Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.4: Các giống đậu tương được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính

Bảng 1.4: Các giống đậu tương được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lai hữu tính là một phương pháp cơ bản để tạo ra các vật liệu giống.

Nhờ giống lai mà người ta có thể phối những đặc tính và tính trạng có lợi của

các dạng bố mẹ vào con lai. Đậu tương là cây tự thụ phấn nên để lai tạo ra tô

hợp thường thành công với tỷ lệ rất thấp. Tuy vây, đã có nhiều giống đậu

tương được tạo ra bằng phương pháp cho lai năng suất cao như VN1. Theo

kết quả nghiên cứu của Đào Quang Vinh và cs,1994 [18] cho thấy: giống VN1

cho năng suất 14 tạ/ha tại Tuyên Quang và 18 tạ/ha tại Cao Bằng.

Trong giai đoạn 1985 - 2005 các nhà chọn tạo giống đậu tương Việt

Nam đã lai tạo được 15 giống đậu tương được cơng nhận là giống quốc gia

(Trần Đình Long và cs, 2005) [7].

1.5. Nghiên cứu chọn tạo giông đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc

Mặc dù cây đậu tương đã gắn liền với các tỉnh miền núi phía Bắc từ lâu

đờì nhưng đa số các nghiên cứu về giống chỉ là các kết quả về so sánh, khảo

nghiệm giống sử dụng các vật liệu của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp

Việt Nam, Viện Di truyền, Viện Ngô, Trường Đại học Nơng nghiệp I Hà Nội.

Hiện nay, diện tích trồng đậu tương chiếm 30 - 40% diện tích trồng đậu

tương cả nước, nhưng năng suất lại rất thấp; nguyên nhân là cơng tác chọn

giống cho vùng này còn nhiều hạn chế.

Kết quả so sánh giống đậu tương VX93 và DN42 của Nguyễn Hữu

Tâm, 2003 [11] tại Hà Giang cho biết cả 2 giống đậu tương đều thích hợp cho

vụ xuân và vụ hè thu của Hà Giang. Trong đó, giống VX93 cho năng suất

trong vụ xuân là 16,5 tạ/ha và vụ hè thu là 13,8 tạ/ha cao hơn giống địa

phương khoảng 30%.

Nghiên cứu của Đào Quang Vinh và các cs (1994) [18] cho biết giống

đậu tương VN1 được Viện nghiên cứu Ngơ chọn tạo cũng có khả năng thích

ứng rộng cả đồng bằng, trung du và miền núi, có thể cho năng suất đạt tới 14

tạ/ha tại tỉnh Tuyên Quang và 18 tạ/ha tại tỉnh Cao Bằng.



Tác giả Trần Thanh Bình và các cs, 2006 [2] cho biết giống ĐT 22 và

DT 96 là 2 giống đậu tương phù hợp với sản xuất ở vùng miền núi phía Bắc

(Điện Biên). Giống ĐT 22 cho năng suất trung bình 18,2 tạ/ha trong vụ hè

thu và 14,3 tạ/ha trong vụ xuân. Giống DT 96 đạt năng suất trung bình 17,3

tạ/ha vụ hè thu; 12,1 tạ/ha vụ xuân. Hai giống này vượt năng suất của ĐT 84

từ 12 - 24%.

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và

Cây thực phẩm chọn lọc ra giống ĐT 51 từ tô hợp lai giữa LS17 x DT2001.

Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh

phía Bắc, theo quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012.

Giống đậu tương ĐT51 có hoa màu tím, hạt vàng, rốn nâu đậm, quả chín có

màu vàng. Chiều cao cây 45-55cm, phân cành khá, hơn 2 cành/cây, số quả

chắc cao, tỷ lệ quả 3 hạt đạt 25-30 %. Khối lượng 100 hạt khoảng từ 17,520,0 g. Thời gian sinh trưởng trung bình 90-95 ngày, năng suất 20-29 tạ/ha,

tuỳ thuộc vào mùa vụ và điều kiện thâm canh. Giống thích hợp trong vụ hè,

xn và vụ đơng. Giống ĐT 51 nhiễm nhẹ bệnh vi rút, đốm nâu.

Hiện nay, các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn chủ yếu sử dụng các giống

địa phương vào sản xuất, diện tích gieo trồng các giống đậu tương mới còn rất

ít, điều đó nói lên rằng cơng tác chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền

núi phía Bắc vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Theo tác giả Ngô Thế Dân

và các cộng sự (1999) [3] cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vùng

miền núi phía Bắc là Vàng Mường Khương, Vàng Cao Bằng, Vàng Mộc

Châu, Cúc Lục Ngạn, Vàng Hà Giang, Xanh Tiên Đài, Đen Bắc Hà, Xanh

Tiên Yên, Cúc Chí Linh, ĐT 76 (ĐH4), ĐT 84, M 103, ĐT80, VX 93.

