Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp xẻ gỗ tròn

Phương pháp xẻ gỗ tròn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hóa học hóa ly polymer

2. Phươmg pháp theo nhóm :

Là phương pháp xẻ có sử dụng một hoặc nhiều máy cưa, sử dụng 2 hoặc

nhiều hơn 2 lưỡi cưa vòng hoặc lưỡi cưa đĩa đồng thời xẻ gỗ, mỗi lần gia công

sẽ cho ra vài tấm ván xẻ. Loại phương pháp này thích hợp sử dụng với loại

cưa sọc đứng, máy cưa gồm nhiều cưa vòng ghép với nhau, cưa đĩa nhiều lưỡi

hay loại máy liên hợp tạo dăm - xẻ gỗ.

(1) Ưu điểm:

* Quy cách của gỗ xẻ tốt, sai số về kích thước nhỏ.

* Kích thước gỗ xẻ của mỗi lần gia cơng khơng nhiều, do đó làm đơn giản hố

cho cơng tác phân loại gỗ xẻ.

* Phương pháp này có nguyên liệu được nạp vào liên tục, do đó mà năng suất

cao hơn so với phương pháp xẻ đơn.

(2) Nhược điểm :

* Gỗ tròn trong q trình xẻ không thể xoay lật, không thể quan sát được q

trình gỗ được xẻ ra, do vậy mà có thể ảnh hưởng đến chất lượng của gỗ xẻ

nếu gỗ tròn có mang theo khuvết tật.

* Yêu cầu đối với chất lượng của gỗ tròn cao, thích hợp để gia cơng đối với

những loại gỗ tròn có đường kính nhỏ, trung bình và ít khuyết tật.

(3) Tỷ lệ thành khí thường thấp hơn một chút so với phương pháp xẻ

đơn.

3. Phân loại theo thứ tự xẻ và chủng loại của gỗ xẻ ra :

(1) Phương pháp xẻ 4 mặt :

Phương pháp xẻ 4 mặt là một trong những phương pháp xẻ có xoay lật. thứ tự

xẻ của nó như trong hình 2-17.

Thứ tự mạch cưa và góc xoay lật là:



Chủng loại gỗ xẻ được tạo ra có:"ván xẻ đã rọc cạnh, gỗ hộp đã rọc cạnh,...

Ưu điểm của phương pháp xẻ 4 mặt là :

* Lượng ván xẻ đã rọc cạnh được tạo ra nhiều, nó sẽ làm giảm bớt khối lượng

cơng việc của khâu rọc cạnh phía sau.

* Có thể lợi dụng triệt để được phần cạnh của gỗ tròn để sản xuất ra các loại

ván có chiều dài, chiều rộng và chất lượng tốt khác.

* Có thể làm giảm tỷ lệ ván bìa dạng tam giác tạo ra, có lợi cho việc nâng cao

tỷ lệ thành khí.



Trang 175



Hóa học hóa ly polymer

Nhược điểm của phương pháp này là :

* Gỗ tròn bị xoay lật nhiều lần, gây ảnh hưởng đến hiệu suất sản xuất của

cưa. Phương pháp xẻ 4 mặt cũng được gọi là phương pháp xẻ gỗ hộp chưa rọc

cạnh, tức là sử dụng cưa vòng lớn để tiến hành xẻ hai cạnh bên của gỗ tròn,

tạo thành hộp gỗ có hai cạnh chưa được gia cơng, sau đó phần gỗ hộp này

được đưa tới máy cưa vòng cỡ nhỏ để tiếp tục xẻ thành ván hoặc thành gỗ

hộp hồn chỉnh, hoặc đối với gỗ tròn có đường kính tương đối lớn, thì phần gỗ

hộp chưa được rọc cạnh đó lại do chính cưa vòng lớn đó xẻ dọc ra vài đường

rồi sau đó mới đưa chúng tới cưa vòng nhỏ để tiếp tục gia cơng xẻ thành ván.

