Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.5: Một số sâu hại chính và khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm

Bảng 3.5: Một số sâu hại chính và khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

- tháng 6), vụ hè (tháng 7 - tháng 8), vụ hè thu (tháng 4 - tháng 10) còn vụ

đơng bị hại nhẹ hơn. Ở miền Nam sâu phát sinh và gây hại quanh năm, mạnh

nhất vào tháng 4 - tháng 5.

Sâu thường gây hại từ khi quả được hình thành cho tới khi thu hoạch.

Sâu non gặm vỏ quả, đục vào trong ăn hạt đậu tương, làm cho hạt bị khuyết

từng phần hoặc bị rỗng bên trong, làm giảm tới 20% năng suất và hạt không

dùng làm giống được. Do đó, thường ít thấy quả đậu tương có lỗ đục nhưng

khi tách quả ra thì lại thấy có sâu lớn ở bên trong. Sâu có thể ăn cả quả hay

chỉ làm mẻ hạt, giảm phẩm chất hạt đậu. Vòng đời từ 24 - 28 ngày (cuối tháng

3

- tháng 10) và 37 - 74 ngày (tháng 11 - tháng 2 năm sau). Ngài đẻ trứng trên quả

là chính 73,2% còn các bộ phận khác chỉ chiếm 11 - 20,7% số trứng. Sâu non

phân bố và gây hại đậu tương ở xung quanh bờ nhiều hơn ở giữa ruộng. Giai

đọan sâu ăn hạt kéo dài khoảng 2 tuần, khi ăn hết quả này sâu thường chui ra

ngoài để đục sang quả khác dẫn đến năng suất thu hoạch bị giảm.

Qua bảng 3.5 cho thấy:

Trong vụ Xuân các giống đậu tương có tỷ lệ sâu đục quả dao động từ

5,9 – 7,1%, ở vụ Thu Đông dao động từ 6,6 – 7,7%. Kết quả xử lý thống kê

cho thấy tất cả các giống đậu tương thí nghiệm đều có tỷ lệ nhiễm sâu đục quả

tương đương với nhau.

3.5.3. Khả năng chống đô

Kết quả thí nghiệm ở bảng 3.5 cho thấy:

Qua 2 vụ khả năng chống đơ của các giống đậu tương thí nghiệm dao

động từ 1- 2 điểm. Ở vụ Xuân, giống ĐT 31 có số cây bị đơ khoảng 25% cao

hơn so với giống đối chứng DT 84 và được đánh giá ở điểm 2. Các giống còn

lại ở cả 2 vụ không đô hầu hết các cây đều đứng thẳng, được đánh giá ở điểm

1.



3.6. Các yếu tô cấu thành năng suất và năng suất của các giớng đậu

tương thí nghiệm

3.6.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

Mục đích của sản xuất nông nghiệp là tạo năng suất, do vậy cơng tác

chọn tạo giống cây trồng có nhiệm vụ chọn tạo được những giống có năng

suất cao, phẩm chất tốt và có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều

kiện ngoại cảnh.

Đối với cây đậu tương; các yếu tố cấu thành năng suất gồm có số quả

chắc trên cây, số hạt chắc trên quả (bao gồm số quả 1 hạt/cây, số quả 2

hạt/cây, số quả 3 hạt/cây) và khối lượng 1000 hạt. Trong các yếu tố này thì

khả năng hình thảnh quả và hạt của cây đậu tương là hai chỉ tiêu kinh tế tổng

hợp quan trọng nhất để đánh giá giống. Khả năng hình thành quả và hạt bị chi

phối bởi nhiều yếu tố ngoại cảnh. Trong điều kiện ngoại cảnh như nhau thì

khả năng biểu hiện các tính trạng trên phụ thuộc chủ yếu vào giống, tuy nhiên

khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất thì cũng

làm thay đơi một phần nào đó các yếu tố cấu thành năng suất, tạo nên sự cân

bằng có lợi cho việc hình thành năng suất của đậu tương. Điều này có ý nghĩa

trong việc cải thiện năng suất cây trồng.

Kết quả theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu

tương thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.6 cho thấy:

• Sơ quả chắc/cây:

Trong vụ Xn các giống đậu tương thí nghiệm có số quả chắc/cây dao

động từ 22,4 – 29,7 quả chắc /cây. Có hai giống ĐT 31 và ĐT 51 có số quả

chắc/cây lần lượt là 25,8 và 29,7 quả chắc/cây tương đương so với giống đối

chứng. Các giống còn lại có số quả chắc/cây ít hơn so với giống đối chứng

chắc chắn với mức tin cậy 95% (DT 84 là 28,4 quả chắc/cây).

