Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dán dính của keo

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dán dính của keo

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hóa học hóa ly polymer



Gỗ là vật liệu không đồng nhất, theo các chiều tính chất khác nhau, chiều thớ gỗ,

của bề mặt dán dính khác nhau, cường độ dán dính cũng khác nhau. Dán dính

mặt đầu khó hơn dán dính mặt tiếp tuvến và xuyên tâm; khi dán dính mặt phẳng,

khi chiều thớ của 2 miếng gỗ dán dính song song cường độ dán dính lớn hơn

cường độ dán dính theo mặt đầu với nhau; cường độ dán dính mặt phải với mặt

phải của ván mỏng bóc cao hơn cường độ dán dính với mặt trái.

Trên chiều mặt phẳng của ván dăm gần tiếp cận với tính chất của các hướng,

tính chất mặt cạnh của nó khơng giống nhau, khe hở mặt cạnh nhiều, tiêu tốn

nhiều keo, ở điều kiện đủ keo, mới có thể đạt được cường độ dán dính tốt. Khi

dán dính ván dăm và gỗ, cường độ dán dính đầu mặt gỗ với nó thấp hơn cường

độ dán dính mặt gỗ với nó.

Trang 51



Hóa học hóa ly polymer



Độ nhấp nhơ bề mặt dán dính trực tiếp liên quan đến hình thành lớp keo của mặt

dán dính và cường độ dán dính, quan hệ giữa độ nhấp nhơ bề mặt dán dính và

cường độ dán dính rất phức tạp, nó liên quan chặt chẽ với tính năng của gỗ,

phương pháp gia cơng, tính năng của keo dán và điều kiện cơng nghệ dán

dính..... Bảng 4.3 là quan hệ giữa áp suất ép và cường độ dán dính khi gia công

bề mặt với các phương pháp khác nhau.



Từ thí nghiệm có được kết luận: Bề mặt dán dính phải qua gia công bào, bề mặt

càng phẳng nhẩn, lượng keo dùng cành ít; khi áp suất ép tương đối thấp, hiệu

quả càng tốt, bề mặt nhấp nhô, lượng keo dùng phải tăng lên, hoặc trong dung

dịch keo cho thêm chất độn.

Khi dán phủ bề mặt ván dăm, độ nhấp nhơ khơng được vượt q 100 µm, độ

nhấp nhơ u cầu liên quan đến vật liệu dán mặt. Bề mặt ván dăm nếu dùng bột

và dăm rất mịn, có thể tạo được ván có bề mặt phẳng nhẵn, độ nhấp nhơ bề mặt

ván từ 60 - 16 µm.

* Tính năng của keo và phương pháp pha keo :

Tính năng của keo bao gồm nồng độ, độ nhớt, độ đa tụ cực tính và pH... Keo

phải được tráng đều lên vật liệu được dán dính, liên quan đến năng lực thấm ướt

và bám dính của keo đối với bề mặt dán dính. Nồng độ của keo lớn, hàm lượng

khơ cao, cường độ dán dính tốt. Độ nhót của keo nhỏ, tính lưu động tốt, có lợi

cho thấm ướt và bám dính. Bề mặt dán dính khơng tuyệt đối phẳng nhẵn, cần

phải dùng lực ép để làm cho độ thấm ướt đầy đủ, khuếch tán đều. Độ nhớt của

dung dịch keo quá thấp, dễ bị ép ra bề mặt và thấm vào gỗ quá nhiều, gây ra

thiếu keo; keo có độ nhớt q lớn, tính thấm ướt kém, dễ hình thành lớp keo dày,

giảm lực dán dính.

Khi dán phủ ván lạng, độ nhớt của keo cần cao hơn, đề phòng thấm keo. Khi ép

nguội, thời gian ép dài, nên dùng keo có độ nhớt lớn hơn, có thể cho chất độn

khi pha keo.