(2) Phương pháp xẻ 3 mặt :

Phương pháp xẻ 3 mặt cũng là một trong những phương pháp xẻ có xoay lật

gỗ, thứ tự xẻ của phương pháp này là đầu tiên sẽ được gia công ở một cạnh

bên của khúc gỗ tròn, để tạo ra một tấm ván bìa, sau đó lật gỗ đi một góc

90°, để gia cơng



tiếp mặt cạnh kề bên cạnh vừa gia công, rồi tiếp tục được căn cứ theo các bề

mặt xẻ đó để tiến hành xẻ gỗ thành ván. Khi đã xẻ đến một mức độ nhất định

nào đó thì lại lật tiếp khúc gỗ đi một góc 180° hướng vào phía trong, rồi lại

loại bỏ tiếp phần ván bìa, sau đó mới tiếp tục xẻ tiếp phần gỗ còn lại. Thứ tự

xẻ của phương pháp xẻ 3 mặt được trình bày trong hình vẽ 2-18.

Gỗ tròn được xẻ bằng phương pháp xẻ 3 mặt, thì tổng cộng gỗ sẽ phải lật

chuyển 2 lần trên xe nạp liệu, khi đó thứ tự của mạch xẻ và góc xoay lật sẽ là:



Với những loại ván xẻ hoặc gỗ hộp tạo ra còn có một mặt chưa được rọc

canh, thì khi cần thiết nó lại được qua tiếp một máy cưa khác. ưu điểm của

phương pháp xẻ 3 mặt là:

* Số lần phải lật gỗ ít hơn phương pháp xẻ 4 mặt, do đó sẽ nâng cao được

năng suất cho cưa vòng lớn.

* Do bộ phận ván cạnh lớn, nên khi sản xuất các sản phẩm ván xẻ có kích

thước nhỏ thì có thể lợi dụng được phần ván cạnh đó để tạo thành các sản



Trang 176



Hóa học hóa ly polymer

phẩm chính, từ đó làm tăng tỷ lệ thành khí của gỗ xẻ.

* Khi xẻ bằng cưa vòng nhỏ sẽ có lợi cho việc quan sát được gỗ xẻ ra, từ đó

loại bỏ được khuyết tật của gỗ, nâng cao chất lượng của gỗ xẻ.

Nhược điểm của nó là nếu so với phương pháp xẻ 4 mặt thì : phần bìa dạng

tam giác tạo ra tương đối nhiều, do vậy mà có thể làm giảm tỷ lệ thành khí

khi xẻ.

Phương pháp xẻ 3 mặt thường tích hợp để xẻ những loại gỗ hộp (ví dụ như xẻ

tạo ra nguyên liệu làm khung cửa), nó cũng thích hợp để xẻ các loại ván xẻ

chưa rọc rìa để cung cấp ngay cho xưởng xẻ đó. Khi xẻ những loại gỗ tròn có

đường kính khoảng 50cm, sử dụng phương pháp xẻ 3 mặt sẽ dễ dàng cho việc

xoay lật gỗ và lợi dụng được phần ván bìa để tạo ra các sản phẩm chính có

kích thước nhỏ. Phương pháp xẻ 3 mặt có lợi cho việc quan sát được ván xẻ

trong q trình xẻ, do đó dễ dàng loại bỏ được khuyết tật nếu có. Nếu muốn

tạo ra những loại ván xẻ đã được rọc cạnh hoàn chỉnh thì nên lựa chọn

phương pháp xẻ 4 mặt, nếu như mong muốn tạo ra ván xẻ rộng từ những cây

gỗ tròn có đường kính nhò, thì nên sử dụng phương pháp xẻ 3 mặt.

(3) Phương pháp xẻ 2 mặt :

Nó cũng được gọi là phương pháp xẻ ván chưa rọc cạnh. Thứ tự xẻ của

phương pháp này là, đầu tiên gỗ tròn sẽ được cưa vòng xẻ ra một tấm ván

bìa, hoặc là một tấm ván xẻ chưa rọc cạnh, sau đó cây gỗ được xoay lật một

góc 180° để làm cho nó được đứng vững, rồi cưa lại xẻ tiếp một tấm ván

cạnh, rồi cứ theo đó mà xẻ tiếp, Nếu như trong q trình gia cơng lựa chọn

cưa sọc làm máy cưa chính thì gỗ tròn khơng cần phải xoay lật, mỗi lần gỗ đi

qua cưa xọc lại tạo ra được một tấm ván chưa rọc rìa. Thứ tự của mạch cưa

của phương pháp xẻ 2 mặt được trình bày trong hình vẽ 2-19.

