Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa của đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học

Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thuận lợi cho cây đậu tương

sinh trưởng phát triển; đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát

sinh phát triển của các loài sâu bệnh hại. Do vậy, để đáp ứng nguồn lương thực

thực phẩm cho nhân loại cần lựa chọn được bộ giống có năng suất cao, chất

lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, có khả năng cải

tạo đất, hạn chế ơ nhiễm môi trường là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển

một nền sản xuất nơng nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao.

Giống tốt được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu. Giống quy định giới

hạn năng suất của cây trồng. Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kỹ thuật

trong phạm vi do giống quy định. Khi năng suất tối đa thì dù điều kiện ngoại

cảnh cũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng không thể làm tăng năng suất.

Bởi vậy, giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao

năng suất và sản lượng cây trồng. Mỗi một giống khác nhau thì có khả năng

phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy để phát huy

được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện

sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội. Để có những giống có năng suất, chất

lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì cơng tác

chọn giống đóng một vai trò vơ cùng quan trọng.

Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và

tồn cầu hóa thì cơng tác giống được hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới được

rút ngắn rất nhiều. Các thành tựu khoa học được ứng dụng trong chọn giống

như gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giống… đã tạo ra bộ giống đậu

tương tại Việt Nam hiện tại sử dụng rất đa dạng và phong phú. Khi chọn lọc

hay nhập được giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khí hậu

khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng.



Cơng tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự

thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các

biện pháp kỹ thuật khác nhau, nhằm chọn ra được những giống có năng suất cao

chất lượng tốt phù hợp với từng vùng sinh thái.

1.2. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương

1.2.1. Nhiệt độ

Đậu tương có nguồn gốc ơn đới, nhưng khơng phải là cây trồng chịu

rét. Tuỳ theo giống chín sớm hay muộn mà có tơng tích ơn biến động từ 1.888

– 2.7000 C (quy luật tổng nhiệt). Từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của

cây đậu tương có yêu cầu nhiệt độ khác nhau:

Nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho cây đậu tương ở thời kỳ nảy mầm nằm

trong phạm vi từ 10 – 40oC. Dưới 10oC thì sự vươn dài của trục mầm dưới lá

bị ảnh hưởng. Hạt đậu tương muốn mọc được cần có nhiệt độ từ 10 – 12oC

càng ấm thì hạt đậu tương càng dễ mọc và mọc nhanh (Ngô Thế Dân và cs,

1999) [3].

Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng cành lá là 20 – 230 C, thấp

nhất là 150 C, cao nhất là 370 C. Trong quá trình sinh trưởng, nếu nhiệt độ

biến động trên hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều đều có thể gây thiệt hại cho

đậu tương. Khả năng bị thiệt hại do nhiệt độ tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh

trưởng của cây.

Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa kết quả; nhiệt độ dưới 100C ngăn

cản sự phân hố hoa, dưới 180 C đã có khả năng làm cho quả không đậu, nhiệt

độ cao trên 40oC làm ảnh hưởng rất lớn đến hình thành đốt, lóng và phân hóa

mầm hoa. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa là 22 – 250C.

Thời kỳ hình thành quả, q trình tích lũy vật chất khơ về hạt tăng, do

đó q trình quang hợp tăng, nếu nhiệt độ giảm, lượng nước trong q trình

hơ hấp sẽ bốc hơi nhanh, q trình tích lũy vật chất khơ giảm, sự vận chuyển

của chất dinh dưỡng về hạt giảm làm cho chất lượng hạt kém, năng suất giảm.



Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ hình thành quả và hạt là 21 – 230 C, thấp

nhất là 150 C cao nhất là 350 C.

Thời kỳ chín nhiệt độ thích hợp nhất là 19 – 20oC. Nhìn chung nhiệt độ

bình quân trong một ngày có lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của đậu tương

là 18 – 220C (Brown D.M,1960 [22].

1.2.2. Nước

Trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển, cây đậu tương cần 408 –

444 kg nước đế sản xuất 1 kg chất khơ; do đó đậu tương là cây trồng có nhu

cầu nước ít hơn so với các cây trồng khác, nên còn được gọi cây trồng cạn.

