Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ - 0trang

thay đổi này bị ảnh hưởng bởi ba nguyên nhân chính: kỳ vọng về sự bất thường trong

tỷ giá hối đoái chỉ là nhất thời, cách nhìn nhận đối với vàng có thể bị ảnh hưởng bởi

những vấn đề trong nước sản xuất vàng và cách nhìn nhận đối với vàng có thể thay đổi.

Những ví dụ khác của các nghiên cứu xem xét các đặc điểm tài chính của vàng bao

gồm Faugere và Van Erlach (2006), Lucey (2006) và Sherman (1982).

Đối với tài sản trú ẩn an toàn và vai trò của nó trong các thị trường tài chính,

Ranaldo và Soderlind (2007) đã phân tích tài sản an toàn đối với các loại tiền tệ khác

nhau (tương tự với Kaul và Sapp, 2006). Upper (2000) xem xét vai trò của từng tài sản

an toàn cụ thể, ví dụ trái phiếu chính phủ Đức trong suốt thời kì thị trường căng thẳng.

Nghiên cứu hành vi của từng bộ phận các nhà đầu tư khác nhau cũng liên quan đến vấn

đề xem xét tài sản an toàn của chúng ta. Bài nghiên cứu sự truyền dẫn tài chính xem

xét nhà đầu tư đối với những cú sốc của thị trường tài chính ( Forbes và Rigobon,

2002).

Calvo và Mendoza (2000) cho thấy các nhà đầu tư trong các thị trường mới nổi

khi phải đối mặt với những tổn thất sẽ có xu hướng dịch chuyển danh mục đầu tư của

họ đến với danh mục đầu tư trung bình, điều này phản ánh mối quan tâm của các nhà

đầu tư, không chỉ về tỷ suất sinh lợi mà còn về thành quả của các nhà đầu tư khác.

Bằng chứng về vị thế của vàng được xem như một tài sản an toàn được trình bày

bởi Baur và Lucey (2009). Bằng cách xem xét vai trò của vàng đối với thị trường

chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ở ba quốc gia là Mỹ, Anh và Đức, họ đã phân tích

xem vàng có hoạt động như một tài sản an toàn trong các thị trường tài chính hay

không. Hơn thế nữa, tài sản an toàn còn được phân biệt với tài sản phòng ngừa và tài

sản đa dạng hóa, là những tài sản mang lại những lợi ích khác nhau cho nhà đầu tư

trong xuyên suốt giai đoạn thị trường, thế nhưng lại không thực sự hữu dụng khi nhà

đầu tư cần nhất trong các giai đoạn thị trường nhiễu loạn. Kết quả của họ đã chỉ ra rằng

vàng là tài sản an toàn đối với cổ phiếu, nhưng không phải là tài sản an toàn đối với trái

phiếu. Đồng thời, vàng chỉ biểu hiện tính chất an toàn của mình trong một khoảng thời

gian giới hạn, khoảng 15 ngày giao dịch. Trong dài hạn, vàng không còn tài sản an toàn

nữa, và khi đó, nếu nhà đầu tư nắm giữ vàng hơn 15 ngày giao dịch kể từ khi cú sốc

5



xấu lớn xảy ra thì họ sẽ mất đi khoản đầu tư vàng của mình. Phát hiện này cho thấy nhà

đầu tư nên mua vàng trong những ngày tỷ suất sinh lợi âm thấp nhất và bán nó đi khi

thị trường có những dấu hiệu hồi phục và sự bất ổn thị trường giảm xuống. Kết quả của

họ còn cho thấy có một sự khác nhau lớn nếu như nhà đầu tư nắm giữ vàng trong suốt

thời gian thị trường và khi nhà đầu tư mua vàng chỉ sau khi những cú sốc xấu nhất xảy

ra. Và điều này, sẽ quyết định việc họ có bị giảm giá trị của danh mục đầu tư hay

không?