Trang 52



Hóa học hóa ly polymer



Trong q trình dán dính, cần cố gắng làm cho keo hình thành 1 lớp keo mỏng,

liên tục giữa các bề mặt dán dính. Cường độ dán dính giảm theo mức tăng chiều

dày lớp keo (hình 4.4). Lớp keo dày dễ có bọt khơng khí, làm cho lực liên kết

bên trong lớp keo giảm đi. Hệ số trương nở của keo dán và vật liệu bị dán khác

nhau, lớp keo dày dẫn đến ứng suất nhiệt lớn, làm cho cường độ dán dính giảm

xuống. Ngồi ra, lớp keo càng dày, rạn nứt càng nghiêm trọng, ở trường hợp

bình thường, chiều dày lớp keo động vật từ 0,015 - 0,02 mm, chiều dày lớp keo

tổng hợp từ 0,04 - 0,05 mm.

Pha keo, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dán dính. Keo có các hình thức 1

thành phần, 2 thành phần và nhiều thành phần.... Keo 1 thành phần như dung

dịch nhũ PVAc, khi độ nhớt đạt đến u cầu sử dụng, có thể khơng qua pha chế

trực tiếp. Đối với keo UF, PF, để tăng tốc độ đóng rắn, theo điều kiện sử dụng

phải chọn chất đóng rắn phù hợp. Hình 4.5 thể hiện quan hệ giữa lượng chất

đóng rắn cho vào keo UF và thời gian sống của dung dịch keo. Thường dùng

NH4C1 nồng độ từ 10 - 20% làm chất đóng rắn, lượng pha là 10% lượng dung

dịch keo, làm cho giá trị pH giảm đến 4 - 5, để đảm bảo chất lượng dán dính.

Nhiệt độ cao, thời gian sống của keo ngắn lại, có thể giảm lượng chất đóng rắn;

ở nhiệt độ mùa đơng, cần tăng tỷ lệ chất đóng rắn.



Khi nhiệt độ khơng khí cao, để tăng tốc độ đóng rắn, giữ nhiệt độ, thời gian sống

nhất định, có thể dùng chất đóng rắn nhiều thành phần, tức là đồng thời với việc

cho chất đóng rắn có chất ức chế và chất đóng rắn có tính ẩn nấp, làm cho giá trị

pH của dung dịch keo khi ở nhiệt độ tương đối thấp thay đổi khơng nhiều, còn

sau khi nhiệt độ tăng cao, giá trị pH giảm xuống nhanh chóng, làm cho dung

dịch keo mang tính axít, tăng nhanh tốc độ đóng rắn. Điều cần chú ý là khi pha

keo cần lấy nhiệt độ của phân xưởng sản xuất làm căn cứ. Cho chất độn vào keo

Trang 53



Hóa học hóa ly polymer



có thể giảm giá thành, tăng độ nhớt ban đầu, giảm hệ số trương nở và ứng suất

co rút. Để tăng tính năng chống lão hố của lớp keo, có thể cho chất chống lão

hố....

Để cải thiện tính năng dán dính, thường dùng phương pháp hỗn hợp một số loại

keo, như sử dụng hỗn hợp dung dịch keo nhũ PVAc và keo UF, có thể làm cho

tính năng lão hố được cải thiện, còn tính chịu nước lại tốt hơn lớp keo PVAc.

Keo động vật thường pha tại hiện trường, đun cách thuỷ, nhiệt độ nước cho phép

không vượt quá 80°c. Khi pha chế dung dịch keo, cần có tỷ lệ chính xác, xác

định chính xác số lượng theo thời gian sống sau pha và điều kiện công nghệ dán

dính.

Khi pha keo phải có người phụ trách và ghi chép tỷ mỉ, ghi rõ đơn pha, nhiệt độ

pha keo, cần đảm bảo độ nhớt và thời gian sống, để tiện đối chiếu trước khi sử

dụng dung dịch keo, căn cứ vào tình huống thực tế của dung dịch keo, kết hợp

chất pha loãng hoặc cho thêm chất độn để điều chỉnh độ nhớt. Có cơng đoạn gia

cơng dán dính yêu cầu màu sắc lớp keo giống với vật liệu, khi pha keo cần cho

chất màu phù hợp, nhưng loại chất màu này khơng được gây phản ứng hố học

với keo. Phải bắt màu tốt, chịu lão hoá, giá rẻ, khơng ảnh hưởng đến tính năng

của keo. Thơng thường đều sử dụng chất màu vô cơ.

