Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.3: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm

Bảng 3.3: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.4. Khả năng hình thành nớt sần hữu hiệu của các giớng đậu tương thí

nghiệm trong vụ Xn và vụ Thu Đông năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh

Bắc Kạn.

Bộ rễ cây đậu tương có rễ chính và rễ phụ. Rễ chính thường ăn sâu và

phát triển triển rộng trong tầng đất canh tác từ 30-50cm; do vậy làm đất trồng

đậu tương cần phải tơi xốp, tầng dày, thống khí và thoát nước để bộ rễ phát

triển triển tốt. Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nốt sần. Nốt sần ở rễ đậu

tương được hình thành do vi khuẩn tiết ra chất kích thích làm cho tế bào

khơng phân chia bình thường, tập trung ở tầng đất từ 0 - 20cm, càng xuống

sâu nốt sần càng ít. Nốt sần hình thành là do hoạt động cộng sinh của một số

loại vi sinh vật có tên khoa học là Rhizobium Japonicum với rễ cây đậu tương

để tổng hợp ra đạm ni cây.

Q trình hình thành nốt sần kéo dài 5 - 10 ngày và bắt đầu cố định

đạm ở tuần thứ 4 sau khi cây mọc. Nốt sần có hình dạng, kích thước, cấu tạo,

màu sắc phân bố khác nhau, nốt sần hữu hiệu chủ yếu được phân bố trên rễ

chính và rễ ngang to, có trọng lượng và kích thước cực đại ở giai đoạn sau khi

hoa rộ. Nốt sần hữu hiệu có kích thước ≥ 2,5mm, bên trong có màu hồng,

đó là màu của sắc tố Leghaemolobin. Căn cứ vào màu sắc của nốt sần ta có

thể đánh giá được hiệu quả cũng như giai đoạn phát triển của nốt sần, khi nốt

sần chuyển từ màu hồng sang nâu là lúc nốt sần đã già cỗi kém hiệu quả

hoặc khơng còn hiệu quả nữa. Nốt sần vơ hiệu nhỏ hơn nốt sần hữu hiệu rất

nhiều, thường phân bố ở khắp các loại rễ, bên trong có màu nâu nhạt, khi nốt

sần vơ hiệu già đi thì màu sắc vẫn khơng thay đơi, khơng có khả năng cố

định đạm. Trong quá trình sinh trưởng, vi khuẩn vẫn tiếp tục xâm nhập vào

rễ non, vì vậy một cây trưởng thành có thể có nốt sần ở các độ t̉i khác

nhau. Số lượng nốt sần nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào giống và dinh

dưỡng trong đất.



3.4.1. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu thời kỳ hoa rộ

Bảng 3.4a: Khả năng hình thành nớt sần hữu hiệu thời kỳ

hoa rộ của các giớng đậu tương thí nghiệm

Vụ Xn

TT



Tên giớng



1



Vàng Cao Bằng



43,8*



Khối

lượng

(g/cây)

0,5*



2



ĐT 26



45,1ns



3



ĐT 30



4



Vụ Thu đông



36,0ns



Khối

lượng

(g/cây)

0,3



0,5*



36,2ns



0,3



42,6*



0,5*



36,5ns



0,3



ĐT 31



50,2*



0,6ns



37,1ns



0,3



5



ĐT 51



52,4*



0,7*



37,6ns



0,3



6



DT 84 (đ/c)



47,1



0,6



36,7



0,3



P



<0,05



<0,05



<0,05



>0,05



CV (%)



2,6



5,0



1,4



3,2



LSD.05



2,2



0,05



0,9



0,02



Sơ lượng

(cái/cây)



Sơ lượng

(cái/cây)



Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%.

ns: Sai khác khơng có ý nghĩa



Qua kết quả theo dõi khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu ở thời kỳ

hoa rộ của các giống đậu tương thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Thu Đông

năm 2017 ở bảng 3.4, cho thấy:

• Trong vụ Xuân:

+ Số lượng nốt sần hữu hiệu ở thời kỳ hoa rộ của các giống đậu tương

thí nghiệm dao động trong khoảng 42,6 - 52,4 cái/cây. Trong đó, các giống

ĐT 31, ĐT 51 có số lượng nốt sần hữu hiệu lần lượt là 50,22 và 52,45 cái/cây

nhiều hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%. Các giống

Vàng Cao Bằng và ĐT 30 có số lượng nốt sần đạt ít hơn so với giống đối

chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95% (DT 84 giai đoạn này đạt 47,1 cái/cây),

các giống còn lại có số lượng nốt sần hữu hiệu tương đương so với giống đối

chứng.



+ Khối lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương thí nghiệm biến

động trong khoảng 0,5 - 0,7 g/cây, trong đó giống ĐT 51 có khối lượng nốt

sần hữu hiệu đạt cao hơn so với giống đối chứng chắc chắn với mức tin cậy

95%; giống ĐT 31 có khối lượng nốt sần hữu hiệu tương đương và tất cả các

giống còn lại có khối lượng nốt sần hữu hiệu thấp hơn so với giống đối chứng

chắc chắn với mức tin cậy 95% (DT 84 là 0,6 g/cây).

• Vụ Thu Đơng:

+ Số lượng nốt sần hữu hiệu ở thời kỳ hoa rộ của các giống đậu tương

thí nghiệm vụ Thu Đông dao động trong khoảng 36,0 – 37,6 cái/cây. Qua kết

quả thí nghiệm cho thấy: tất cả các giống đều có số lượng nốt sần hữu hiệu

tương đương so với giống đối chứng (ĐT 84: 36,7 cái /cây).

+ Các giống đậu tương thí nghiệm có khối lượng nốt sần hữu hiệu

tương đương nhau là 0,3 g/cây.

