Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất: “Tự do hóa lãi suất – có kiểm soát” :

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất: “Tự do hóa lãi suất – có kiểm soát” :

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTW của quốc gia đó phải xác định được những

mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát, tăng trưởng, hoặc lãi suất

ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng.Vì vậy, việc hồn thiện cơ chế hình

thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn cho lãi suất thị trường liên ngân hàng, thị

trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này.

Với điều kiện thực tế của thị trường tiền tệ trong nước hiện nay, lãi suất cơ bản do Ngân

hàng Nhà nước công bố là kênh thông tin cần thiết, hỗ trợ cho các tổ chức tín dụng, doanh

nghiệp và người dân xác định và thỏa thuận lãi suất tiền gửi và tiền vay phù hợp với diễn

biến lãi suất thị trường.

Theo qui định của Ngân hàng Nhà nước, thì lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay ngắn hạn

thông thường của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng vay có tín nhiệm trong việc

sử dụng vốn vay. Mức lãi suất này đảm bảo cho các ngân hàng thương mại hoạt động trong

điều kiện bình thường, trang trải được chi phí hoạt động, bù đắp rủi ro. Trên thực tế, việc xác

định lãi suất cơ bản không đơn giản, mà là một công việc khá phức tạp, phải dựa trên cơ sở

phân tích, đánh giá có tính định lượng quan hệ cung-cầu vốn và các nhân tố ảnh hưởng khác

để dự báo chiều hướng và mức độ biến động lãi suất thị trường, từ đó xác định và công bố lãi

suất cơ bản

Thứ hai, đối với lãi suất cho vay, trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các

mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và

lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi

cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều

tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.

Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng theo hình thức

chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng thế chấp hồ sơ tín dụng hoặc cầm cố

thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn khác và cho vay qua cửa sổ chiết khấu đặc

biệt. Các hình thức này có thời hạn cho vay ngắn, có thể cho vay trong vài ba ngày, thậm chí

cho vay qua đêm để bù đắp thiếu hụt khả năng thanh toán sau khi các tổ chức tín dụng đã

thực hiện vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Lãi suất của các hình

thức tái cấp vốn này do ngân hàng Nhà nước qui định, thường cao hơn các mức lãi suất

khác, để thực hiện điều tiết và chỉ đạo mặt bằng lãi suất trên thị trường cũng như thực hiện

vai trò ngân hàng Nhà nước là người cho vay cuối cùng. Lãi suất này được quy định từng

thời kỳ tuỳ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ nói chung, có chú ý đến cung – cầu tín dụng

trong nước và quốc tế, đặc biệt chú ý đến trên thị trường vốn và tỷ giá ngoại tệ.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



26



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Các tổ chức tín dụng có thể tự do và không hạn chế số lượng tiền gửi tại ngân hàng Nhà

nước. Nhưng để hạn chế hoặc khuyến khích thì ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất

tiền gửi cao hay thấp, thậm chí lãi suất tiền gửi loại này có thể bằng khơng. Mức lãi suất tiền

gửi ln có khoảng cách nhất định với lãi suất tái chiết khấu và cho vay qua đêm nói trên.

Đối với 2 loại lãi suất này, ngân hàng Nhà nước sẽ tạo ra khoảng giới hạn nhất định có tính

chất khung lãi suất cho thị trường tiền tệ.

Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở là lãi suất đấu thầu các loại tín phiếu và các loại giấy

có giá ngắn hạn. Ngân hàng Nhà nước tham gia tổ chức nghiệp vụ thị trường mở và chi phối

mức lãi suất đấu thầu. Mức lãi suất này thường nằm giữa 2 loại lãi suất tái chiết khấu và lãi

suất tiền gửi nói trên.

Lãi suất thị trường liên ngân hàng để thực hiện việc vay mượn ngắn hạn lẫn nhau giữa

các tổ chức tín dụng trong trường hợp thiếu vốn mà chưa đến phiên giao dịch trên thị trường

mở. Vì vậy lãi suất thị trường liên ngân hàng luôn dao động xung quanh lãi suất thị trường

mở và phụ thuộc vào lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước. Lãi suất thị trường liên

ngân hàng có vai trò chi phối lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng đối với nền

kinh tế theo hướng: lãi suất huy động thường thấp hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng và

cao hơn lãi suất tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước; lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất chiết khấu

của ngân hàng Nhà nước và cao hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng.

Như vậy cơ chế điều hành hệ thống lãi suất này là sự tác động gián tiếp của lãi suất tái

cấp vốn của ngân hàng Nhà nước đến lãi suất tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với nền

kinh tế, thông qua lãi suất trung gian của nghiệp vụ thị trường mở và thị trường liên ngân

hàng. Khi đó ngân hàng Nhà nước đã thực sự sử dụng các biện pháp kinh tế để tác động và

điều hành thị trường thay thế cho các biện pháp can thiệp mang tính hành chính.

Thứ ba, đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm

nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất

thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất

trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.