* Điều kiện công nghệ dán dính :

- Lượng keo tráng

Lượng keo tráng biểu thị khối lượng keo trên đơn vị diện tích bề mặt dán dính.

Nó liên quan đến chủng loại keo, nồng độ, độ nhớt, độ nhấp nhơ bề mặt dán

dính và phương pháp dán dính.... Lượng keo bơi tránh q lớn, chiều dày lớp

keo lớn, cường độ dán dính thấp, ngược lại, lượng keo bơi tráng q nhỏ, khơng

thể hình thành lớp keo liên tục, cường độ dán dính khơng cao. Keo có độ nhớt

cao dễ tráng, tránh quá mức. Thường lượng keo tổng hợp tráng ít hơn keo

albumin. Lượng keo bơi tráng trên gỗ có lỗ mạch lớn và vật liệu bề mặt nhấp

nhô cần lớn hơn bề mặt gỗ phẳng nhẵn, lỗ mạch nhỏ. Bôi tráng keo phải đồng

đều, không có bọt khí và hiện tượng thiếu keo. Lượng tráng keo ép nguội lớn

hơn lượng ép nhiệt.

- Thời gian để ráo trước lúc dán

Thời gian để ráo liên quan đến nhiệt độ phòng dán dính, độ nhớt và thời gian

sống của keo. Để ráo là làm cho dung dịch keo thấm ướt triệt để bề mặt, khử co

rũt ở trạng thái tự do, giảm ứng suất bên trong. Thời gian để ráo quá ngắn, dung

dịch keo chưa thấm vào gỗ, khi ép sẽ tràn ra ngoài, gây ra thiếu keo. Nếu thời

gian để ráo quá dài, vượt quá thời gian sống của keo, dung dịch keo sẽ mất tính

di động, khơng thể tạo ra tác dụng dán dính. Sau khi tráng để ráo ở điều kiện hở,

dung dịch keo đặc nhanh; Nếu đem mặt phôi ván đã tráng keo chồng lên nhau,

khơng gia áp gọi là để ráo kín, dung dịch keo đặc chậm. Nhiệt độ cao có thể rút

ngắn thời gian để ráo, thời gian để ráo của keo dán tổng hợp ở nhiệt độ thường

Trang 54



Hóa học hóa ly polymer



không vượt quá 30 phút. Khi

dán phủ ván lạng, để ngăn chặn thấm keo, để ráo hở làm cho dung dịch keo

thấm vào bề mặt ván lạng. Khi sử dụng keo dán hệ cao su, phải để ráo hở cho

đến sau khi dung mơi bay hồn tồn mới có thể dán ép.

- Điều kiện đóng rắn lớp keo

Dung dịch keo dán sau khi thấm ướt bề mặt vật liệu được dán dính, phải được

chuyển thành chất rắn, mới có cường độ dán dính. Q trình keo dán từ trạng

thái lỏng biến thành trạng thái rắn gọi là đóng rắn. Đóng rắn của keo dán có thể

tiến hành bằng phương pháp vật lý thông qua bay hơi, dung dịch nhũ ngưng tụ,

thể chảy lỏng nguội đi... hoặc thông qua đa tụ cao phân tử để tiến hành, tham số

chủ yếu của đóng rắn là lực ép, nhiệt độ và thời gian.

Trong q trình dán dính đều cần có lực ép để làm cho bề mặt bị dán dính tiếp

xúc chặt chẽ, thuận lợi cho dung dịch keo thấm ướt triệt để, khống chế chiều dày

lớp keo và loại bỏ chất bay hơi phân tử thấp tạo ra trong phản ứng đóng rắn. Áp

suất ép liên quan đến chủng loại keo, nồng độ, độ nhớt, loài gỗ, độ ẩm, nhiệt độ

ép và chiều thớ gỗ. Áp suất ép quá nhỏ, mặt tiếp xúc dán dính khơng thể tiếp

xúc chặt, lớp keo dày, cường độ dán dính thấp; Áp suất ép càng lớn, lớp keo

càng mỏng, cường độ dán dính cao song sẽ gây ra thiếu keo, gỗ có khối lượng

thể tích thấp thậm chí có thể bị hỏng (hình 4.6).



