Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Các yếu tố cấu thành năng suất:

* Các yếu tố cấu thành năng suất:

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1.Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giớng đậu tương thí nghiệm

tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Sinh trưởng và phát triển là hai quá trình cùng song song tồn tại trong

chu kỳ sống của cây đậu tương. Sinh trưởng là cơ sở cho phát triển và quá

trình phát triển lại tạo điều kiện cho sinh trưởng. Sinh trưởng là sự tạo mới

các yếu tố cấu trúc của tế bào, mô và toàn cây kết quả dẫn đến sự tăng trưởng

về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng. Phát triển là q trình

biến đởi về chất bên trong của tế bào, mơ và tồn cây dẫn đến sự thay đơi về

hình thái và chức năng của chúng. Mỗi cây trồng đòi hỏi một khoảng thời

gian nhất định để sinh trưởng phát triển. Thời gian sinh trưởng và phát triển

của cây đậu tương được tính từ khi gieo hạt đến khi hạt chín trên cây và được

chia làm hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ khi gieo đến khi

ra hoa) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực (từ ra hoa đến chín).

Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu tương để có quy trình

chăm sóc hợp lý, giúp cây sinh trưởng cân đối, xác định được thời vụ thích

hợp để thời gian cây ra hoa gặp điều kiện thuận lợi nhất để đạt năng suất cao.

Quá trình sinh trưởng của cây đậu tương đều trải qua các giai đoạn từ

gieo đến mọc, phân cành, ra hoa, chắc xanh và chín. Thời gian sinh trưởng

của cây trong từng giai đoạn dài hay ngắn đều phụ thuộc vào giống và điều

kiện ngoại cảnh. Dựa trên cơ sở đó để phân biệt giống dài ngày, giống ngắn

ngày hay trung bình, từ đó giúp chúng ta bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp.

Trong cùng một điều kiện chăm sóc và cùng yếu tố ngoại cảnh tác

động, thời gian sinh trưởng của mỗi giống là đặc trưng của giống đó. Đặc

trưng này là sự thích nghi của mỗi giống trong điều kiện sinh thái trồng trọt

khác nhau, vì vậy các giống khác nhau sẽ có thời gian sinh trưởng khác nhau.



Kết quả thí nghiệm theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển được trình bày

ở bảng 3.1.

Bảng 3.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống

đậu tương thí nghiệm

Đơn vị: ngày

Thời gian từ gieo đến ...

TT



Mọc



Tên giơng



VX



Phân

cành



TĐ VX



Ra hoa



Chắc



Chín



xanh



(TGST)







VX TĐ VX TĐ VX







1



Vàng CB



7



7



38



42



45



49



68



76



98



112



2



ĐT 26



7



7



34



42



42



48



65



70



96



102



3



ĐT 30



7



7



31



43



45



48



65



68



92



98



4



ĐT 31



10



9



36



44



39



54



66



70



98



108



5



ĐT 51



8



8



36



45



44



54



66



69



91



96



6



DT 84 (đ/c)



7



7



33



43



39



47



63



66



90



94



3.1.1. Thời gian từ gieo đến mọc

Đây là thời kỳ hạt chuyển từ trạng thái ngủ nghỉ sang trạng thái sống để

tạo cơ thể mới; được tính từ khi gieo hạt xuống đất đến khi hai lá mầm xoè ra.

Nhiệt độ thích hợp cho nảy mầm là từ 25 – 300C, ẩm độ từ 65 – 75%, chất

lượng hạt giống tốt, thời điểm gieo thích hợp, đất tơi xốp thống khí, độ sâu

gieo hạt vừa phải từ 3 - 5 cm sẽ giúp cây con có tỉ lệ nảy mầm cao nhất. Nếu

nhiệt độ thấp đậu tương mọc chậm, còn nhiệt độ cao q thì ảnh hưởng lớn

đến quá trình nảy mầm. Khả năng nảy mầm của hạt giống là một trong những

chỉ tiêu đánh giá chất lượng hạt giống.

Đây là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và sức sống của

cây. Tỷ lệ nảy mầm của hạt quyết định đến mật độ cây/đơn vị diện tích, sức

nảy mầm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của



đậu tương sau này. Hạt nảy mầm nhanh và đều, cây con sinh trưởng khỏe thì

khả năng chống chịu tốt, có thể cho năng suất cao. Nếu hạt nảy mầm chậm,

cây con yếu, sức sinh trưởng kém ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát

triển về sau.