Phương pháp xẻ 2 mặt có ưu điểm là :

* Phương pháp xẻ này chuyên dùng để cung cấp nguyên liệu gỗ xẻ cho sản

xuất các loại thùng, hộp gỗ, công nghệ được đơn giản hố, khơng cần thiết

phải phối hợp với nhiều máy cưa vòng nhỏ, thậm chí chỉ cần sử dụng 2 máy

cưa vòng lớn phối hợp với 1 máy cưa vòng nhỏ là có thể tổ thành được một

dây chuyền sản xuất, như vậy nó sẽ giảm được rất nhiều về chiều dài nhà

xưởng, tránh được hiện tượng các lao động chồng chéo lên nhau, từ đó nâng

cao được năng suất lao động.

* Có thể sử dụng máy cưa vòng lớn để xẻ ra các tấm ván xẻ chưa rọc cạnh có

cùng chiều dày với nhau, làm đơn giản hoá về mặt cơng nghệ, nâng cao được

mức độ cơ giới hố và tự động hố cho máy cưa vòng lớn.

Nhược điểm của nó là gỗ tròn trong q trình gia cơng khơng thể tiến hành

loại bỏ những khuyết tật được, nó sẽ làm ảnh hưởng chất lượng của sản

phẩm.

4. Phương pháp xẻ đối với các loại gỗ xẻ chuyên dụng :

Gỗ xẻ chuyên dụng là chỉ những loại gỗ xẻ chuyên dùng trong các ngành như:

hàng không, sản xuất tàu thuyền, thùng xe, dụng cụ âm nhạc,... mà chúng có

chất lượng khá cao và được gia công tương đối kỹ. Loại gỗ này do chúng có

những quy định nhất định về vị trí phân bố của đường vòng năm hay mức độ

hoa văn ờ trên mặt ván, mà từ đó lựa chọn các phương pháp xẻ cũng khác



Trang 177



Hóa học hóa ly polymer

nhau.

Phương pháp xẻ đối với các loại gỗ xẻ chuyên dụng, có thể căn cứ vào vị trí

phân bổ của đường vòng năm ở trên bề mặt của ván xẻ mà được phân thành

phương pháp xẻ gỗ xuyên tâm, phương pháp xẻ gỗ tiếp tuyến và phương

pháp xẻ gỗ dán.

(1) Phương pháp xẻ ván xuyên tâm :

Đường tiếp tuyến của vòng năm trên mặt đầu của tấm ván xẻ làm với bề mặt

theo chiều rộng của ván một góc lớn hơn 45° thì được gọi là ván xẻ xuyên

tâm, như hình vẽ 2-20(a).

Ván xẻ xun tâm là thơng qua phần tâm khúc gỗ, theo hướng đường kính

hoặc bán kính của mặt đầu khúc gỗ để tiến hành xè thành ván. Như hình vẽ 221.

Ván xẻ xuyên tâm do mức độ ro rút theo chiều rộng của ván là tương đối nhỏ,

đường thớ gỗ hồn chỉnh, đồng thời có giá trị lợi dụng tương đối cao. Gỗ để

sản xuất toa xe, gỗ sản xuất dụng cụ âm nhạc hay những loại dụng cụ quý

hiếm khác, phần lớn là sử dụng loại ván xẻ xuyên tâm, cũng có một số kiến

trúc về gỗ quan trọng thì cũng cần phải sử dụng ván xẻ xuyên tâm.

Phương pháp xẻ hinh quạt, đầu tiên là dựa theo hướng đường kính của mặt

đầu khúc gỗ để xẻ khúc gỗ thành hai phần, sau đó lại dựa theo đường kính

hoặc bán kính của mặt đầu khúc gỗ để tiến hành xẻ tiếp thành ván.

(2) Phương pháp xẻ ván tiếp tuyến :

Ván xẻ có góc giữa tiếp tuyến với đường vòng năm trên mặt đầu tấm ván làm

với bề mặt theo chiều rộng của ván một góc từ 0-45°, được gọi là ván xẻ tiếp

tuyến. Đường vòng năm của nó trên bề mặt ván tạo thành hình hoa văn. Như

hình vẽ 2-20(b).

Ván xẻ tiếp tuyến là dựa theo đường tiếp tuyến với vòng năm để tiến hành xẻ

ván, tức là loại ván tạo ra có đường tiếp tuyến với vòng năm hợp với bề mặt

của ván một góc phải nhỏ hơn 45°. Như hình vẽ 2-22.