Áp suất ép cần để dán dính trong sản xuất sản phẩm mộc từ 0,1 - 0,15 MPa, gỗ

cứng áp suất cao hơn, gỗ mềm thấp hơn. Áp suất phải đổng đều, thuận lợi cho

hình thành lớp keo có chiều dày đồng đều.

Trong q trình dán dính gỗ, gia nhiệt phù hợp có lợi cho khuếch tán và hình

thành liên kết hố học giữa lớp keo và phân tử vật liệu bị dán dính. Nhiệt độ khi

đóng rắn liên quan đến chủng loại keo dán (bảng 4.1). Nhiệt độ quá thấp, chuyển

động của chuỗi phân tử gốc khó khăn phải kéo dài thời gian ép mới có thể làm

Trang 55



Hóa học hóa ly polymer



cho phản ứng đóng rắn hồn thành, nhiệt độ quá cao, dễ dẫn đến dung dịch keo

trôi mất hoặc làm cho keo dòn, cường độ dán dính giảm xuống.

Keo đóng rắn ở nhiệt độ bình thường (như keo PVAc và keo UF ép nguội) ở

điều kiện gia nhiệt thoả đáng, có thể tăng tốc độ phản ứng, lớp keo đóng rắn

càng triệt để rút ngắn thời gian dán dính, nâng cao cường độ dán dính.

Thời gian dán dính là thời gian cần thiết để chi tiết dán dính ở điều kiện ép tiếp

tạt: đến khi lớp keo đóng rắn, nó chủ yếu quyết định bởi chủng loại keo, độ ẩm

và tốc độ bay hơi của dung môi.

Khi ép nguội (dán dính nhiệt độ thường) đóng rắn chậm, thòi gian ép liên quan

đến nhiệt độ và lượng chất đóng rắn. Nhưng, thời gian ép quá dài, thòfi gian

thẩm thấu keo quá dài, thấm vào trong gỗ quá nhiều gây ra hiện tượng thiếu keo,

ảnh hưởng đến chất lượng dán dính.

Khi ép nhiệt, thời gian ngắn, trong phạm vi nhất định lực bám keo tăng lên theo

thời gian ép nhiệt kéo dài, cường độ dán dính sẽ giảm xuống.

Ba tham số thời gian, nhiệt độ và áp suất dán dính liên quan với nhau. Trong

trường hợp sử dụng cùng loại keo, nhiệt độ dán dính thấp, cần kéo dài thời gian

dán dính; nhiệt độ dán dính cao, thời gian ép có thể rút ngắn. Cường độ dán dính

của phương pháp ép nhiệt cao hơn phương pháp ép nguội (hình 4.7).



Số lượng dung dịch keo thấm vào trong gỗ tăng lên theo nhiệt độ dán dính, tăng

lên theo thời gian kéo dài, áp suất tăng lên và độ nhớt của dung dịch keo giảm;

thời gian ép nguội dài, độ nhớt của dung dịch keo cao, áp suất ép thấp hơn.



Trang 56



Hóa học hóa ly polymer



GỖ GHÉP

Gỗ ghép còn có tên gọi là ván ghép là một loại sản phẩm ván gỗ nhân tạo xuất

hiện từ rất sớm. Nhưng nó chỉ phát triển mạnh sau năm 1970. Vùng có khối

lượng lớn nhất là Châu Âu, tiếp đó là Châu Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản là nước

sản xuất gỗ ghép thanh nhiều nhất, sau đó đến Hàn Quốc, Indonesia. Ở Việt

Nam, gỗ ghép thanh chỉ mới phổ biến trong những năm gần đây, nhưng nó mang

lại cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tận dụng tối đa được nguồn nguyên liệu

trong phân xưởng xẻ, cành ngọn trong khai thác. Không chỉ dừng lại ở đó mà

phạm vi sử dụng của nó được dùng rất rộng rãi như trong hội trường, phòng làm

việc, phòng khách, phòng ngủ, khách sạn... Và gỗ ghép thanh cũng có một số ưu

điểm nổi bật như độ ẩm của ván gỗ ghép thanh thấp, cách nhiệt và cách âm tốt,

bền, kích thước rộng, giá thành rẻ...