Qua kết quả thí nghiệm trình bày ở bảng 3.1 cho thấy: Thời gian từ

gieo đến mọc của các giống đậu tương thí nghiệm của vụ Xuân và vụ Thu

Đông năm 2017 biến động từ 7 - 10 ngày.

Trong vụ Xuân các giống Vàng Cao Bằng, ĐT 26, ĐT 30 có thời gian

từ gieo đến mọc sớm nhất bằng giống đối chứng (DT 84: 7 ngày); giống ĐT

51 có thời gian từ gieo đến mọc là 8 ngày, giống mọc muộn nhất là giống ĐT

31 (10 ngày).

Thời gian từ gieo đến mọc của các giống đậu tương ở vụ Thu Đông dao

động từ 7 - 9 ngày. Trong đó các giống mọc sớm là giống Vàng Cao Bằng, ĐT

26, ĐT 30 tương đương với giống đối chứng (DT 84: 7 ngày). Các giống còn

lại có thời gian từ gieo đến mọc từ 8 - 9 ngày.

Như vậy thời gian từ gieo đến mọc của các giống đậu tương thí nghiệm

cũng tương tự như kết quả nghiên cứu các giống đậu tương của tác giả Lưu

Thị Xuyến và Cs, 2017 [20] về thời gian từ gieo đến mọc của giống ĐT 26

trong vụ Xuân năm 2016 tại Thái Nguyên, Lưu Thị Xuyến và Cs, 2017 [21];

thời gian từ gieo đến mọc của các giống ĐT 26, ĐT 30, ĐT 31, ĐT 51 và DT

84 trong vụ Xuân từ 7 -10 ngày tại thành phố Yên Bái.

3.1.2. Thời gian từ gieo đến phân cành

Đây là giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây. Giai đoạn này cây

hoàn thiện các cơ quan sinh dưỡng như: rễ, thân, lá, … nên chịu sự ảnh hưởng

rõ rệt từ điều kiện ngoại cảnh. Đồng thời đây cũng là thời kỳ phân hoá mầm

hoa, tạo tiền đề quyết định số cành/cây, số hoa/cây, tông số đốt mang hoa/cây,

tạo năng suất sau này. Nhiệt độ thích hợp nhất cho giai đoạn này là 22 - 270C,

ẩm độ 75 - 80%, ẩm độ khơng khí 75 - 80%. Nhiệt độ đất 250C thì sự sinh



trưởng của cây và nốt sần đạt mức tối đa, ở nhiệt độ thấp làm giảm q trình

sinh lý, sinh hóa diễn ra trong cây, giảm sự vận chuyển vật chất quang hợp

vào hạt qua việc giảm các chất vào vỏ hạt và giảm sinh trưởng của phôi. Khi

ẩm độ đất thiếu, lượng nước trong cây giảm, lá héo, chóng tàn.

Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy:

Ở vụ Xuân thời gian từ gieo đến phân cành của các giống đậu tương thí

nghiệm dao động từ 31 – 38 ngày. Trong đó, giống ĐT 30 phân cành sớm

nhất ( 31 ngày) sớm hơn giống đối chứng (DT 84: 33 ngày) là 2 ngày. Các

giống còn lại có thời gian phân cành muộn hơn so với giống đối chứng từ 1 –

5 ngày.

Thời gian từ gieo đến phân cành của các giống đậu tương thí nghiệm

trong vụ Thu Đơng dao động từ 42 – 45 ngày. Trong đó, giống Vàng Cao

Bằng và ĐT 26 có thời gian phân cành sớm nhất (42 ngày) sớm hơn so với

giống đối chứng (DT 84: 43 ngày) là 1 ngày, giống ĐT 30 có thời gian phân

cành tương đương với giống đối chứng. Các giống còn lại có thời gian từ gieo

đến phân cành dài hơn giống đối chứng.

Đánh giá khả năng phân cành của giống để từ đó có cơ sở áp dụng các

biện pháp kỹ thuật kịp thời, tối ưu như: Mật độ trồng, tỉa định cây, vun xới,

chăm sóc để phân hố mầm hoa được tốt, tránh sinh trưởng dinh dưỡng quá

mạnh, tạo tiền đề cho quá trình ra hoa kết quả đạt năng suất cao.