Trên bề mặt của ván xẻ tiếp tuyến có đường hoa văn rất đẹp, mặt ván không

dễ bị nước thẩm thấu, đối với gỗ lá rộng dùng làm tàu thuyền, thùng gỗ, hay

đồ nội thất thì phần lớn là sử dụng loại ván xẻ tiếp tuyến.

Các phương pháp xẻ trình bày ở trên, thường được sử dụng là phương pháp xẻ

4 mặt và phương pháp xẻ 3 mặt. Đối với xẻ những loại ván xẻ thơng thường,

gỗ hộp lớn, hoặc tà vẹt thì phần nhiều lại sử dụng phương pháp xẻ 4 mặt; còn

khi xẻ các loại gỗ hộp nhỏ và trung bình, hay khi xẻ gỗ tròn có đường kính lớn

hơn 50cm, thì sử dụng phương pháp xẻ 3 mặt; Khi sử dụng để xẻ ván xẻ cung

cấp ngay cho xí nghiệp đó để sản xuất đồ mộc thường sử dụng phương pháp

xẻ 2 mặt. , .

Thông thường, các xưởng xẻ khi xẻ ra các loại ván xuyên tâm hay ván tiếp

tuyến đều là sản xuất ra những loại gỗ xẻ thông dụng, chỉ căn cứ theo hướng

kính hoặc đường hoa văn để tiến hành xẻ. Chỉ có những xưởng xẻ chuyên



Trang 178



Hóa học hóa ly polymer

dụng nhụ: xưởng sản xuất thuyền, xưởng sản xuất dụng cụ âm nhạc, xưởng

sản xuất dụng cụ thể thao thì mới chuyên về sản xuất các loại ván xẻ chuyên

dụng.

(3) Phương pháp xẻ gỗ dán :

Để mở rộng cũng như nâng cao sự lợi dụng đối với gỗ tròn có đường kính nhỏ,

hiện nay tại Trung Quốc đang tiến hành sử dụng những loại gỗ có đường kính

nhỏ để sản xuất gỗ dán.

Gỗ dán là được thông qua một phương pháp xẻ đặc thù, làm cho câỵ gỗ

đường kính nhỏ xẻ thành những tấm ván có chiều dài và chiều rộng tương đối

nhỏ, dày trong khoảng 10-30mm, sau đó các tấm ván này được sử dụng keo

dán để dán ghép loại với nhau theo hướng cạnh hoặc hướng đầu tạo thành gỗ

dán.

Đối với những loại gỗ tròn có đường kính nhỏ, khi sử dụng phương pháp xẻ

phổ thơng để xẻ thành ván thì tỷ lệ thành khí chỉ đạt khoảng 30-50%, còn nếu

sử dụng phương pháp xẻ gỗ dán thì tỷ lệ thành khí có thể đạt tới 55-60%,

đồng thời cũng nâng cao được giá trị sử dụng của gỗ.

* Phương pháp xẻ hình múi quýt :

Phương pháp này là đầu tiên đem gỗ tròn đường kính nhỏ cắt thành khúc gỗ

có độ dài theo tiêu chuẩn, sau đó xẻ khúc gỗ thành 4 phần, rồi tiếp tục xẻ

chúng theo dạng múi quýt, sau đó đem những thanh gỗ hình múi qt đó dán

lại với nhau theo hướng chiều dài để tạo thành một tấm gỗ dán có chiều rộng

như ý muốn Như hình 2-23.

Giả sử đem 2 miếng gỗ hình múi qt đó ghép lại với nhau, rồi lại dụng

phương pháp ghép ngón để ghép theo chiều dọc với các tấm khác, thì có thể

đạt được tấm ván có chiều dài như yêu cầu. Nếu tiến hành lựa chọn cẩn thận

các miếng gỗ hình múi quýt khi ghép, thì sẽ tạo thành tấm ván mà trên bề

mặt khơng còn lộ ra hình mắt gỗ hoặc các loại khuyết tật khác, cường độ kết

cấu cũng được tăng lên. Phương pháp này khắc phục được những điều kiện

bất lợi khi gỗ tròn có độ thót ngọn lớn, khi ghép các miếng gỗ hình múi qt

với nhau, có thể đảo đầu cho nhau, như thế sẽ làm mất đi sự ảnh hưởng của

độ thót ngọn.

