Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Công nghệ tạo phôi từ gỗ xẻ

Công nghệ tạo phôi từ gỗ xẻ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hóa học hóa ly polymer

Trình độ của cơng tác pha phôi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm,

tỷ lệ lợi dụng vật liệu và năng suất lao động, vì thế, phải được coi trọng.

Khi pha phơi phải nắm vững một số điểm sau đây:

Căn cứ vào yêu cầu của chất lượng sản phẩm chọn vật liệu hợp lý, xác định

hợp lý lượng dư gia công và yêu cầu độ ẩm của gỗ xẻ, chọn chính xác phương

thức pha phôi và phương pháp gia công.

Chọn vật liệu hợp lý theo yêu cầu chất lượng sản phẩm

Sản phẩm yêu cầu kỹ thuật khác nhau, chi tiết ở các vị trí khác nhau trong

cùng 1 sản phẩm, yêu cầu đối với vật liệu thường khơng hồn tồn giống

nhau, mà phải căn cứ vào yêu cầu chất lượng sản phẩm để chọn loại gỗ, cấp,

độ ẩm và chiều thớ... mới tạo tiền đề đảm bảo chất lượng, sử dụng hợp lý, tiết

kiệm vật liệu, nâng cao tỷ lệ tạo phôi thô (tỷ lệ pha phôi) và năng suất lao

động, đạt được chất lượng sản phẩm cao, tiêu hao nguyên liệu thấp.

Pha phôi gỗ xẻ có thể dùng ván còn bìa, cũng có thể dùng ván đã rọc cạnh.

Dùng ván còn bìa tạo tăng tỷ lệ lợi dụng gỗ. Căn cứ vào yêu cầu chất lượng

sản phẩm, cụm chi tiết cho đến toàn bộ sản phẩm. Đồ mộc cao cấp thường

dùng cùng 1 loại gỗ để tạo phơi. Đối với sản phẩm bình thường, phơi phân

theo gỗ cứng và gỗ mềm, lồi cây có chất gỗ gần nhau, màu sắc và vân thớ

giống nhau, pha phôi hỗn hợp, để đạt được mục tiêu sử dụng thay thế, lợi

dụng triệt để và tiết kiệm gỗ q hiếm. Ngồi ra, khi chọn vật liệu còn cần

phải xem xét đến việc chịu lực của chi tiết, cụm chi tiết, cường độ của sản

phẩm và yêu cầu đặc biệt của một số sản phẩm. Phơi thơ có đầu mộng, vị trí

kết hợp của nó khơng cho phép có các khuyết tật, mắt, mục, nứt...các tấm

cộng hưởng âm trong nhạc cụ, không chỉ yêu cầu vân thớ gỗ thẳng phẳng, mà

mật độ của vòng năm cũng được qui định. Trong các tiêu chuẩn sản phẩm của

các ngành khác, yêu cầu đối với vật liệu dùng cho sản phẩm đồ mộc đều có

qui định tương ứng.

- Độ ẩm của gỗ xẻ :

Độ ẩm của gỗ xẻ không ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm, song về lâu dài

trực tiếp liên quan đến chất lượng, cường độ và nhất là độ bền vững của các

mối ghép trong sản phẩm. Vì thế, khi pha phôi gỗ để sử dụng phải tiến hành

sấy, độ ẩm phải đồng đều trong và ngoài, loại bỏ nội ứng suất, ngăn ngừa

hiện tượng cong vênh, nứt... gây ra trong q trình gia cơng và sử dụng.

Do chủng loại và khu vực sử dụng sản phẩm khác nhau, độ ẩm của gỗ xẻ có

thể có chênh lệch, tức là phôi cho cùng một loại sản phẩm, do khu vực khác

nhau yêu cầu độ ẩm cũng khác nhau. Vì thế, ngồi căn cứ u cầu kỹ thuật

của sản phẩm, điều kiện sử dụng, chất lượng, còn phải kết hợp với độ ẩm

thăng bằng theo vùng miền, để xác định hợp lý yêu cầu độ ẩm đối với gỗ xẻ.