1. Nguyên liệu sản xuất gỗ ghép khá đa dạng :

- Gỗ cao su

- Gỗ Tràm

- Gỗ Sồi

- Gỗ Tần Bì

- Gỗ Thơng

- Gỗ Walnut ....

2. Cách ghép gỗ sản xuất gỗ ghép :

2 công đoạn Cơ bản của việc sản xuất gỗ ghép gồm công đoạn nối đầu thanh và

ghép thanh thẳng tạo ván :

2a. Công đoạn 1 Nối đầu thanh sản xuất gỗ ghép :

Nối đầu thanh nhằm tạo ra những thanh gỗ có đủ chiều dài cần thiết cho việc sử

dụng. Có hai giải pháp nối đầu thanh là Nối răng lược và nối xiên góc tuy nhiên

việc ghép nối thơng dụng hiện nay thường sử mối nối răng lược. Nối răng lược

là nói đến việc nối các đầu thanh lại với nhau phải dùng các thiết bị chuyên

dùng, đó là các máy phay răng lược hoặc các máy dập răng lược để gia công các

đầu thanh gỗ cần được nối, sau đó cố định mối nối bằng keo và lực ép. có hà

mối nối thường gặp trong việc nối răng lược là mối nối finger mộng đứng và

mối nối finger mộng nằm.

2b. Công đoạn ghép thanh thẳng tạo ván :

Ghép thanh thẳng tạo ván nhằm mục đích để tạo được tấm gỗ ghép (ván ghép)

cần thiết. Sau khi các thanh đã được nối đủ chiều dài, ta bắt đầu ghép cạnh các

thanh để được tấm gỗ ghép (ván ghép)

Trang 57



Hóa học hóa ly polymer



3. Tên gọi một số loại gỗ ghép thông dụng :

Từ 2 công đoạn trên căn cứ vào kiểu ghép mà phân loại ra một số loại gỗ ghép

có tên gọi thơng dụng như sau :

- Gỗ ghép nguyên thanh

- Gỗ ghép thanh mộng đứng

- Gỗ ghép thanh mộng nằm

- Gỗ ghép thớ lật (hay còn gọi là gỗ ghép sớ lật)

Ngoài ra do yêu cầu của từng sản phẩm cụ thể sẽ có những cách riêng theo yêu

cầu được thiết kế.

4. Quy cách và chất lượng gỗ ghép :

Quy cách tổng qt có cơng thức sau : dày (mm) x rộng (mm) x dài (mm)

Quy cách thơng dụng phục vụ sản xuất trong nước thường có quy cách sau :

Dày (15, 18, 20mm ) x Rộng (1200mm) x dài (2400mm)

Quy cách thông dụng xuất khẩu thường có quy cách sau :

Dày (15, 18, 20mm ) x Rộng (1220mm) x dài (2440mm)

Chất lượng tùy theo chủng loại gỗ sẽ có cách phân loại cụ thể.

5. Máy móc thiết bị dùng trong sản xuất gỗ ghép :

- Máy bào 4 mặt

- Máy phay mộng finger : tùy theo loại dao lắp để phay mộng sẽ tạo ra mộng

ghép gỗ tương ứng như :

* Phay mộng đứng hay còn gọi mộng nổi

* Phay mộng nằm hay còn gọi là mộng chìm

- Máy ghép dọc

- Máy ghép ngang

- Máy chà nhám

Trang 58



Hóa học hóa ly polymer



6. Ứng dụng gỗ ghép trong sản xuất đồ mộc :

Ứng dụng của gỗ ghép trong sản xuất đồ mộc rất đa dạng từ việc sản xuất bàn,

ghế, tủ giường cho tới việc sản xuất mặt , bậc, chi tiết cầu thang gỗ và nhiều sản

phẩm gỗ khác như :

- Đồ chơi gỗ

- Quà tặng bằng gỗ

- Thớt gỗ

- Sàn gỗ

- Cửa gỗ

- Lam gỗ

- Nẹp gỗ trang trí ....