* Phương pháp xẻ gỗ hình thang :

Phương pháp xẻ này là một phương pháp nhằm nâng cao tỷ lệ thành khí khi

xẻ gỗ tròn có đường kính nhỏ. Những cây gỗ tròn có đường kính nhỏ (khoảng

10-14cm) đầu tiên được cắt thành những đoạn ngắn, rồi được cưa vòng xẻ

dọc theo 3 đường xẻ (hai đường cạnh và một đường giữa phải song song với

nhau), để ra những tấm ván mà hai cạnh là hình cánh cung, như hình vẽ 2-24.

Các tấm ván này mặt trên và dưới là hai mặt phẳng, riêng hai cạnh hình cánh

cung sẽ được gia cơng tạo thành dạng mặt nghiêng, làm cho đầu của tấm ván

có dạng hình thang. Đối với những cây gỗ tròn có đường kính lớn hơn 15cm,

thì có thể tiến hành xẻ theo 5 mạch cưa, hai cạnh ngoài cùng cho ra 2 tấm

ván mỏng, hai tấm ván mỏng này sẽ được gia cơng thành ván dạng hình

thang nhưng lại có rãnh chốt, rãnh chốt này để tránh khi ghép ván với nhau

chúng sẽ bị dịch chuyển về vị trí, như hình vẽ 2-25. Sau khi các tấm ván tạo



Trang 179



Hóa học hóa ly polymer

ra được bôi tráng keo, chúng sẽ được ghép với nhau theo kiểu một tấm là mặt

trên thì lại một tấm là mặt dưới, cứ như vậy thay đổi cho nhau để ghép vào

với nhau tạo ra một tấm ván có chiều rộng như mong muốn (khi ghép chúng

với nhau phải có điều kiện nhiệt độ và áp suất). Nếu như ghép các đầu tấm

ván lại với nhau theo phương pháp hình ngón, thì sẽ tạo ra được tấm ván có

chiều dài như mong muốn, sau đó căn cứ vào kích thước yêu cầu để tiến hành

xẻ chúng thành những tấm ván có kích thước nhất định.



Một hình thức khác của phương pháp xẻ ván hình thang là đem xẻ phần cạnh

của ván để tạo thành dạng hình thang. Tức là đầu tiên từ gỗ tròn xẻ ra các

tấm ván chưa rọc cạnh, sau đó khơng tiến hành rọc cạnh cho chúng, hay xẻ

chúng thành những miếng gỗ hình hộp có hai đầu bằng nhau, mà là dựa theo

độ nghiêng của cạnh ván để tiến hành gia công tạo thành tấm ván dạng hình

thang, những tấm ván này có bề mặt là dạng hình thang, và các đầu của tấm

ván cũng là dạng hình thang.

Như hình vẽ 2-26, là đem các tấm ván có đầu to và đầu nhỏ, mặt trên và mặt

dưới được thay đổi, xoay chuyển tương hỗ với nhau, rồi ghép với nhau tạo

thành tấm ván có chiều rộng như ý muốn.

Phương pháp này thích hợp sử dụng đối với gỗ tròn có đường kính nhỏ, đặc

biệt là những loại gỗ tròn đường kính nhỏ nhưng lại có độ thót ngọn lớn, nó có

thể làm giảm bớt được những tổn thất cho gỗ khi tiến hành rọc cạnh của

phương pháp thơng thường, nó cũng khắc phục được những điều kiện bất lợi

khi gia công đối với những loại gỗ tròn có đường kính nhỏ mà độ thót ngọn lại

íớn, tỷ lệ thành khí cũng được nâng cao đáng kể. Nếu lại đem các tấm ván

ghép với nhau theo các đầu ván, thì sẽ tạo ra được tấm ván có chiều dài như

ý muốn.

Hiện nay, gỗ tròn có đườmg kính lớn ngày càng ít, phương pháp xẻ gỗ dán sẽ

phát huy được sự lợi dụng đối với những loại gỗ tròn có đường nhỏ, vì vậy nó

cũng cần được từng bước mở rộng nghiên cứu



Một số kết luận về đặc điểm gỗ cao su

1- Gỗ cao su có màu vàng nhạt, giác lõi khơng phân biệt, vòng sinh trưởng rõ

ràng dứt khốt, nhu mơ chiếm tỉ lệ lớn với hình thức phân bố" chủ yếu là dãy

băng và xếp dọc thành tầng, gỗ có cấu tạo mạch dây xuyên tâm sự xuất hiện

lỗ mạch với mật độ dày, đường kính lớn. Tia gỗ có tia dị bào, bề rộng tia từ 2

đến 3 hàng tế bào, chiều cao tia biến động 15 đến 20 hàng tế bào, đơi khi

xuất hiện tinh thể hình quả trám ở tế bào đứng.