- Qui cách gỗ xẻ :

Muốn chi tiết, cụm chi tiết có bề mặt phẳng nhẵn, bóng lại phù hợp yêu cầu

kích thước, phải căn cứ vào giá trị lượng dư gia cơng để chọn qui cách gỗ xẻ,

bố trí qui cách gỗ xẻ và qui cách phơi thơ có những tình huống sau: Kích thước

mặt cắt ngang gỗ xẻ phù hợp với kích thước mặt cắt ngang phơi thơ; chiều

rộng gỗ xẻ bằng chiều rộng phơi thơ, còn chiều dày là bội số chiều dày của

phôi thô hoặc lớn hơn chiều dày của phôi thô; chiều dày của gỗ xẻ phù hợp

với chiều dày của phơi thơ, còn chiều rộng là bội số của chiều rộng của phôi

thô hoặc lớn hơn phôi thô; chiều rộng, dày của gỗ xẻ đều lớn hơn kích thước

của mặt cắt ngang của phơi thơ hoặc là bội số của nó. Nếu qui cách kích

thước của gỗ xẻ và phơi thơ khơng nối tiếp, sẽ làm cho số mạch cưa và pha

phôi tăng lên, ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi dụng gỗ và năng suất, ngoài ra, trên



Trang 182



Hóa học hóa ly polymer

chiều dài của gỗ xẻ cần chú ý ghép nối phôi thô dài ngắn, để gỗ được lợi dụng

hợp lý và giảm tổn thất.

- Phương án pha phôi và phương pháp gia cơng

Khi cắt gỗ xẻ, cần căn cứ loại hình gỗ xẻ, loại gỗ và kích thước phơi thơ, theo

các phương án khác nhau dưới đây để tiến hành pha phôi.

(1) Cắt ngang ván xẻ thành ván ngắn trước, rồi xẻ dọc thành phôi thô sau

hoặc ngược lại xẻ dọc ván trước rồi cắt ngang thành phôi thô.

(2) Trước khi cắt cần tiến hành vạch mực, tự động hoặc bằng chuẩn.

(3) Trước khi cắt cần tiến hành bào thô lớp mặt.

(4) Sau bào hoặc mở mộng gỗ xẻ, dán keo theo chiều dài, chiều rộng, sau

đó mới cắt.

Phương án pha phơi thứ 1 (hình 2.1): cắt ngang tạo thành ván ngắn trước,

đồng thời cắt bỏ phần khuyết tật không phù hợp yêu cầu kỹ thuật, như nứt vỡ,

mục, mắt chết.... dùng máy cưa đĩa xẻ dọc 1 lưỡi, nhiều lưỡi hoặc cưa vòng

lượn xẻ ván ngắn thành phơi thơ. Phương pháp này do cắt ván dài thành ván

ngắn trước, thuận lợi cho việc vận chuyển trong phân xưởng. Khi dùng ván

còn bìa pha phơi, có thể lợi dụng triệt để ra ván của phần thót ngọn của gỗ.

Có thể phối hợp phôi thô dài, ngắn. Nhưng nhược điểm là khi cắt bỏ phần

khuyết tật, thường đồng thời cắt đi một phần gỗ dùng được. Khi lượng phôi

thô tương đối lớn, mà kích thước qui cách tương đối đồng nhất có thể theo

kích thước chiều rộng của chi tiết xẻ dọc, sau đó căn cứ vào chiều dài của chi

tiết cắt thành phơi thơ, đồng thời loại bỏ phần khuyết tật (hình 2.2).



Phương án này phù hợp với sản xuất lượng phôi thơ lốm có cùng chiều rộng

(hoặc chiều dày). Có thể tiến hành trên máy cưa đĩa xẻ dọc một lưỡi hoặc

nhiều lưỡi đẩy gỗ cơ giới. Phương pháp này khi cắt bỏ phần khuyết tật, phần

gỗ tốt bị cắt bỏ ít. Nhược điểm là chiếm diện tích xưởng lớn hơn, vận chuyển

không thuận tiện.