Trong vụ Thu Đông số quả chắc/cây của các giống đậu tương thí nghiệm

dao động từ 18,5 – 21,3 quả chắc/cây. Trong đó, giống Vàng Cao Bằng có số



quả chắc/ cây ít hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%.

Các giống còn lại có số quả chắc/cây dao động từ 19,8 – 21,3 quả chắc /cây

tương đương so với giống đối chứng (DT 84 là 20,5 quả chắc/cây).

Bảng 3.6: Các yếu tô cấu thành năng suất của các

giống đậu tươngthí nghiệm

Khơ i lượng



Sơ quả chắc/cây

TT



(quả)



Tên giơng



ạt)



100 0 hạt (g)



VX



VTĐ



VX



VTĐ



VX



VTĐ



1



Vàng CB



22,4*



18,5*



2,0



1,9ns



136,1*



134,7*



2



ĐT 26



23,2*



19,8ns



2,1



1,7*



140,8ns



141,4ns



3



ĐT 30



22,8*



20,1ns



2,2



2,0ns



142,9*



142,2ns



4



ĐT 31



25,8ns



20,7ns



2,2



2,0ns



148,8*



148,8*



5



ĐT 51



29,7ns



21,3ns



2,1



2,0ns



153,0*



151,4*



6



DT 84 (đ/c)



28,4



20,5



2,1



1,9



140,7



142,1



<0,05



<0,05



>0,05



<0,05



<0,05



CV (%)



8,0



3,5



3,4



,0



0,6



0,9



LSD05



3,6



1,2



0,1



,1



1,4



2,4



P



,05



Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy

95% ns: Sai khác khơng có ý nghĩa



• Sơ hạt chắc/quả:

Số hạt chắc/quả của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ

Xuân biến động từ 2,0 – 2,2 hạt chắc/quả và tất cả các giống đậu tương có số

hạt chắc/quả tương đương với nhau.

Các giống đậu tương thí nghiệm Vụ Thu Đơng có số hạt chắc/quả biến

động từ 1,7 - 2,0 hạt chắc/quả. Trong đó giống ĐT 26 số hạt chắc/quả là 1,7

hạt chắc/quả thấp hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%.

Các giống còn lại có số hạt chắc/quả tương đương so với giống đối chứng.

(DT 84 là 1,9 hạt chắc/quả).



• Khới lượng 1000 hạt:

Kết quả thí nghiệm trong vụ Xuân cho thấy: Khối lượng 1000 hạt của

các giống đậu tương thí nghiệm dao động từ 136, 1 – 153,0 gram. Các giống

ĐT 30, ĐT 31 và ĐT 51 có khối lượng 1000 hạt cao hơn so với giống đối

chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%; giống Vàng Cao Bằng có khối lượng

1000 hạt thấp hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%;

giống ĐT 26 có khối lượng 1000 hạt tương đương so với giống đối chứng

(DT 84 là 140,7 g).

Khối lượng 1000 hạt của các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ Thu

Đông dao động từ 134,7 – 151,4 gram. Giống đậu tương Vàng Cao Bằng có

khối lượng 1000 hạt thấp hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy

95%; các giống ĐT 31 và ĐT 51 có khối lượng 1000 hạt cao hơn so với giống

đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%; các giống còn lại có khối lượng

1000 hạt tương đương so với giống đối chứng (DT 84 là 142,1 g).

3.6.2. Năng suất của các giống đậu tương thí nghiệm

Đối với cây đậu tương, năng suất được hình thành từ các yếu tố cấu

thành năng suất như: Khối lượng 1000 hạt, số quả chắc/cây, số hạt chắc/quả, …

Các yếu tố cấu thành năng suất chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố như: đặc

tính di truyền, điều kiện ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng

như mùa vụ.

Trong cùng điều kiện canh tác, giống nào có năng suất cao hơn thì giống

đó tốt hơn. Năng suất được đánh giá dựa vào năng suất lý thuyết và năng suất

thực thu. Khả năng hình thành quả và hạt của đậu tương là chỉ tiêu kinh tế tổng

hợp quan trọng nhất để đánh giá giống. Đó cũng là kết quả của q trình sinh

trưởng và phát triển của cây đậu tương.

Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 3.7 và biểu đồ 3.1 cho

thấy:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.5: Một số sâu hại chính và khả năng chống đổ của các giống đậu tương thí nghiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×