Nhu cầu nước của cây đậu tương thay đởi theo điều kiện khí hậu, kỹ

thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng. Để đạt năng suất cao, nhu cầu nước

của cây đậu tương trong suốt quá trình sinh trưởng là từ 450-700mm. Để tạo ra

1 gam chất khô, đậu tương phải tiêu thụ từ 600-700 gam nước. nhu cầu nước

lớn nhất của cây đậu tương là thời kỳ hình thành quả và phát triển quả hạt.

Việc đáp ứng nhu cầu nước cho cây qua từng thời kỳ sinh trưởng và

năng suất của cây đậu tương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Những ngày

có nhiệt độ cao và gió khơ làm cây héo tạm thời, làm giảm hoạt động đồng

hóa và ảnh hưởng đến năng suất hạt. Các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất

như: chiều cao cây, số đốt, đường kính thân, số hoa, tỉ lệ đậu quả, số hạt,

trọng lượng hạt đều có tương quan thuận với độ ẩm đất. Sự cung cấp nước

cho lá đảm bảo cho sức căng của tế bào là một nhân tố quan trọng đảm bảo

tốc độ tăng diện tích lá. Hệ số diện tích lá hầu như tỉ lệ thuận với tốc độ sinh

trưởng của cây, do vậy khơ hạn làm giảm diện tích lá và ảnh hưởng trực tiếp

sự sinh trưởng và phát triển của cây.

Hạt nảy mầm đòi hỏi độ ẩm đất 60 - 65% nếu đất khơ q thì hạt khơng

mọc được, hạt nằm lâu trong đất thì sẽ bị thối, nếu đất ướt q thì hạt thiếu

khí sẽ khơng mọc được nên hạt bị thối.

Giai đoạn trước ra hoa, cây đậu tương có thể chịu được thiếu nước tạm

thời nhưng không ảnh hưởng đến năng suất.



Giai đoạn ra hoa và bắt đầu làm quả nếu bị thiếu nước hoa sẽ bị rụng

nhiều làm giảm số quả trên cây. Thiếu nước trong một thời gian ngắn vào thời

kỳ ra hoa tuy có rụng nhiều nhưng khơng ảnh hưởng đến năng suất, nếu sau

đó được tưới nước kịp thời thì trên những đốt hoa kế tiếp sẽ tiếp tục ra hoa,

đậu quả.

Giai đoạn vào mẩy là lúc đậu tương cần nhiều nước nhất, lúc này nếu

để thiếu nước thì sẽ làm năng suất giảm nhiều hơn các giai đoạn trước. Nếu

thiếu nước xảy ra vào thời kỳ hình thành và phát triển quả, hạt sẽ làm giảm

năng suất lớn nhất; thời kỳ quả lớn, năng suất giảm chính là do trọng lượng

hạt thấp (hạt lép nhiều).

Tuy là rất cần nước nhưng cây đậu tương cũng có khả năng chịu được

hạn trong thời gian nhất định nhưng muốn đạt năng suất cao cần phải đảm bảo

cho cây thường xuyên đủ ẩm, nếu gặp hạn đặc biệt vào các giai đoạn quan

trọng thì phải tìm mọi cách khắc phục để tưới cho cây (Phạm Văn Thiều,

2006) [12].

1.2.3. Ánh sáng

Đậu tương là cây trồng ưa ánh sáng tán xạ, với lượng mây khoảng 6-7

phần bầu trời là rất thích hợp cho cây phát triển. Ánh sáng quyết định sự

quang hợp của lá, sự cố định của nốt sần của rễ từ đó ảnh hưởng đến thời gian

nở hoa, thời gian quả chín, đến chiều cao của cây, diện tích lá và nhiều đặc

tính khác của cây bao gồm cả sản lượng chất khô và năng suất hạt.

Đậu tương là cây ngắn ngày điển hình nên độ dài của thời gian chiếu

sáng chính là yếu tố quyết định sự ra hoa. Đậu tương rất mẫn cảm với độ dài

của ngày, tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất vào thời kỳ cây mới có

hai lá kép, thời gian sinh trưởng đến trước khi ra hoa, ánh sáng ngày ngắn vào

thời kỳ này làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, chiều cao cây giảm,

số đốt ít và độ dài đốt giảm. Độ dài của ngày cũng tác động tới tỷ lệ đậu quả,

tốc độ lớn của quả (Phạm Văn Thiều, 2006) [12].