3.1.3. Thời gian từ gieo đến ra hoa

Đây là giai đoạn cây đậu tương bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực.

Tuy nhiên, ở cây đậu tương giai đoạn này quá trình sinh trưởng sinh dưỡng

vẫn tiếp tục phát triển mạnh; do vậy cần chú ý tới việc điều tiết quá trình sinh

trưởng dinh dưỡng, tránh sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh cạnh tranh với

sinh trưởng sinh thực gây mất cân đối gây hiện tượng rụng hoa rụng quả và

sâu bệnh nhiều.



Hoa đậu tương thường nở vào buôi sáng, nhưng nếu trong điều kiện

trời âm u, nhiệt độ thấp, thì thời gian nở hoa muộn hơn. Thời gian ra hoa của

cây đậu tương được tính từ khi có hoa đầu tiên cho đến khi kết thúc hoa. Thời

gian nở hoa trung bình là từ 3 - 4 tuần, có trường hợp kéo dài đến 6 tuần. Hoa

được hình thành bắt đầu từ đốt thứ 4 cho tới đốt thứ 12. Thời gian nở hoa kéo

dài là đặc tính có lợi đối với cây đậu tương, vì khi nở hoa gặp điều kiện bất

lợi làm rụng hoa thì các đợt hoa nở sau có thể bơ sung làm giảm khả năng mất

mùa của đậu tương. Tuy nhiên hoa nở trong đợt rộ thường có tỷ lệ đậu quả

cao, các hoa rải rác về sau thường bị rụng, hoa lép. Do vậy, giai đoạn ra hoa

cần đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng để cây nở nhiều hoa, hoa nở tập trung làm

tăng tỉ lệ đậu quả dẫn đến tăng năng suất.

Điều kiện thích hợp trong giai đoạn này là nhiệt độ từ 25 - 280C, ẩm độ

khơng khí là 75 - 80%, ẩm độ đất tốt nhất là 80 - 90% do đó cần bố trí thời vụ

thích hợp để thời kỳ này diễn ra một cách thuận lợi.

Kết quả thí nghiệm cho thấy ở vụ Xuân, các giống đậu tương thí

nghiệm có thời gian từ gieo đến ra hoa sớm dao động từ 39 – 45 ngày. Trong

đó, giống ĐT 31 có thời gian từ gieo đến ra hoa tương đương đối chứng (DT

84: 39 ngày), các giống còn lại ra hoa muộn hơn so với giống đối chứng từ 1 6 ngày.

Ở vụ Thu Đông, các giống đậu tương thí nghiệm có thời gian từ gieo

đến ra hoa dao động từ 47 – 54 ngày. Tất cả các giống đậu tương thí nghiệm

có thời gian từ gieo đến ra hoa muộn hơn so với giống đối chứng 1 - 7 ngày

(DT 84: 47 ngày).

3.1.4. Giai đoạn từ gieo đến chắc xanh

Sau khi hoa nở được 5 - 7 ngày thì quả được hình thành và phát triển.

Ban đầu quả và hạt lớn chậm, dần dần tốc độ quả tăng nhanh từ sau khi hoa

tắt. Trong thời gian này, cây rất dễ bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh, do đó



cần cung cấp đủ nước cho cây tránh hiện tượng rụng hoa, rụng quả và giảm

kích thước hạt ảnh hưởng đến năng suất.

Nhiệt độ thích hợp là 25 - 280C, nếu cao quá hoặc thấp quá đều ảnh

hưởng đến q trình vận chuyển dinh dưỡng vào ni hạt, đây cũng là nguyên

nhân làm cho đậu tương không chắc và bị rụng nhiều.

Qua theo dõi chúng tôi thấy: Các giống đậu tương tham gia thí nghiệm

đều có thời gian từ gieo đến chắc xanh muộn hơn so với giống đối chứng.

Trong vụ Xuân tất cả các giống thí nghiệm có thời gian từ gieo đến chắc

xanh muộn hơn giống đối chứng (DT 84 là 63 ngày) và biến động trong khoảng

từ 65 - 68 ngày. Trong đó, giống Vàng Cao Bằng có thời gian từ gieo đến chắc

xanh muộn nhất là 68 ngày.