7. Trang trí bề mặt gỗ ghép :

Ngồi ra để làm tăng tính sử dụng và tính thẩm mỹ người ta thường áp dụng

thêm việc dán, phủ bề mặt cho gỗ ghép như :

Dán phủ veneer gỗ tự nhiên cho gỗ ghép để tạo ra sản phẩm gỗ ghép với tên gọi

mới :

- Gỗ ghép phủ veneer Xoan Đào

- Gỗ ghép phủ veneer Sồi

- Gỗ ghép phủ veneer Tần Bì

- Gỗ ghép phủ veneer Walnut

Dán phủ keo bóng lên gỗ ghép để tạo ra sản phẩm gỗ ghép với tên gọi mới :

- Gỗ ghép phủ keo bóng trong

- Gỗ ghép phủ keo bóng màu



1.3.1



Các hình thức đóng rắn của keo dán gỗ



(30/08/2016 | 11:53)



Các hình thức đóng rắn keo dán gỗ ảnh hưởng đến chất lượng và ứng dụng của keo dán

gỗ trong thực tế. Cũng có thể nói, dựa theo hình thức đóng rắn, keo dán gỗ được chia

thành các loại khác nhau. Và căn cứ vào q trình đóng rắn của keo mà lựa chọn sử dụng

cho phù hợp.

1. Keo dán gỗ dung mơi (keo dán gỗ nhóm cao su)



Trang 59



Hóa học hóa ly polymer

Q trình đóng rắn của keo dán gỗ dung mơi chính là sự bay hơi của dung mơi, dẫn đến nồng độ

dung dịch không ngừng tăng. Tốc độ bay hơi của dung mơi càng cao thì thì độ nhớt của keo

càng nhanh, từ đó làm giảm độ bền của mối dán. Chính vì vậy, keo dán gỗ dung mơi chỉ được sử

dụng cho những vật dụng trong nhà ở điều kiện bình thường về nhiệt độ và độ ẩm.

2. Keo dán gỗ sữa (keo PVAc)

Q trình đóng rắn của keo dán gỗ PVAc là các phân tử nước có trong dung dịch keo sẽ bị thẩm

thấu dần dần vào nguyên liệu, bay hơi và kéo theo độ nhớt của keo tăng lên. Cuối cùng tác dụng

một lực kéo lên bề mặt, những phân tử keo phát sinh ngưng tụ, đóng rắn. Q trình này bị ảnh

hưởng bởi nhiệt độ, nhiệt độ cao keo đóng rắn nhanh, ngược độ thấp, keo đóng rắn chậm. Vì

vậy, trong điều kiện ẩm thấp, keo dán gỗ PVAc không phát huy được tác dụng bám dính.

3. Keo dán gỗ nhiệt dẻo (keo EVA, EEA)

Còn được gọi với tên gọi khác là keo nóng chảy bởi khi chịu tác động của nhiệt độ cao, keo sẽ bị

nóng chảy, độ nhớt của keo giảm xuống, tăng khả năng thấm ướt nguyên liệu. Đến mức nhiệt độ

cao quá giới hạn, các phân tử polyme cắt mạch khiến độ bền của mối dán giảm xuống. Vì thế,

keo dán gỗ nhiệt dẻo không được đánh giá cao khi sử dụng trong những mơi trường có nhiệt độ

cao.