3.4.2. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu thời kỳ chắc xanh

Số lượng nốt sần hữu hiệu tăng dần theo các giai đoạn sinh trưởng của

cây và đạt cao nhất ở thời kỳ ra hoa rộ sau đó giảm dần ở thời kỳ chắc xanh.

• Trong vụ Xuân:

+ Các giống đậu tương thí nghiệm có số lượng nốt sần hữu hiệu biến

động trong khoảng 35,0 - 47,4 cái/cây. Trong đó, giống ĐT 31 và ĐT 51 có số

lượng nốt sần hữu hiệu lần lượt là 46,0 cái/ cây và 47,4 cái /cây cao hơn so

với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%. Các giống còn lại có số

lượng nốt sần hữu hiệu đạt từ 35,0 - 35,4 cái/cây thấp hơn so với giống đối

chứng chắc chắn với mức tin cậy 95% (DT 84 đạt 41,6 cái/cây).

+ Khối lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương thí nghiệm dao

động trong khoảng từ 0,4 – 0,6 g/cây. Kết quả thí nghiệm cho thấy giống

Vàng Cao Bằng, ĐT 26 và ĐT 30, ĐT 31 đều có khối lượng nốt sần hữu hiệu

thấp hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%, số lượng nốt



sần của giống ĐT 51 đạt cao hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin

cậy 95%. (DT 84: 0,5 g/ cây).

Bảng 3.4b: Khả năng hình thành nớt sần hữu hiệu thời kỳ

chắc xanh của các giơng đậu tương thí nghiệm

Vụ Xuân



Vụ Thu Đông



Sô lượng

(cái/cây)



Khối

lượng

(g/cây)



Sô lượng

(cái/cây)



Khối

lượng

(g/cây)



Vàng Cao Bằng



35,0*



0,4*



32,8ns



0,3



2



ĐT 26



35,4*



0,4*



31,8ns



0,3



3



ĐT 30



35,3*



0,4*



32,3ns



0,3



4



ĐT 31



46,0*



0,5*



33,6ns



0,3



5



ĐT 51



47,4*



0,6*



35,8*



0,3



6



DT 84 (đ/c)



41,6



0,5



32,3



0,3



<0,05



<0,05



<0,05



>0,05



CV (%)



5,8



10,1



3,5



4,3



LSD.05



4,2



0,08



2,0



0,02



TT



1



Tên giống



P



Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%

ns: Sai khác khơng có ý nghĩa



• Vụ Thu đông:

+ Số lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đậu tương thí nghiệm dao

động trong khoảng 31,8 – 35,8 cái/cây. Qua kết quả thí nghiệm cho thấy:

giống ĐT 51 có số lượng nốt sần hữu hiệu đạt 35,8 cái/ cây nhiều hơn so với

giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%. Các giống còn lại có số lượng

nốt sần hữu hiệu tương đương so với giống đối chứng (DT 84: 32,3 cái /cây)

+ Các giống đậu tương thí nghiệm vụ Thu Đơng có khối lượng nốt sần

hữu hiệu tương đương với nhau là 0,3 g/cây.



3.5.Khả năng chống chịu của các giớng đậu tương thí nghiệm trong vụ

Xn và vụ Thu Đông năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Trong sản xuất nông nghiệp, khi các đối tượng sâu bệnh hại cây trồng

không được phát hiện và phòng trừ kịp thời có thể gây thất thu hồn toàn;

đồng thời điều kiện thời tiết gây trở ngại (mưa, gió, bão, …) trong q trình

sinh trưởng phát triển lại gây ra hiện tượng cây bị đô ngã.

Hiện nay, cùng với xu thế thâm canh tăng vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi

cho sâu bệnh phát sinh, phát triển và lây lan từ vụ này sang vụ khác. Do vậy,

việc nghiên cứu chọn tạo ra những giống có khả năng chống chịu với điều

kiện ngoại cảnh bất lợi có ý nghĩa rất lớn. Khi đưa giống có khả năng chống

chịu tốt vào sản xuất sẽ làm giảm chi phí và hạ giá thành trong sản xuất nơng

nghiệp góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho người lao động.

Sâu hại và đô ngã là những chỉ tiêu ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và

phẩm chất đậu tương. Qua theo dõi thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Thu

Đông năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; chúng tôi thấy chủ yếu xuất

hiện sâu cuốn lá và sâu đục quả. Các bệnh như: sương mai, gỉ sắt xuất hiện

với tỷ lệ rất thấp khơng ảnh hưởng gì đến quá trình sinh trưởng, phát triển của

đậu tương.

3.5.1. Sâu cuốn lá

Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata Fabr): Sâu cuốn lá đậu tương phát

sinh quanh năm trên đồng ruộng. Sâu gây hại lớn nhất vào thời kỳ cây 4 - 6 lá

kép và quả đang phát triển. Nếu sâu phát triển với mật độ cao sẽ gây thiệt hại

rõ rệt như: Giảm diện tích lá ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây và ảnh

hưởng đến năng suất.

Đặc điểm của sâu cuốn lá: Sâu phá hại lá bánh tẻ từ giai đoạn cây con

cho đến khi có quả non. Sâu non lúc nhỏ gặm ở mặt dưới của lá. Từ tuổi 3,

sâu non bắt đầu nhả tơ cuốn gập lá hoặc gập 2 lá lại với nhau, trong 1 cuốn lá

có 1 con, sâu non ở bên trong gây hại lá, ăn từng mảng chừa gân. Sâu phá

hỏng và làm giảm diện tích quang hợp của cây dẫn đến ảnh hưởng đến năng

suất.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.3: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×