Trong vụ Thu đông tất cả các giống đậu tương có thời gian từ gieo đến

chắc xanh muộn hơn giống đối chứng từ 2 - 10 ngày biến động trong khoảng từ

68 - 76 ngày (DT 84: 66 ngày). Trong đó, giống ĐT 30 có thời gian từ gieo

đến chắc xanh sớm nhất là 68 ngày, giống Vàng Cao Bằng có thời gian từ gieo

đến chắc xanh muộn nhất là 76 ngày.

3.1.5. Thời gian từ gieo đến chín

Thời gian chín q trình sinh trưởng sinh dưỡng gần như ngừng hẳn,

các chất đồng hoá được vận chuyển vào hạt. Khi hạt đã phát triển đạt kích

thước tối đa, các khoang hạt đã kín, quả đã đủ mẩy, lượng nước trong hạt

giảm dần từ 90% xuống 60 - 70% thì tích lũy vật chất khơ gần như hồn

tồn thì cây ngừng sinh trưởng. Bộ lá của cây chuyển dần từ màu xanh sang

màu vàng úa và rụng dần, lúc này trong hạt đang có sự chuyển hóa diễn ra

mạnh mẽ. Hàm lượng dầu trong hạt được ôn định sớm vào thời kỳ hạt đang

phát triển nhưng hàm lượng protêin thì vẫn chịu ảnh hưởng của điều kiện dinh

dưỡng của cây cho đến cuối giai đoạn của q trình chín. Do đó mà các yếu tố

mơi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, ….. đều chịu ảnh hưởng trực

tiếp đến hàm lượng protêin. Nhiệt độ thích hợp nhất từ 19 - 280C, không



mưa trước khi thu hoạch, giúp thuận lợi cho quá trình vận chuyển dinh

dưỡng vào hạt, hạt chín đều, vỏ khơng nhăn, chất lượng tốt.

Khi vỏ quả chuyển dần từ màu xanh sang màu vàng sáng hoặc vàng

nâu là thu hoạch được.

Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy:

Thời gian từ gieo đến chín của các giống đậu tương thí nghiệm ở vụ

Xuân biến động từ 90 – 98 ngày. Trong đó các giống đậu tương thí nghệm có

thời gian từ gieo đến chín muộn hơn so với giống đối chứng (DT 84: 90 ngày)

từ 1 – 8 ngày.

Trong vụ Thu Đơng, các giống đậu tương thí nghiệm có thời gian từ

gieo đến chín dao động từ 94 – 112 ngày. Trong đó, tất cả các giống đậu

tương đều có thời gian từ gieo đến chín muộn hơn so với giống đối chứng

(DT 84: 94 ngày), giống ĐT 51 chín sớm nhất là 96 ngày, giống Vàng Cao

Bằng chín muộn nhất là 112 ngày.

Qua theo dõi chúng tơi thấy thời gian từ gieo đến chín của các giống

đậu tương thí nghiệm trong cả 2 vụ biến động trong khoảng 90 - 112

ngày. Trong đó; thời gian sinh trưởng của cây đậu tương được tính từ gieo

đến chín sinh lý ở vụ Xuân biến động từ 90 – 98 ngày, vụ Thu Đông dao động

từ 94 – 112 ngày. Thời gian từ gieo đến chín của cây đậu tương vụ Xuân ngắn

hơn so với vụ Thu Đông; do trong vụ Thu Đơng nhiệt độ khơng khí thấp hơn

nên kéo dài thời gian sinh trưởng của cây đậu tương thí nghiệm. Nhìn chung

các giống đậu tương thí nghiệm có thời gian sinh trưởng trung ngày và phù

hợp với điều kiện của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương thí nghiệm biến động từ

94 – 112 ngày cũng tương tự với kết quả nghiên cứu một số giống của các tác

giả Trần Thị Trường, 2011 [14], Trần Thị Trường, 2012 [15] cho các giống đậu

tương ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Lưu Thị Xuyến và cs, 2017 [20], [21] cho

các giống đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên và tại thành phố Yên Bái.



3.2.Một sơ đặc điểm hình thái của các giớng đậu tương tham gia thí

nghiệm vụ Xn và vụ Thu đơng năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc

Kạn.