Phương án pha phôi thứ 2 theo mẫu chi tiết: Căn cứ vào qui cách, hình dạng

và chất lượng của chi tiết, trước tiên vạch mực bề mặt theo mẫu chi tiết, sau

đó cắt, có thể tăng tỷ lệ thành khí 9%, đặc biệt đối với chi tiết cong, vạch mực

trước vừa đảm bảo chất lượng, lại có thể nâng cao tỷ lệ pha phơi và năng

suất, nhưng phải tăng công vạch mực.

Phương pháp vạch mực song song (hình 2.3). Trước hết theo chiều dài của

phơi thơ cắt ván thành ván ngắn, đồng thời loại bỏ phần khuyết tật, sau đó



Trang 183



Hóa học hóa ly polymer

dùng tấm mẫu tiến hành vạch mực, phương pháp này gia công thuận tiện,

năng suất cao, nhưng tỷ lệ pha phôi ra ván thấp hơn.



Phương pháp vạch mực đan xen (hình 2.4), đồng thời loại bỏ khuyết tật, lợi

dụng triệt để phần gỗ có thể dùng, cắt ra càng nhiều phơi thơ, cho nên tỷ lệ

pha phôi tăng lên. Nhưng vạch mực như thế thường làm cho phôi thô sắp xếp

trên mặt ván khơng qui tắc, tương đối khó cưa, năng suất tương đối thấp,

không phù hợp tiến hành gia công cơ giới và sản xuất hàng loạt.



Để hiện rõ khuyết tật, vân thớ, màu sắc trên mặt ván, chọn và pha phơi hợp

lý, có thể dùng phương pháp pha phơi thứ 3. Ván xẻ trước, qua gia công bào 1

mặt hoặc 2 mặt, sau đó tiến hành cắt ngang hoặc xẻ dọc. Phương pháp này

thuận lợi cho người thao tác theo tình huống phân bố của khuyết tật pha phơi

hợp lý, và kịp thời cắt bỏ phần không phù hợp. Đối với một số khuyết tật như

mắt, nứt... có thể căn cứ vào giới hạn cho phép của vật liệu dùng, khi pha

phơi có thể giữ lại hoặc chỉnh sửa, để nâng cao tỷ lệ thành khí. Ngồi ra, do

mặt ván đã qua bào, đối với một số chi tiết yêu cầu chất lượng không cao,

như các chi tiết bên trong ngăn kéo, khi gia công phôi thô, chỉ cần gia cơng 2

mặt còn lại, giảm bớt một số cơng đoạn gia cơng. Nếu khi pha phơi, dùng bào,

cưa cắt có thể được ván tinh 4 mặt đạt độ nhẵn theo yêu cầu, tiếp theo không

cần dùng bất kỳ gia công, sẽ nâng tỷ lệ thành khí và năng suất lên rõ rệt.

Nhưng khi ván bào, chưa qua cắt ngang, vận chuyển ván dài trong phân

xưởng không thuận tiện, chiếm diện tích lớn. Ngồi ra, ván qua bào cuốn 1

lần, thường khơng thể loại bỏ tồn bộ các vết cưa và độ cong vênh trên mặt

ván, vì thế, khơng thể thay thế gia công mặt chuẩn gốc, đối với chi tiết u

cầu độ chính xác kích thước cao. Vì vậy vẫn cần qua bào thẩm gia công mặt

chuẩn gốc, bào cuốn hay bào 4 mặt mới có thể tạo hình dạng và kích thước

theo qui cách chính xác.

Phương thức pha phơi thứ 4 là ván sau khi qua bào cắt ngắn, đồng thời cắt bỏ

khuyết tật, trên chiều dài sau khi gắn keo mộng hình ngón rồi cắt thành phơi

thơ; hoặc ván đã cắt ngắn, sau khi bào cạnh gắn keo thành ván rộng, sau đó

cắt thành phơi thơ (hình 2.5), cũng có thể trước hết cắt ván thành thanh, cắt

bỏ khuyết tật, các thanh ván ngắn sau khi gắn keo mộng hình ngón thành ván

dài, rồi cắt thành phơi thơ.