4. Keo dán gỗ nhiệt rắn (keo PF, keo UF)

Với keo dán gỗ nhiệt rắn, q trình đóng rắn của keo phần lớn do những phản ứng hóa học mà

tạo nên. Các phản ứng này sẽ sản sinh ra phân tử nước làm ảnh hưởng đến q trình bám dính

của keo. Keo dán gỗ nhiệt dẻo ít bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nhưng chịu nhiều tác động của các

yếu tố như nước, hóa chất,… vì vậy, khi sử dụng keo dán gỗ nhiệt rắn, tuyệt đối khơng để sản

phẩm bị dính hóa chất để tránh ảnh hưởng đến các mối dán.



2.3.1



Các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của mối dán



(30/08/2016 | 14:12)



Ngày nay, trong ngành sản xuất công nghiệp gỗ đã dần sử dụng keo dán gỗ để thay thế

cho những phương phép kết dính truyền thống. Sử dụng keo dán gỗ giúp cho q trình

kết dính được nhanh chóng, đảm bảo chắc chắn và đảm bảo tính thẫm mỹ cao. Tuy nhiên,

trong q trình sử dụng cũng có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến độ bền của các mối nối

làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến độ bền

các mối nối của sản phẩm gỗ?

Thứ nhất, Loại gỗ

Mỗi loại gỗ sẽ có kết cấu và tính chất khác nhau, điều này có ảnh hưởng khơng nhỏ đến khả

năng kết dính của keo dán gỗ. Cấu tạo của gỗ có thể xét ở 2 mặt sau:

+ Về độ rỗng trong gỗ: khi tráng keo thì khả năng thẩm thấu dung mơi của keo và gỗ hoàn toàn

phụ thuộc vào độ rỗng của keo dán gỗ. Nếu tấm ván gỗ của bạn có độ rỗng lớn mà chiều dày vật

dán nhỏ, khi đó gỗ sẽ hút hết dung môi của keo dẫn đến độ ẩm trong gỗ vượt quá mức bão hòa

của thớ gỗ, điều này làm chậm q trình đóng rắn của keo, đồng thời cũng làm giảm khả năng

làm dính các mối nối gỗ một cách đáng kể.

+ Về khối lượng thể tích: khối lượng thể tích của gỗ nó làm ảnh hưởng đến cường độ chịu lực

của gỗ và khả năng ép để kết dính gỗ. Khối lượng thể tích gỗ sẽ chia ra thành 2 trường hợp: Nếu

khối lượng thể tích gỗ nhỏ, kéo theo kết cấu gỗ lỏng lẻo do các tết bào trong gỗ xếp không chặt

chẽ, khi đó, gỗ dễ bị dãn nở trong q trình sử dụng sẽ làm ảnh hưởng đến các điểm mối nối.

Nếu khối lượng thể tích lớn thì đồng nghĩa độ cứng mặt gỗ lớn, lúc này bạn tráng keo dán

gỗ lên bề mặt cần dán dính sẽ rất khó tiếp xúc, nếu bạn đè mạnh thì lóp keo sẽ bị tràn ra ngoài,

dẫn đến làm giảm độ bền của mối dán. Theo nghiên cứu, độ bền của mối dán keo sẽ tăng dần

theo sự tăng dần của khối lượng thể tích và đạt giá trị cực đại khi khối lượng thể tích gỗ từ 0,70,8g/cm3,



nhiệt

độ



12%.

Thứ hai, Chất lượng bề mặt



Trang 60



Hóa học hóa ly polymer

Theo kinh nghiệm, nếu bề mặt tấm gỗ càng nhẵn thì khả năng kết dính càng cao, khi đó việc

tráng keo cũng dễ dàng, lượng keo tiêu hao ít, màng keo mỏng, đều và liên tục nên hiệu quả kết

dính tăng. Ngược lại, nếu mặt dán sần sùi khơng chỉ làm giảm khả năng làm dính, tốn một lượng

kéo lớn mà sản phẩm của bạn cũng khơng đẹp mắt, thậm chí là bị “ khuyết tật màng keo”.

Bên cạnh, bề mặt cần dán bạn cũng phải vệ sinh thật sạch sẽ nhằm làm tăng hiệu quả làm dính.

Bạn phải làm sạch tất cả bụi bẩn, các dất vết mắt sống, mắt chết phải được loại bỏ hết để khi

dán gỗ được bền chắc hơn.