Năng suất của cây đậu tương thường liên quan đến các chỉ tiêu hình

thái như: chiều cao cây, số cành cấp 1, số đốt trên thân chính. Sự tăng

trưởng chiều cao cây đồng thời ảnh hưởng tới tốc độ ra lá, khả năng hình

thành cành, đốt hữu hiệu, hoa hữu hiệu trên cây. Chiều cao cây chủ yếu

do giống quy định. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cho thấy ngồi đặc

tính của giống nó còn chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh như:

nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, chế độ dinh dưỡng và mật độ gieo cũng ảnh

hưởng đến chiều cao cây. Nếu trồng quá thưa thì số cành /cây nhiều, số

quả /cây nhiều nhưng số cây /đơn vị diện tích thấp, dẫn đến năng suất

thấp. Ngược lại nếu gieo quá dày cây sẽ vươn cao dễ bị lốp đô, sâu bệnh

phát triển, số hoa và quả ít, năng suất thấp.

Do vậy, căn cứ vào đặc điểm hình thái của cây mà chúng ta có thể

đánh giá được khả năng sinh trưởng của giống và dự đoán phần nào năng

suất của giống đó..

3.2.1. Chiều cao cây

Chiều cao cây của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm trong vụ

Xuân dao động từ 39,8 – 44,0 cm, vụ Thu Đông từ 31,0 – 33,2 cm và tất cả

các giống đều có chiều cao cây tương đương nhau.

3.2.2. Số cành cấp 1

Muốn có năng suất cao thì cây phải có nhiều cành do cành vừa mang

bộ lá vừa mang quả và hạt, đây là nơi trung gian vận chuyển các sản phẩm

đồng hoá về hạt. Tuy nhiên, nếu quá nhiều cành sẽ làm tán cây rậm rạp thuận

lợi cho sâu bệnh phát triển và gây hiện tượng đô ngã.

Đối với cây đậu tương cành cấp 1 là cành mang chùm hoa cho số lượng

quả, do vậy đây là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến năng suất. Khả năng phân



cành nhiều hay ít không chỉ phụ thuộc vào tính trạng di truyền của giống mà

còn chịu sự chi phối bởi các biện pháp kỹ thuật, và thời vụ gieo trồng.

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái của các giớng đậu tương thí nghiệm

T

T



Tên giớng



Chiều cao cây

(cm)

VX

VTĐ



Sơ cành cấp 1

(cành)

VX

VTĐ



Sơ đớt/thân

chính (đớt)

VX

VTĐ



1



Vàng CB



42,1



32,4



2,8ns



2,6ns



9,3ns



8,5*



2



ĐT 26



41,3



30,6



2,9ns



3,0ns



10,2*



9,1ns



3



ĐT 30



44,0



31,1



2,9ns



2,9ns



9,7ns



9,1ns



4



ĐT 31



39,8



31,9



3,3ns



3,0ns



9,6ns



9,4ns



5



ĐT 51



41,0



33,2



3,9*



3,2*



10,5*



9,7*



6



DT 84 (đ/c)



42,0



31,0



3,1



2,8



9,7



9,2



P



>0,05



>0,05



<0,05



<0,05



CV(%)



7,4



3,7



5,2



5,2



2,4



3,2



LSD.05



5,5



2,1



0,3



0,2



0,4



0,5



<0,05 <0,05



Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%

ns: Sai khác khơng có ý nghĩa

Trong vụ Xn số cành cấp 1 của các giống đậu tương thí nghiệm dao

động từ 2,8 – 3,9 cành. Trong đó giống ĐT 51 có số cành cấp 1 cao hơn so

với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%. Các giống còn lại có số

cành cấp 1 đạt từ 2,8 – 3,3 cành/cây tương đương so với giống đối chứng (DT

84: 3,1 cành/ cây).

Ở vụ Thu đông, khả năng phân cành cành cấp 1 của các giống đậu

tương thí nghiệm dao động từ 2,6 – 3,2 cành. Trong đó giống ĐT 51 có số

cành cấp 1 là 3,2 cành/cây nhiều hơn so với giống đối chứng chắc chắn ở mức

tin cậy 95%. Các giống còn lại có số cành cấp 1 đạt từ 2,6 – 3,0 cành/cây

tương đương so với giống đối chứng (DT 84: 2,8 cành/ cây).