Đậu tương cũng rất nhạy cảm với cường độ ánh sáng. Nếu cường độ

ánh sáng giảm từ 50% trở lên so với bình thường thì cây sẽ bị giảm một số

cành, số đốt, quả, năng suất hạt có thể giảm 60%; ở mức độ 5000 lux thì quả

rụng nhiều. Cây đậu tương cần nhiều ánh sáng để quang hợp nhất là thời kỳ ra

hoa và hình thành quả, đây là điều kiện để đạt năng suất cao. Trong thời kỳ ra

hoa và hình thành hạt, số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6 - 12 giờ, lúc này nếu

gặp điều kiện ngày dài thời gian chiếu sáng trên 13 giờ/ ngày thì cây sẽ không

ra hoa được (Phạm Văn Thiều, 2006) [12].

1.2.4. Đất đai

Cây đậu tương không yêu cầu nghiêm khắc về đất trồng, đất thích hợp

nhất đối với cây đậu tương là loại đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, có

tầng canh tác sâu, giàu chất hữu cơ, canxi, kali và pH (độ chua) trung tính,

mực nước ngầm sâu, giữ ẩm tốt, dễ thoát nước. Đậu tương chịu mặn và chua

kém hơn nhiều cây trồng khác, độ pH thích hợp nhất là 6,0 - 7,0.

1.2.5. Dinh dưỡng

Cây đậu tương có khả năng tự tổng hợp đạm cho cây sử dụng nên

lượng phân đạm cần bơ sung ít. Chủ yếu bón cho cây là lân và kali. Có 16

nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của đậu tương, trong đó có 3 nguyên tố C,

H và O là thành phần chủ yếu trong chất khô và được hấp thụ dưới dạng CO2,

H2O, O2 tự do trong khơng khí. Những ngun tố cần thiết khác là N, P, K,

Ca, Mg, S, Fe…

Các nghiên cứu về sự hấp thụ NPK ở các giống đậu tương với tập tính

sinh trưởng vơ hạn cho thấy kiểu hấp thụ N, P, K ở trong cây giống nhau và

sự tích lũy tối đa của nó xảy ra ở giai đoạn chín sinh lý. Còn với các giống

đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, P,

K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt. Tỷ lệ hấp thụ tối đa

tương ứng của chúng là 7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77 kg/ha (Ngô Thế Dân và

cs, 1999) [3].



1.3.Tình hình sản xuất và chọn tạo giớng đậu tương trên thế giới

1.3.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong hệ

thống nơng nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân

loại, là cây trồng có vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau

lúa mì, lúa nước và ngơ. Vì thế, sản xuất đậu tương trên thế giới tăng nhanh

về cả diện tích, năng suất và sản lượng. Số liệu thống kê về diện tích, năng

suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1.

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

trong những năm gần đây



Diện tích



Năng suất



Sản lượng



(triệu ha)



(tạ/ha)



(triệu tấn)



2011



103,81



25,19



261,59



2012



105,35



22,89



141,19



2013



111,02



25,0



277,54



2014



117,64



26,04



306,37



2015



120,79



26,76



323,20



2016



121,53



27,56



334,89



Năm



(Nguồn: FAOSTAT, 2018) [24]

Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy:

Về diện tích: Từ năm 2011 - 2016 diện tích trồng đậu tương trên thế

giới không ngừng tăng lên và dao động trong khoảng từ 103,81 - 121,53 (triệu

ha). Trong đó diện tích trồng đậu tương đạt cao nhất là năm 2016 với 121,53

(triệu ha), tăng khoảng 17 (triệu ha) so với năm 2011.

Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây

tương đối ổn định, dao động từ 25,19 - 27,56 (tạ/ha). Năng suất đạt thấp nhất

vào năm 2012 với 22,89 (tạ/ha) và năng suất cao nhất vào năm 2016 với

27,56 (tạ/ha).



Về sản lượng: Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản

lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên dao động từ 141,19 - 334,89

(triệu tấn), năm 2012 đạt thấp nhất 141,19 (triệu tấn). Năm 2012 sản lượng

giảm khoảng một nửa so với 2011, đến năm 2013 thì sản lượng phục hồi lại

gần gấp đơi.

Trong vòng 5 năm từ 2012 -2016 sản lượng đậu tương tăng 193 (triệu

tấn). Năm 2016 sản lượng đậu tương đạt lớn nhất 334,89 (triệu tấn). Sản

lượng tăng như vậy là do diện tích trồng trong nhưng năm gần đây tăng lên và

đã được sử dung các tiến bộ khoa học tiên tiến vào sản xuất.