Một bài nghiên cứu khác Baur và Mc Dermott (2009),được dựa trên bài nghiên

cứu của Baur và Lucey (2009) phân tích vai trò của vàng đối với hệ thống toàn cầu.

Họ đã xem xét nó đối với 53 nước trên toàn thế giới, trong đó có các nước phát triển và

các nước mới nổi nhằm xem xét vai trò của vàng như một tài sản an toàn, giúp bảo vệ

các nhà đầu tư khỏi những tổn thất của thị trường tài chính. Tác động của tài sản an

toàn được tìm thấy ở hầu hết những thị trường cổ phiếu của các nước phát triển. Tuy

nhiên, những phất hiện này biểu hiện mạnh nhất khi chúng ta xem xét trong dữ liệu

ngày, đặc biệt là khi những cú sốc xấu nhất xảy ra với xác xuất nhỏ hơn 1%. Kết quả

của họ cũng chỉ ra rằng nhà đầu tư phản ứng lại với những cú sốc xấu nhất có thời gian

sống ngắn bằng cách tìm kiếm sự an toàn trong vàng. Trong trường hợp này, vàng sẽ

được mua với khối lượng lớn để đối đầu với hậu quả tức thì mà những cú sốc xấu nhất

mang lại. Những xu hướng từ từ đối với những tổn thất hàng tuần hoặc hàng tháng ở

những thị trường cổ phiếu dường như không cho thấy những phản ứng tương tự từ nhà

đầu tư. Kết quả của Baur và Mc Dermott (2009) còn cho thấy có sự khác nhau giữa các

thị trường phát triển và các thị trường mới nổi trong cách mà nhà đầu tư phản ứng với

những cú sốc. Vàng biểu hiện tốt nhất là một tài sản an toàn yếu cho một vài thị trường

mới nổi. Phát hiện này cho thấy tài sản an toàn chỉ đóng vai trò thứ yếu trong hệ thống

tài chính của các thị trường mới nổi. Ở các thị trường mới nổi, nhà đầu tư thà chịu tổn

thất hơn là tìm kiếm cho mình một tài sản an toàn thay thế khác; và có thể, họ chỉ đơn

giản là điều chỉnh danh mục đầu tư của họ hướng đến một danh mục trung bình bằng

cách rút ra khỏi thị trường mới nổi và chuyển qua những thị trường phát triển. Điều

này phản ánh, nhà đầu tư không những lo lắng về thành quả của họ mà còn lo lắng về

6



thành quả của họ đối với các nhà đầu tư khác. Ngoài ra, họ còn xem xét kĩ hơn trong

những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, và phát hiện thấy vàng là một tài sản an toàn

mạnh đối với hầu hết các thị trường phát triển, tuy nhiên, tính chất tài sản an toàn của

vàng lại không rõ ràng đối với các nước Châu Á.

Bài nghiên cứu của Ciner, Gurdgiev và Lucey (2010) dựa trên hai bài nghiên

cứu Baur, Lucey (2009) và Baur, Mcdermott (2009), đã nghiên cứu về vai trò tổng thể

của những tài sản được xem như là sự phòng ngừa hay sự an toàn đối với những tài

sản thông thường. Bằng cách sử dụng cách phân loại mới của tài sản phòng ngừa đối

với tính chất an toàn, họ đã phát hiện thấy rằng vàng và dầu vẫn được xem là những

công cụ hữu ích nên cân cân nhắc thêm vào danh mục đầu tư. Vàng đóng vai trò là tài

sản an toàn đối với cổ phiếu và Đôla, trong khi đó, dầu đóng vai trò là tài sản an toàn

đối với Đôla và trái phiếu.

Bài nghiên cứu này của chúng ta được xây dựng chủ yếu dựa trên hai bài nghiên

cứu của Baur, Lucey (2009) và Baur, Mcdermott (2009) nhằm đánh giá vai trò của vàng

đối với một thị trường tài chình mới nổi và còn khá bấp bênh ở Việt Nam.



