Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
R - bán kính quay vòng của xe

R - bán kính quay vòng của xe

Tải bản đầy đủ - 0trang

v   y gR



Trong đó:



(5-32)



 - góc dốc giới hạn ứng với vận tốc tới hạn

y - hệ số bám ngang của bánh xe với mặt đường



Qua các công thức được trình bày ở trên, có thể nhận xét rằng góc dốc giới hạn và

vận tốc nguy hiểm mà tại đó xe bị lật đổ hoặc bị trượt bên khi chuyển động trên đường

nghiêng ngang phụ thuộc vào toạ độ trọng tâm, bán kính quay vòng và hệ số bám

ngang của bánh xe với mặt đường

Ngoài ra khi xe chuyển động còn mất ổn định ngang do ảnh

hưởng của các yếu tố khác như lực gió ngang, đường mấp mô và do

phanh trên đường trơn...

Để nghiên cứu trường hợp bánh xe

chủ động chịu lực gió ngang Py ta sử dụng

sơ đồ hình 5.7. Bánh xe lăn sẽ chịu tác

dụng của các lực và mô men M k; Gb; Px;

Pk; Py và các phản lực Z, Y

Theo sơ đồ hình 5.7 ta biết R là hợp

lực của lực kéo tiếp tuyến Pk và lực ngang

Y (do Py tác dụng). Hợp lực R có điểm đặt

là điểm tiếp xúc giữa bánh xe và mặt

đường qua trục bánh xe và được xác định

theo cơng thức:

R = PK2  Y 2



Hình 5. 7. Sơ đồ lực tác dụng lên bánh xe

chủ động khi có lực ngang tác dụng



(5-33)



Theo điều kiện bám R = Rmax = .Gb và phản lực ngang cũng đạt giá trị cực đại

Y = Ymax

Thay giá trị của Ymax và Rmax vào (5-33) ta có:

Ymax =



2

R max

 Pk2  ( Gb ) 2  Pk2



(5-34)



Theo công thức (5-34) ta thấy lực kéo P k càng lớn thì Y càng nhỏ. Khi lực kéo P k

và lực phanh PP đạt đến giá trị giới hạn thì Ymax = 0. Do đó chỉ cần một lực ngang rất

nhỏ tác dụng lên bánh xe thì nó bắt đầu trượt. Sự trượt này sẽ dẫn đến hiện tượng quay

vòng thiếu (khi bánh xe trước xảy ra sự trượt) hoặc quay vòng thừa (khi bánh xe sau

trượt). Hiện tượng quay vòng thừa rất nguy hiểm khi xe có lực ngang tác dụng

CÂU HỎI ƠN TẬP

1. Phân tích tính ổn định dọc của ơ tơ

2. Phân tích tính ổn định ngang của ơ tơ

3. Xác định góc dốc giới hạn mà tại đó ơ tơ bị lật đổ hay bị trượt

80



trong những điều kiện chuyển động khác nhau.

4. Xác định vận tốc giới hạn mà tại đó ơ tơ bị lật đổ hay bị trượt

trong những điều kiện chuyển động khác nhau.



81



Chương 6

TÍNH NĂNG DẪN HƯỚNG CỦA Ô TÔ

6.1. Động học và động lực học quay vòng của ơ tơ

Để thực hiện việc quay vòng của ô tô người ta sử dụng các biện pháp sau:

- Biện pháp thứ nhất: Quay vòng các bánh xe dẫn hướng phía trước. Biện pháp

này được sử dụng phổ biến cho xe du lịch và xe vận tải.

- Biện pháp thứ hai: Quay vòng cả bánh xe dẫn hướng phía trước và phía sau.

Biện pháp này sử dụng cho một số xe đặc chủng.



Hình 6. 1. Sơ đồ động học quay vòng của ơ tơ khi bỏ qua biến dạng ngang



Để hiểu được động học và động lực học của ơ tơ có hai trục và hai bánh dẫn hướng

phía trước, chúng ta cần nghiên cứu trên hình 6.1

Về lý thuyết khi xe vào đường vòng để đảm bảo cho các bánh dẫn hướng không bị

trượt lết hoặc quay trơn thì đường vng góc với các véc tơ vận tốc chuyển động của

tất cả các bánh xe cần phải gặp nhau tại một điểm, điểm đó chính là tâm quay vòng tức

thời của xe (điểm O trên hình 6.1)

Cũng từ sơ đồ trên hình 6.1 ta rút ra được biểu thức về mối quan hệ các góc quay

của hai bánh xe dẫn hướng để chúng không bị trượt khi chúng vào đường vòng:

cotg1 - cotg2 = B/ L



(6-1)



Trong đó:



1, 2 - Góc quay vòng của bánh xe dẫn hướng bên ngồi và bên trong so

với tâm quay vòng

B - khoảng cách giữa hai đường tâm trụ quay đứng

L - chiều dài cơ sở của xe



82



Từ biểu thức (6-1) ta có thể xây dựng

đường cong lý thuyết 1 = f(2) như hình (6.2)

Như vậy về mặt lý thuyết để cho bánh xe

dẫn hướng lăn khơng trượt khi xe vào đường

vòng thì điều kiện cần thiết thì hiệu cotg các

góc quay vòng của các bánh xe dẫn hướng

bên ngoài và bên trong phải luôn bằng hằng

số B/L.

Trong thực tế để tạo được mối liên kết

động học quay vòng giữa các bánh xe dẫn

hướng, trên các xe ô tô người ta thường sử

dụng một hệ thống các khâu-khớp để tạo nên

hình thang lái.

Hình thang lái đơn giản về mặt kết cấu

Hình 6. 2. Đồ thị lý thuyết và thực tế về

nhưng không không đảm bảo được mối quan mối quan hệ động học giữa các góc quay

vòng của hai bánh xe dẫn hướng

hệ hồn tồn chính xác giữa các góc quay

vòng của hai bánh xe dẫn hướng như nêu trong biểu thức (6-1).

Mức độ sai khác này phụ thuộc vào việc lựa chọn kích thước của các khâu tạo nên

hình thang lái. Trên hình (6.2) biểu thị một ví dụ về đường cong thực tế 1 = f(2)

Từ sơ đồ trên hình (6.1) ta lần lượt xác định được các thông số đặc trưng cho mối

quan hệ động học và động lực học quay vòng của ơ tơ.

6.1.1 Bán kính quay vòng

R=



L

tg



(6-2)



Trong đó:  - góc quay vòng của xe

Trường hợp tất cả các bánh xe đều là bánh dẫn hướng thì ứng với cùng một góc

quay vòng , bán kính quay vòng của xe sẽ giảm đi một nửa:

L

2tg



R=



6.1.2 Vận tốc góc quay vòng của xe

d tg dv

v

d





2

dt

L dt L cos  dt



(6-3)



(6-4)



Từ sơ đồ hình (6-1) ta có:

cos =



R

2



L  R2



(6-5)



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

R - bán kính quay vòng của xe

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×