Trang 184



Hóa học hóa ly polymer



Phương pháp này có thể lợi dụng triệt để vật liệu, nâng cao tỷ lệ thành khí và

chất lượng của chi tiết. Nhưng nhược điểm là tăng các ngun cơng gia cơng:

bào, nối mộng hình ngón, năng suất tương đối thấp. Tuy vậy từ quan điểm tiết

kiệm gỗ, nâng cao tỷ lệ pha phôi và chất lượng, có ý nghĩa rất lớn. Phương

pháp này phù hợp pha phơi kết cấu kiến trúc có chiều dài tương đối lớn.

Sau khi tìm hiểu ưu, nhược điểm của phương thức pha phơi trên, có thể căn cứ

vào u cầu của chi tiết, xem xét các nhân tố nâng cao tỷ lệ thành khí pha

phơi, năng suất lao động và đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiến hành chọn

phương án pha phôi. Trong thực tế sản xuất, cần căn cứ vào điều kiện sản

xuất khác nhau, yêu cầu kỹ thuật khác nhau để chọn phương án pha phôi hợp

lý nhất.

Về thiết bị dùng để cắt ngang ván có cưa cắt ngang có xe đẩy và cưa cắt

ngang giá dao chuyển động thẳng... Cưa cắt dọc có cưa đĩa (1 lưỡi hoặc nhiều

lưỡi) đẩy gỗ thủ công hoặc đẩy gỗ cơ giới hoặc cưa vòng nhỏ, các phơi cong

dùng cưa vòng lượn. Chiều rộng bản lưỡi cưa được xác định, theo cơng thức

dưới đây:

rmin = 0,12.B2/b



(2.1)



Trong đó:

rmin - bán kính cong nhỏ nhất của phôi thô (mm);

B - bề rộng của bản lưỡi cưa (mm);

b - lượng mở của răng cưa (mm);

Dùng cưa vòng lượn tạo phơi thơ cong, ngồi dùng phương pháp vạch mực

cũng có thể dùng khn mẫu (hình 2.6).



Hình 2.7. là dây chuyền sản xuất cắt ngang - xẻ dọc, người thao tác sau khi

lấy ván từ đống ván xuống đưa lên trục vận chuyển, cho ván chuyển về phía

trước, sau khi ván chạm vào tấm chắn, thơng qua cơng tắc hành trình ngắt

động cơ, trục vận chuyển ván ngừng chuyển động, lưỡi cưa dịch chuyển về

phía trước. Ván cắt ra phù hợp với chiều dài phôi thô, được máy vận chuyển

dạng băng, chuyển đến máy cưa đĩa xẻ dọc, xẻ thành phơi thơ có chiều rộng



Trang 185



Hóa học hóa ly polymer

theo yêu cầu, lấy phôi thô được chuyển xuống, sau khi xếp thành đống,

chuyển đến các bước gia cơng tiếp theo.



Hình 2.8 và 2.9. là sơ đổ bố trí dây chuyền cơng nghệ và vị trí làm việc của

công đoạn pha phôi theo phương pháp cắt ngang - xẻ dọc và xẻ dọc - cắt

ngang của ván xẻ theo phương án pha phôi thứ 1.