Theo tác giả Lưu Thị Xuyến và cs, 2017 [20], [21] cho biết các giống

đậu tương DT 84, ĐT 14, ĐT 26, ĐT 30, ĐT 31, ĐT 51 và DT 2008 cho năng

suất cao và thích hợp sản xuất ở vùng miền núi phía Bắc (Yên Bái). Giống

DT 2008 cho năng suất cao đạt 1,67 tấn/ ha trong vụ hè thu năm 2015 và 1,46

tấn/ ha trong vụ xuân 2016. Đây là các giống đậu tương mới bô sung thêm

vào cơ cấu giống của vùng.



CHƯƠNG 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Thí nghiệm gồm 6 giống đậu tương và giống DT 84 làm đối chứng.

TT

1



Tên giông

Vàng Cao Bằng



Cơ quan tạo ra giông

Giống trồng phô biến tại Bắc Kạn, được

người dân địa phương trồng từ lâu đời

Do Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ



2



ĐT 26



- Viện cây lương thực và thực phẩm chọn tạo.

Giống được công nhận năm 2008.



3



ĐT 30



Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam



4



ĐT 31



Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Do Trung tâm nghiên cứu và phát triển đậu đỗ



5



ĐT 51



- Viện cây lương thực và thực phẩm chọn tạo.

Giống được công nhận năm 2012.



6



DT 84 (đối chứng)



Do Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam

chọn tạo. Giống được công nhận năm 1995.



2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của 6 giống đậu tương.

2.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1. Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: Tại Thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Thí nghiệm được trồng trên đất thịt pha cát, khu thí nghiệm giữ ẩm,

thốt nước tốt, đã qua canh tác nhiều năm, các biện pháp canh tác, đầu tư như

nhau, đảm bảo điều kiện đồng đều cho các giống.



2.2.2. Thời gian nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018.

2.3.Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của 6 giống đậu tương thí nghiệm

trong vụ Xn và vụ Thu Đơng năm 2017 tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đánh giá tình hình sâu hại và khả năng chống đơ của 6 giống đậu

tương thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Thu Đông năm 2017 tại huyện Ba Bể,

tỉnh Bắc Kạn.

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 6 giống đậu

tương thí nghiệm trong vụ Xuân và vụ Thu Đông năm 2017 tại huyện Ba Bể,

tỉnh Bắc Kạn.

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn

chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 6 công thức và

03 lần nhắc lại. Trong đó giống DT 84 làm đối chứng, 5 giống còn lại là

giống khảo nghiệm.

- Diện tích 1 ơ thí nghiệm: 1,7 m x 5m = 8,5m2 (mặt luống rộng 1,4 m,

xẻ 4 hàng dọc luống).

- Tơng diện tích thực tế sử dụng cho mỗi vụ thí nghiệm là: 8,5m2/ơ x 6

x 3 = 153m2 (không kể lối đi và dải bảo vệ).

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Dải bảo vệ

2



4



3



6



5



NL 1



3



6



5



4



1



2



NL 2



4



5



2



1



3



6



NL 3



5,0m

Dải bảo vệ



Dải bảo vệ



Dải bảo vệ



1,7m



1



Trong đó:

+ Cơng thức 1: Vàng Cao Bằng

+ Công thức 2: ĐT 26

+ Công thức 3: ĐT 30

+ Công thức 4: ĐT 31

+ Công thức 5: ĐT 51

+ Công thức 6: DT 84 (đối chứng)

2.4.2. Quy trình kỹ thuật

Quy trình kỹ thuật được tiến hành theo quy phạm khảo nghiệm đậu

tương QCVN 01 - 58:2011/BNNPTNT do Trung tâm Khảo kiểm nghiệm

giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia biên soạn, Cục Trồng trọt

trình duyệt, Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thôn ban hành tại Thông tư số

48 /2011/TT-BNNPTNT ngày 05 tháng 7 năm 2011.

• Thời vụ: Vụ Xuân gieo ngày 01 tháng 3 năm 2017;

Vụ Thu Đông gieo ngày 25 tháng 8 năm 2017.

• Làm đất: Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại sau đó chia khối, lên

luống, rạch hàng.

• Mật độ: Cây cách cây 6 – 8 cm, hàng cách hàng 35cm, mật độ 35

cây/m2 .

• Cơng thức bón phân: 5 tấn phân chuồng + 30N + 60 P2O5 + 30 K2O

+ 500 kg vôi bột / ha.

 Phương pháp bón

+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% P2O5 + 50% N + 50% K2O +

100% vôi bột.

+ Bón thúc: 50% N + 50% K2O khi cây có từ 2-3 lá thật.

 Chăm sóc

- Dặm cây: Khi cây có 1-2 lá thật tỉa định cây để đảm bảo mật độ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.4: Các giống đậu tương được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×