Các tổ chức tín dụng nên tiếp tục ấn định lãi suất huy động vốn theo mức “trần”

14%/năm và giảm dần theo xu hướng lạm phát, điều hành linh hoạt các mức lãi suất chính

sách của Ngân hàng Nhà nước, hồn thiện cơ chế điều hành lãi suất theo quy định của Luật

Ngân hàng nhà nước, trong đó lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay bình quân thực tế bằng Việt

Nam đồng của tổ chức tín dụng, do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố hàng tháng,

làm cơ sở để thực hiện quản lý nhà nước đối với quan hệ dân sự theo quy định của Bộ luật

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



27



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Dân sự, cho vay nặng lãi của Bộ luật Hình sự và các quan hệ kinh tế khác theo quy định của

pháp luật; lãi suất kinh doanh (huy động và cho vay) của tổ chức tín dụng được thực hiện

theo cơ chế thỏa thuận.

Đồng thời trong thời gian này NHNN cũng nên tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với

NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn

và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn

và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.

Tuy nhiên về lâu dài, khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc

tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con

đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát

lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành ngân

hàng trong năm thời gian tới. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngành ngân hàng đang triển khai

những giải pháp ứng phó kịp thời. Tuy nhiên để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có

hiệu quả, có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn, bên cạnh

sự nỗ lực của toàn ngành ngân hàng, cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính

phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài

chính, giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi, phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu

quả, từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ

cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước.

Một số quốc gia trên thế giới, như Hàn Quốc, Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ tự do hóa lãi

suất theo lộ trình: đầu tiên là lãi suất liên ngân hàng, tiếp theo là lãi suất cho vay và cuối

cùng là lãi suất tiền gửi. Vì lãi suất liên ngân hàng khơng ảnh hưởng trực tiếp tới cơng chúng

nên tự do hóa ít gây biến động chính trị và xã hội nhất. Trung Quốc: Cũng theo lộ trình này

nhưng cho phép khoảng thời gian dài hơn để công chúng quen với phương thức lãi suất mới.

Tự do hóa lãi suất cho vay trước, lãi suất tiền gửi sau, cho phép tránh cạnh tranh thái quá

trong khu vực ngân hàng, đồng thời dành thời gian để NHTM cũng cố hoạt động và cơ cấu

tài chính của mình.



IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

1. Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:

Yêu cầu của chính sách tỷ giá về cơ bản là phải đảm bảo cân bằng giữa các yếu tố: sản

lượng, ổn định giá cả, việc làm và cân bằng ngoại thương.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



28



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Về mặt lý thuyết, việc định giá thấp đồng nội tệ hiện tại Việt Nam đang áp dụng có thể

giải quyết được vấn đề trên vì một mặt giá cả hàng hóa sản xuất tại Việt nam rẻ hơn các nước

khác, đẩy mạnh xuất khẩu và làm tăng dòng ngoại tệ vào Việt Nam. Bên cạnh đó, việc định

giá thấp đồng nội tệ sẽ làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu, làm giảm nhập siêu, như vậy dòng

ngoại tệ ra bị hạn chế hơn.

Trên thực tế, Việt Nam đang điều hành tỷ giá theo hướng giảm giá đồng nội tệ để đẩy

mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, chính sách hiện tại về cơ

bản đã đáp ứng được các mục tiêu về sản lượng và việc làm. Ổn định giá cả và cân bằng

ngoại thương lại đang là vấn đề. Lạm phát các năm gần đây luôn ở mức cao (năm 2010 đã

lên đến 2 chữ số) và thâm hụt thương mại đang là một vấn đề lớn khi nguồn dự trữ ngoại hối

của Việt nam từ cuối năm 2008 đến nay đang bị bào mòn dần.

Bản chất của vấn đề cần giải quyết là tại sao Việt Nam vẫn nhập siêu cao và lạm phát

khó kiểm sốt. Để lý giải cho vấn đề này, cần nhìn nhận lại tính cạnh tranh của các ngành

cơng nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho các ngành xuất khẩu của Việt Nam. Nhận xét

khách quan cho thấy các yếu tố đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là nhập

khẩu từ nước ngoài do các ngành công nghiệp trong nước không đáp ứng được nhu cầu sản

xuất. Như vậy việc hạ giá đồng nội tệ mặc dù làm tăng lợi thế về giá của hàng xuất khẩu

nhưng lại đẩy chi phí đầu vào tăng cao do phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và tư liệu sản

xuất. Chính các yếu tố này làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại và đẩy lạm phát lên

cao.

Vì vậy trong thời gian tới, nhiệm vụ của chính sách quản lý tỷ giá là phải giúp cải thiện

thâm hụt cán cân thương mại và kiểm soát lạm phát đồng thời vẫn duy trì sự ổn định của sản

lượng và việc làm thơng qua các biện pháp bên dưới.

2. Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam nên điều chỉnh theo hướng giảm nhẹ

giá đồng Việt Nam :

Như đã nói ở trên, chính sách hạ giá đồng nội tệ đã phát huy tác dụng là ổn định sản

lượng sản xuất và việc làm. Tuy nhiên, vấn đề cần giải quyết là kiểm soát nhập siêu và lạm

phát.

Thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay, việc tạo lợi thế cạnh tranh thương mại để xuất

khẩu là phù hợp nhưng nhập khẩu nhiều là vấn đề khơng thể tránh khỏi vì khả năng đáp ứng

của các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước là chưa đủ. Vì vậy, việc điều hành tỷ giá cần

phải đảm bảo sự cân bằng giữa xuất và nhập khẩu. Về lâu dài, chính sách định giá thấp đồng

nội tệ vẫn phát huy tác dụng nhưng mức độ giảm giá đồng nội phải đủ hợp lý để thúc đẩy

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất: “Tự do hóa lãi suất – có kiểm soát” :

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×