Trong gia công pha phôi thường sử dụng lưỡi cưa phổ thông và lưỡi cưa xẻ

bào. Lưỡi cưa phổ thông tạo ra bề mặt phôi thô nhấp nhô, lưỡi cưa xẻ bào thu

được bề mặt tương đối nhẵn, kích thước đảm bảo yêu cầu, không cần nguyên

công bào và để lại lượng gia cơng cho các khâu tiếp theo. Do đó, sử dụng hợp

lý lưỡi cưa xẻ bào để tiến hành gia công, có thể giảm lượng dư gia cơng, tiết

kiệm nhiều gỗ và không cần nguyên công bào, là một trong những giải pháp

có hiệu quả để nâng cao hiệu suất gia cơng và tỷ lệ thành khí pha phơi. Để

đảm bảo chất lượng gia cơng của lưõi cưa xẻ bào, ngồi độ ẩm của gỗ cần

phù hợp yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, đường kính của lưỡi cưa xẻ bào phải

tính chọn thích hợp để có tính ổn định tốt, ngồi ra, máy cưa phải đảm bảo độ

cứng vững, chính xác để chi tiết được gia công đạt chất lượng cần thiết.



Co rút và dãn nở của gỗ



sotay.xyz - sotay.xyz - sotay.xyz



*



Quan



hệ



giữa



độ



ẩm







sự



co



rút



:



Khi sấy gỗ, đầu tiên là loại trừ phần nước tự do trong ruột tế bào, khi đó kích

thước của gỗ là không thay đổi. Khi nước thấm trong vách tế bào thốt ra, khi

đó sẽ làm cho kích thước của gỗ theo đó mà bị thu nhỏ lại. Ở dưới điểm bão

hoà thớ gỗ, tuỳ theo sự giảm xuống của lượng nước thấm mà độ co rút của gỗ

tăng lên, cho đến khi gỗ khơ hồn tồn, thì lúc đó độ co rút của gỗ đạt giá trị

cực

đại.



Trang 186



Hóa học hóa ly polymer

Q trình gỗ khơ tuyệt đối dần dần hút ẩm để đạt đến điểm bão hoà thớ gỗ ta

có thể quan sát được hiện tượng gỗ dần dần trương lên, đó được gọi là hiện

tượng trương nở của gỗ Co rút và trương nở là những tính chất cố hữu của gỗ.

Những tính chất này làm cho kích thước của sản phẩm gỗ khơng ổn định, nó

ảnh hưởng khơng tốt đến sản phẩm gỗ.

Ngun nhân của sự co rút của gỗ là do khi gỗ nhả ẩm, phần nước thấm trong

vách tế bào sẽ bay hơi ra bên ngoài, làm cho lớp nước ở giữa các sợi với nhau

hay giữa các microfibrils với nhau trong vách tế bào bị thu nhỏ lại, chúng dần

dần ép sát vào nhau từ đó làm cho vách tế bào bị thu hẹp lại, dẫn đến kích

thước

của

gỗ

nhỏ

lại.

Sự co rút của gỗ được dùng tỷ lệ co rút y để biểu thị, phương pháp tính tốn

như

sau

:



Trong đó: y- tỷ lệ co rút hồn tồn của gỗ tính từ điểm bão hồ thớ gỗ tới khi

gỗ khơ hồn tồn, %

Lmax - kích thước của gỗ ướt, mm

Lo

- kích thước của gỗ khơ hồn tồn, mm

Tỷ lệ co rút của gỗ tính từ điểm bão hoà thớ gỗ cho đến khi gỗ được phơi khô,

gọi là tỷ lệ co rút của gỗ khô, ký hiệu là Ya, cơng thức tính tốn như sau :



Trong



đó



:



La



-



kích



thước



của



gỗ



phơi



khơ,



mm



Tỷ lệ co rút của gỗ có quan hệ với tỷ lệ nước thấm trong gỗ. Ở dưới điểm bão

hoà thớ gỗ, tỷ lệ nước thấm cứ giảm xuống 1%, thì lại cho ra một giá trị về tỷ

lệ co rút của gỗ, đó được gọi là hệ số co rút K. (%). Gỗ được sấy đến khơ hồn

tồn thì hệ số co rút sẽ là:



Lợi dụng hệ số co rút có thể tính ra được ở dưới điểm bão hồ thớ gỗ khi độ

ẩm đạt ở giá trị M nào đó, thì giá trị của tỷ lệ co rút của gỗ Ym sẽ là:



Trang 187



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Công nghệ tạo phôi từ gỗ xẻ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×