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất đậu tương của một sơ

nước đứng đầu thế giới



Tên nước



Diện



Năm 2015



Năm 2016



Năng suất Sản lượng Diện



Năng suất Sản lượng



tích



(tạ/ha)



(triệu tấn) tích



(tạ/ha)



(triệu tấn)



Hoa Kỳ



(triệu ha)

33,12



32,29



106,95



(triệu ha)

33,48



35,00



117,21



Brazil



32,18



30,29



97,46



33,15



29,05



96,30



Argentina



19,33



31,76



61,40



19,50



30,15



58,80



Trung Quốc



6,51



18,11



11,79



6,60



18,02



11,97



(Nguồn: FAOSTAT, 2018) [24]

Theo dự đoán trong thời gian tới tốc độ phát triển đậu tương trên thế

giới sẽ chậm hơn so với các năm trước. Kết quả nghiên cứu của trên 200

chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu

tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu

cầu về sản lượng đậu tương tăng 4% /năm. Trong tương lai với sự trợ giúp



của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói chung

và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt. Công nghệ sinh học

là một trong những yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt đậu tương và

khả năng chống chịu của cây.

Đậu tương có khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp

năm châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Acgentina và

Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [12]. Sản lượng đậu tương của 4 nước

này chiếm 90 - 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới. Đặc biệt Mỹ là

quốc gia sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới. Hiện nay Mỹ là quốc gia đứng

đầu về sản xuất đậu tương với diện tích 33,12 triệu ha đạt 106,95 triệu tấn

năm 2015 lên 33,48 triệu ha với sản lượng 117,21 triệu tấn năm 2016 .

Đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu đậu tương lớn nhất, phần lớn sản

lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù

lượng đậu tương tiêu thụ ở người dân Mỹ đang tăng lên. Đậu tương đối với

Mỹ được coi là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thu ngoại tệ. Dầu đậu

tương chiếm tới 80% lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ.

Nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới là Braxin, trong 2 năm 2015 và năm

2016 diện tích trồng đậu tương tăng lên từ 32,18 triệu ha lên33,15 triệu ha

năm 2016 nhưng năng suất và sản lượng lại giảm xuống. Hiện nay, Brazil

đang tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn, tạo giống mới chống chịu sâu bệnh,

giống chuyển nạp gen, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới và

nghiên cứu kết hợp giữa trong và ngoài nước, phát triển mạnh lúa mỳ và ngô

luân canh với đậu tương.

Quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương là Acgentina. Tại quốc gia

này đậu tương thường được trồng ln canh với lúa mì. Chính phủ nước này

đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương do đó mà cây đậu

tương phát triển khá mạnh đưa nước này lên xếp thứ 3 về sản xuất đậu tương

trên thế giới.



Trung Quốc là nước đứng thứ 4 về diện tích trồng cây đậu tương. Ở

Trung Quốc; diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trong năm 2015 và

năm 2016 đang tăng dần lên. Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc còn

đứng sau Mỹ, Braxin và Argentina nhưng đây vẫn là nước có diện tích, năng

suất và sản lượng đậu tương lớn nhất châu Á.

1.3.2. Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Đậu tương giữ một vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp cũng như

kinh tế của nhiều quốc gia. Để nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao của thị trường thì việc nghiên cứu chọn tạo các giống có năng

suất cao, chất lượng tốt, thích nghi rộng để đưa vào sản xuất là rất quan trọng.

Để tạo giống đậu tương mới người ta có thể dùng phối hợp nhiều

phương pháp như gây đột biến bằng tác nhân hóa học, vật lý, lai hữu tính,

nhập nội… Đặc biệt là hiện nay các nước phát triển đang đẩy mạnh việc sản

xuất giống đậu tương chuyển gen nhằm chống lại biến đơi khí hậu, dịch hại

và quan trọng nhất là năng suất cao và chất lượng tốt.

Hiện nay có rất nhiều các tơ chức được thành lập và đang nghiên cứu

về đậu tương như: Viên nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (The International

Institute of Tropical Agricalture: TITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển

rau màu Châu Á (The Asian Vegetable Rearch and Development Center:

AVRDC), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp cho vùng Đông Nam

Châu Á (The Southeast Asian Regional Center for Graduatesdy and Ressearch

in Agriculture: SEARCA), Viện nghiên cứu lúa (IRRI), chương trình hợp tác

nghiên cứu cây thực phẩm các nước Trung Mỹ (PPCCMA), Trung tâm Cải tiến

ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT).