Trang 180



Hóa học hóa ly polymer

2- Độ ẩm gỗ cao su mới chặt hạ nằm trong khoảng từ 70% đến 80% và có sự

khác biệt có ý nghĩa giữa các cấp tuổi cũng như các vị trí gốc thân ngọn. Khơi

lượng thể tích cơ bản gỗ cao su 0,55g/cm3 tỉ lệ co rút tiếp tuyến xuyên tâm là

1,66. Gỗ cao su có ứng suất nén dọc là 451 kg/cm2 và ứng suất uốn tĩnh 751

kg/cm2. Dễ gia công chế biến, thích hợp sản xuất ván ghép thanh và hàng

mộc xuất khẩu.

3-Cây cao su là một loài cây lá rộng có khả năng sinh trưởng và phát triển

tương đối tốt với điều kiện lập địa và khí hậu ở Việt Nam. Trữ lượng gỗ cao su

sau trích nhựa (m3/ha) ở tuổi 35 với lượng gỗ thương phẩm trên một ha là lớn

nhất.

4-Gỗ cao su với các đặc điểm cấu tạo như bạch vè, u bướu, vết trích nhựa, và

nhất là số lượng mắt trên một mét chiều dài là rất nhiều từ 4 đến 10 mắt. Gỗ

cao su chỉ thích hợp cắt khúc với chiều dài là một mét và xẻ theo phương

pháp xẻ xuyên tâm là hợp lý nhất.

5- Gỗ cao su dễ bị nấm mốc và mọt phá hoại. Do vậy, cần tiến hành bảo quản

ngay sau khi chặt hạ. Tẩm theo phương pháp tẩm nhúng với các thông số tối

ưu là nồng độ thuốc 4% và thời gian tẩm 11 giờ độ thấm sâu đạt được 7,15

mm. Phương pháp tẩm đun nóng ngâm lạnh với các thơng số’ tối ưu là nồng

độ thuốc 4% và thời gian tẩm 4 giờ 40 phút độ thấm sâu đạt được 10,25 mm.

6- Quá trình sấy ở giai đoạn đầu nên duy trì nhiệt độ ở mức 60°c và ∆T nhỏ

hơn 5. Khi độ ẩm của gỗ sấy xuống nhỏ hơn 30%, cần tiếp tục tăng nhiệt độ

lớn hơn hay bằng 80°c. Tùy thuộc vào chiều dày ván có thể tăng ∆T đạt đến

33. Nhiệt độ này duy trì đến khi gỗ đạt đến độ ẩm mong muốn, cần phải xử lý

cuối cùng nhằm cân bằng ứng suất trong gỗ sấy.

7- Cường độ dán dính trong sản xuất ván ghép thanh chủ yếu phụ thuộc vào

lượng keo tráng và áp suất ép cũng như thời gian ép. Các thông số tối ưu cho

sản xuất ván ghép thanh như: lượng keo dùng là 200 g/m2, áp suất ép là 5,2

kg/cm2, thời gian ép là 45 phút. Chỉ số tối ưu: lực dán dính lớn nhất 133,4

kg/cm2.

8- Cơng nghệ sản xuất ván dăm từ cành ngọn và bìa bắp gỗ cao su, hồn tồn

như sản xuất ván dăm thơng thường. Loại ván dăm này có các tính chất tương

đương với ván dăm Việt Trì. Các thơng số tối Ưu cho sản xuất ván dăm như:

lượng keo dùng 10,5%; nhiệt độ ép 155°c và thời gian ép là 22,7 phút. Các chỉ

số tối ưu: độ dãn nở dày 9,2 % và ứng suất uốn tĩnh 163 kg/ cm2.



Công nghệ tạo phôi từ gỗ xẻ

* Khái niệm chung về pha phôi

Trong công nghệ mộc, công đoạn đầu tiên là công đoạn pha phôi (sau khi gỗ

được sấy), tức là công đoạn cắt tạo ra các phơi thơ cho chi tiết mộc.

Theo qui cách kích thước chi tiết và yêu cầu chất lượng, quá trình cắt gỗ xẻ

thành các phơi thơ có các loại qui cách, hình dạng gọi là pha phơi gỗ xẻ.



Trang 181



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp xẻ gỗ tròn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×