và chữa các tổn thương về gan



12



Nấm linh chi có tác dụng bảo vệ gan khỏi các tổn thương do nhiều nhân

tố, hiệu quả thu được ngay cả trước và sau khi có tổn thương. Nó đẩy mạnh sự

chuyển hoỏ cỏc chất độc và thuốc trong gan để hồi sinh các tế bào gan bị

nhiễm độc. Do đó nó được dùng để chữa bệnh viêm gan mãn tính như viêm

gan B, các chứng nhiễm độc và các bệnh về gan khác, loại trừ các triệu chứng

như vàng da, giảm cân, chóng mặt, mệt mỏi, chán ăn ... Nấm linh chi cũng có

tác dụng hỗ trợ thận thực hiện chức năng điều hoà của mình [43, 60].

5) Chữa các bệnh về đường hơ hấp như hen, viêm phế quản món tớnh và các

bệnh dị ứng thông thường

Bằng cách chặn đứng các chất gõy nên chứng viêm và tăng cường hệ

thống miễn dịch, các triệu chứng hen và cảm cúm sẽ giảm, bệnh hen vì thế

mà đỡ trầm trọng. Các sản phẩm của nấm linh chi được sử dụng làm chất

chất chống ho và chất long đờm. Nấm linh chi cũng tăng cường sự tái tạo các

tế bào khí quản và các biểu mơ khí đạo, đặc biệt quan trọng với các bệnh

nhõn nghiện thuốc lá (lào) và bị viêm phế quản món tớnh [28, 60].

6) Chữa bệnh về đường tiêu hoá

Nấm linh chi có tác dụng làm giảm lượng acid trong dạ dày. Lượng

acid này khi quá dư sẽ dẫn đến sự viêm loét dạ dày và hệ thống tiêu hoá.

Linh chi cũng có tác dụng điều chỉnh nhu động ruột, do đó chữa được các

triệu chứng táo bún và tiêu chảy do hội chứng đường ruột bị kích thích [60]

7) Chữa các bệnh về suy nhược thần kinh, mệt mỏi

G.lucidum được sử dụng để điều trị chứng suy nhược thần kinh và mất

ngủ vì nó tác động lên hệ thần kinh trung ương, làm ổn định hoạt động của

cơ thể [43, 63 ]].

8) Hỗ trợ các q trình hố trị liệu và xạ trị liệu làm giảm các tác dụng phụ

như sự mệt mỏi, sự chán ăn, sự chốn tuỷ xương, rụng tóc, buồn nơn, viêm

miệng, mất ngủ ... [60].

9) Chăm sóc sắc đẹp



13



G.lucidum được gọi là “thuốc trường sinh”, giúp bảo vệ da và ngăn

ngừa sự lóo hố. G.lucidum duy trì và điều chỉnh lượng nước trong da, giữ

da mềm, mịn, sáng. Nó cũng ức chế sự hình thành và phá huỷ của sắc tố

melamin. G.lucidum cũng có tác dụng chống rụng tóc [60].

Ngồi các tác dụng kể trên, nấm linh chi cũn được sử dụng để điều trị

các triệu chứng viêm da, xơ cứng bì ... [28, 5]

Những nghiên cứu cho thấy thành phần chớnh của G. lucidum bao

gồm các polysaccharide, các acid béo chưa no, alcaloid, nucleotit, các

aminoacid, cumarin, manitol, lacton, các nguyên tố vi lượng và các vitamin,

các tripecpen. Trong đó thành phần có hoạt tớnh sinh học là các

polysaccharide, các tritecpen, sterol, lectin và protein. Hoạt tớnh sinh học

của một số hợp chất trong nấm linh chi được tổng kết như sau:

1) Hoạt tớnh kháng virut, kháng khuẩn

Các nghiên cứu chỉ ra rằng G.lucidum có tác dụng kháng virut và

kháng vi khuẩn (yếu hơn). Hoạt tớnh kháng vi khuẩn Gram (+) đã được tỡm

thấy ở các dịch chiết của cuống G.lucidum [45]. Các dịch chiết trong

methanol của thể sợi nấm G.lucidum ức chế B.subtilis và S. aureus [35].

Yoon và ctv., năm 1994 nghiên cứu tác dụng hỗ trợ của dịch triết trong nước

của cuống bào tử G.lucidum với bốn loại kháng sinh đã biết (ampiciline,

cephazolin, oxytetracylin, và chloramphenicol). Kết quả có ba trường hợp

đều có tác dụng hiệp lực, riêng cephazolin cho tác dụng ngược nhau khi

kháng vi khuẩn Bacillus subtilis và Klebsiella oxytoca [62]. Một số dịch

chiết trong nước và methanol của bào tử G.lucidum thể hiện khả năng kháng

lại năm dòng virut gõy bệnh như virut herpec loại 1 (HSV-1), loại 2 (HSV-2),

virut cúm A (Flu A) và virut gõy nhọt ở miệng (SVS) [37]

2) Hoạt tớnh kháng u, chống ung thư

U bướu, đặc biệt ung thư là một trong những nguyên nhõn gõy tử

vong hàng đầu trên thế giới. Giá trị phòng và chữa trị những loại bệnh này



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×