Thứ ba, Nhiệt độ vật dán

Đây cũng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng khơng nhỏ đến độ kết dính của vật cần dán. Nếu

nhiệt độ tấm gỗ quá cao làm cho keo đóng rắn sớm, vì vậy khơng đủ thời gian để keo thẩm thấu

vào bên trong gỗ, khả năng kết dính khơng đảm bảo. Ngược lại, nếu nhiệt độ tấm gỗ quá thấp

khiến cho khả năng dàn trải keo trên bề mặt thấp, các phản ứng diễn ra chậm, thời gian đóng rắn

kéo dài, hiệu quả kết dính cũng khơng cao. Theo kinh nghiệm, nhiệt độ của vật dán thích hợp là

khoảng 15-35 độ C, ở nhiệt độ này thích hợp cho lớp keo được thẩm thấu và kết dính tốt.

Thứ tư, độ ẩm vật dán

Độ ẩm tấm gỗ cần dán cũng làm ảnh hưởng đến độ kết dính của keo. Nếu độ ẩm của gỗ thấp thì

khi bạn bơi keo dán gỗ vào chúng sẽ dễ dàng thấm hút hết dung dịch keo vào bên trong nên khả

năng dàn trải keo giảm, độ kết dĩnh cũng giảm theo. Nếu độ ẩm tấm ván quá cao, khi đó bạn

tráng keo vào thì lượng nước trên mặt cần dán và màng keo lớn làm lớp keo khó đóng rắn, khả

năng kết dính giảm hẳn. Thơng thường, độ ẩm thích hợp để kéo kết dính tốt là từ 8-15% sẽ giúp

keo kết dính tốt, hạn chế bong tách màng keo trong quá trình sử dụng.

+ Độ pH của nguyên liệu

Độ pH nguyên liệu cũng là vấn đề mà bạn phải lưu ý, độ pH sẽ làm ảnh hưởng đến tốc độ đóng

rắn của màng keo một cách đáng kể. Trong ngành công nghiệp sản xuất gỗ ở nước ta hiện này

thì thường sử dụng loại keo UF và PF là phổ biến nhất. Trong đó, keo PF có độ bền dán dính của

tâm gỗ và dác gỗ tốt, đạt tiêu chuẩn quốc gia, còn keo UF là loại keo có tính axit, thích hợp dán

cho những vật liệu có tính axit sẽ đạt chất lượng cao, nhưng lưu ý loại keo này khơng thích hợp

cho vật liệu có tính kiềm vì sẽ làm giảm chất lượng của mối dán.

Với những thông tin mà chúng tơi vừa chia sẻ trên cho thấy có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng

đến hiệu quả làm dính của keo dán gỗ. Hy vọng với những thơng tin trên đã giúp bạn có thêm

kinh nghiệm bổ ích để sử dụng kéo dán gỗ một cách hiệu quả nhằm mang lại chất lượng các cho

từng sản phẩm gỗ.



1.3 Lý thuyết về dán dính

Ngày nay việc sử dụng keo dán nói chung và keo dán gỗ nói riêng rất phổ

biến trong cuộc sống hàng ngày cũng như ở nhiều ngành công nghiệp khác

nhau, đặc biệt là trong công nghệ khai thác và chế biến gỗ. Trong ngành

sản xuất ván nhân tạo, ván sàn gỗ, ván sàn gỗ công nghiệp, sàn gỗ tự

nhiên, ván dăm, ván dán và ván sàn gỗ ngồi trời… thì keo dán là một

thành phần khơng thể thiếu được trong q trình sản xuất, gia cơng và chế

biến.

Q trình dán dính là một q trình dán ép hai hay nhiều vật dán với nhau,

có sự tham gia của chất kết dính trong điều kiện nhất định. Thông thường

vật dán và keo dán là hai loại vật chất có cấu trúc cấu tạo khác nhau.

Cường độ dán dính khơng chỉ phụ thuộc vào các lực liên kết trên bề mặt



Trang 61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dán dính của keo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×