3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỊNH NGHĨA

3.1.1. Khái niệm tài sản an toàn, tài sản phòng ngừa, tài sản đa dạng hóa

Trong phần này, chúng ta sẽ thảo luận về những định nghĩa và ly lẽ để làm cơ sở

cho những kết quả phân tích được tính toán bởi phương pháp và mô hình ở phần 5.

Nếu nhà đầu tư muốn giảm tổn thất trong giai đoạn thị trường căng thẳng hoặc nhiễu

loạn, thì họ có thể thêm vào danh mục của họ nhiều hơn các tài sản phòng ngừa hoặc

tài sản đa dạng hóa nhằm giảm đi những bất lợi của những cú sốc xấu mang lại và tăng

tính ổn định cho thị trường vốn.

Chúng ta sẽ chỉ ra rằng mức lợi ích của nhà đầu tư sẽ tăng lên nếu họ mua một tài

sản mà có thể giảm tổn thất, và đó phải là các tài sản phòng ngừa hoặc đa dạng hóa, có

nghĩa là, các tài sản đó không mất giá trị của nó trong giai đoạn mà điều kiện thị trường

xấu nhất (ví dụ như khủng hoảng tài chính) và do vậy mà nó biểu hiện một mối tương

quan bằng zero hoặc âm với danh mục chuẩn trong thời gian này. Tài sản này được

7



định nghĩa như là một tài sản an toàn (tài sản trú ẩn an toàn). Để phân biệt tài sản an

toàn với tài sản phòng ngừa và tài sản đa dạng hóa, chúng ta sẽ định nghĩa chính xác ba

loại tài sản đó dưới đây trước khi chạy mô hình thực nghiệm.





Tài sản phòng ngừa: một tài sản phòng ngừa được định nghĩa như là một



tài sản không có mối tương quan (yếu) hoặc có mối tương quan âm (mạnh) với

tài sản hoặc với danh mục điển hình khác. Một tài sản phòng ngừa thật sự thì se

có có mối tương quan âm với tài sản hoặc danh mục điển hình khác.

Một tài sản phòng ngừa không có tính chất làm giảm tổn thất trong thời kì thị

trường căng thẳng hoặc nhiễu loạn bời vì tài sản này có thể biểu hiện một mối

tương quan dương trong thời kì này và một mối tương quan âm trong các thời kì

bình thường khác với một mối tương quan âm trung bình.



Tài sản đa dạng hóa: một tài sản đa dạng hóa được định nghĩa như là

một tài sản có mối tương quan dương (nhưng không hoàn toàn) với những tài

sản hoặc các danh mục điển hình khác.

Tương tự như tài sản phòng ngừa, tài sản đa dạng hóa không có tính chất làm

giảm tổn thất trong các điều kiện thị trường xấu nhất bởi vì tính chất tương quan

chỉ đòi hỏi để các nhà đầu tư nắm giữ một cách bình thường.



Tài sản an toàn (nơi trú ẩn an toàn): Một tài sản an toàn được định nghĩa

như là một tài sản không có mối tương quan (yếu) hoặc có mối tương quan

âm(mạnh) với những tài sản khác hoặc danh mục khác trong thời kì thị trường

căng thẳng hoặc nhiễu loạn.

Tính chất đặc biệt này của tài sản an toàn đươc hiểu là có mối tương quan không

dương với một danh mục trong các điều kiện thị trường xấu nhất. Điều này

không bắt buộc mối tương quan là âm hay dương trong suốt thời kì trung bình,

mà chỉ là bằng zero hoặc âm trong các thời kì đặc biệt. Do đó, trong các thời kì

bình thường hoặc các điều kiện thị trường đi lên, mối tương quan này có thể âm

hoặc dương.

Nếu tài sản an toàn có mối tương quan âm với những tài sản hoặc danh mục

khác trong các điều kiện thị trường xấu nhất, nó bù (ít nhất một phần) cho các

nhà đầu tư các tổn thất bởi vì sự tăng lên của giá tài sản an toàn khi giá của các

tài sản hoặc danh mục khác giảm xuống.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×