3.2.3. Số đốt trên thân chính

Hoa và quả ở cây đậu tương được hình thành từ các đốt trên thân, do vậy

số đốt trên thân cũng sẽ ảnh hưởng đến năng suất. Số đốt/thân chính phụ thuộc

chủ yếu vào đặc điểm di truyền của giống, ngồi ra còn chịu sự tác động của

các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ và cả yếu tố dinh dưỡng.

Kết quả xử lý thống kê cho thấy: Số đốt trên thân chính của các giống

đậu tương trong vụ Xuân dao động từ 9,3 – 10,5 đốt. Trong đó, giống là ĐT

26 và ĐT 51 có số đốt trên thân chính nhiều hơn so với giống đối chứng chắc

chắn ở mức tin cậy 95%. Các giống còn lại có số đốt trên thân chính tương

đương với giống đối chứng (DT 84: 9,7 đốt).

Vụ Thu Đông các giống đậu tương có số đốt trên thân chính dao động

từ 8,5 – 9,7 đốt. Trong đó, Vàng Cao Bằng có số đốt trên thân chính thấp hơn

so với giống đối chứng chắc chắn ở mức tin cậy 95%; các giống đậu tương còn

lại có số đốt trên thân chính tương đương so với giống đối chứng (DT 84: 9,2

đốt).

3.3. Một sô chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm

vụ xuân và vụ thu đông năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Lá đậu tương có nhiệm vụ chính là quang hợp cho cây và là cơ sở để

tạo ra vật chất khô cho cây. Tuy nhiên, lá có nhiều hình dạng khác nhau tuỳ

theo giống, theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây.

Chỉ số diện tích lá là chỉ tiêu tương quan thuận với số lá và kích thước

lá. Diện tích lá và chỉ số diện tích lá là hai chỉ tiêu tương quan thuận, nếu diện

tích lá tăng thì chỉ số diện tích lá tăng và ngược lại. Nâng cao chỉ số diện tích lá

là cơ sở tăng cường quá trình quang hợp, tăng năng suất đậu tương sau này.

Tuy nhiên chỉ số diện tích lá nằm trong giới hạn nhất định thì sẽ cho năng

suất cao, chỉ số diện tích lá quá cao hay quá thấp cũng ảnh hưởng khơng tốt

tới năng suất. Do vậy, diện tích lá luôn biến động và phụ thuộc nhiều vào bản

chất di truyền của giống và một số yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, chế độ

dinh dưỡng,



sâu bệnh hại, các biện pháp kỹ thuật tác động ở thời kỳ này. Kết quả theo dõi

thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.3.

Bảng 3.3: Chỉ sơ diện tích lá của các giớng đậu tương thí nghiệm

Đơn vị: m2lá/m2đất

Thời kì ra hoa rộ

TT



Tên giớng



Vụ Xn



Vụ Thu

Đơng



Thời kì chắc xanh

Vụ Xn



Vụ Thu

Đơng



1



Vàng Cao Bằng



1,9



2,6



3,3



3,1



2



ĐT 26



2,0



2,6



3,2



3,1



3



ĐT 30



2,0



2,7



3,0



3,3



4



ĐT 31



2,0



2,7



3,1



3,1



5



ĐT 51



2,0



2,7



3,2



3,2



6



DT 84 (đ/c)



2,0



2,8



3,1



3,1



P



>0,05



>0,05



>0,05



>0,05



CV(%)



4,2



3,1



3,0



6,3



LSD.05



0,1



0,1



0,1



0,3



Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở mức tin cậy 95%

ns: Sai khác khơng có ý nghĩa

Kết quả thí nghiệm ở bảng 3.3 cho thấy:

Ở vụ Xuân; chỉ số diện tích lá thời kì hoa rộ đạt từ 1,9 – 2,0 m2lá /m2

đất; thời kỳ chắc xanh đạt từ 3,0 – 3,3 m2lá /m2 đất.

Trong vụ Thu Đông, chỉ số diện tích lá thời kì hoa rộ đạt từ 2,6 – 2,8

m2lá /m2đất, đến thời kỳ chắc xanh dao động từ 3,1 – 3,3 m2 lá /m2 đất.

Tất cả các giống đậu tương thí nghiệm ở cả 2 vụ trong thời kì ra hoa rộ

và thời kỳ chắc xanh đều có chỉ số diện tích lá tương đương nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Các yếu tố cấu thành năng suất:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×