Trung tâm AVRDC là nơi đánh giá tập đoàn gen lớn nhất thế giới. Năm

1992 có 12 nước nhiệt đới trong đó có cả Việt Nam quan hệ với tập đồn gen

đậu tương của AVRDC, đã chọn lọc thành công 24 giống đậu tương có năng

suất cao, thích ứng với điều kiện trồng trọt, điều kiện sinh thái của từng quốc



gia và lại có khả năng chống bệnh. Tại trung tâm đã thiết lập hệ thống đánh giá

giai đoạn 1 phân phát được trên 20 000 giống đến 546 nhà khoa học của 164

quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới. Kết quả đánh giá giống đậu tương của Aset

đã đưa vào mạng lưới sản xuất được trên 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn

Thị Út, 1994) [16].

Hai nước Mỹ và Canađa rất chú trọng đến chọn tạo giống đậu tương.

Trong đó, Mỹ ln là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu

tương nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập nội, gây đột biến và chuyển gen.

Hiện nay, đã đưa vào sản xuất trên 100 dòng, giống đậu tương và lai tạo được

một số giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh Phytopthora và thích ứng

rộng như: Amsoy71, Lec 36, Clark 63, Herkey 63 … Hướng chủ yếu trong

công tác nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ là sử dụng các tô hợp lai phức

tạp, cũng như nhập nội để làm phong phú thêm quỹ gen chọn lọc, chọn tạo ra

những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ,

chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, có hàm lượng prơtêin cao

(Johnson H. W. and Bernand R. L, 1976) [25].

Trong những năm gần đây Trung Quốc cũng đã mạnh dạn ứng dụng

những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chọn tạo giống và đã tạo ra được nhiều

giống đậu tương mới. Bằng phương pháp thực nghiệm tạo ra giống Tiefeng

18 do xử lý bằng tia gamma, có khả năng chịu được phèn cao, không đô, cho

năng suất cao, phẩm chất tốt. Giống Heinoum N06 (cũng được xử lý bằng tia

gamma) có hệ rễ tốt, nhiều cành, lóng ngắn, khả năng thích ứng rộng (Trần

Đình Đơng, 1994) [6].

Hiện nay, nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 15

nước: Đoài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigienia, Ấn Độ, Indonesia,

Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ, Nga với tông số

45.038 mẫu giống (Trần Đình Long và cs, 2005) [7].



Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến

giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với

thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70–80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có

hạt thon dài. 14 giống có năng suất cao đã được tạo ra và được khuyến cáo

gieo trồng trong đó có giống Wilis được trồng phơ biến nhất, giống này có

thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 2,5 tấn/ha. Việc cải

tiến giống đã góp phần đưa năng suất đạt 2,5 tấn/ha, giống có thời gian sinh

trưởng ngắn, thích ứng với mơi trường khơng thuận lợi (đất khơng cày bừa;

đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được tăng lên, tăng khả năng chống đô...

(Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [28]. Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra

được một số giống trồng được trên đất ướt sau vụ thu hoạch lúa với việc làm

đất và không làm đất trong mùa khô mà vẫn cho năng suất 14,7 - 16,8 tạ/ha

như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani, (Buitrago và cs, 1971) [23].

Thái Lan với sự phối hợp giữa hai trung tâm MOAC và SGPRT nhằm

cải tiến giống có năng suất cao, chống chịu tốt với một số sâu bệnh hại chính

(gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn,...) đồng thời có khả năng chịu được đất mặn,

chịu được hạn hán và ngày ngắn (Judy W.H. and Jackobs J.A, 1979) [26].

Trong những năm gần đây Ấn Độ tiến hành khảo nghiệm các giống đậu

tương địa phương và nhập nội tại trường đại học tông hợp Pathaga. Tô chức

AICRPS (The All India coordinated Research Projeet on Soybean) và NRCS

(National Research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu và đã phát

hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, và phát hiện ra những

giống có tính chống chịu với bệnh khảm virus (Brown D.M, 1960) [22].

Tại Nhật Bản, Viện tài nguyên sinh học quốc gia Nhật bản hiện đang

lưu giữ khoảng 6000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó có 2000 mẫu

giống đậu tương được nhập nội về phục vụ cho công tác chọn tạo giống

(Kamiya và các cs, 1998) [27].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý nghĩa của đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×