Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :

Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Năm 2007, lạm phát ở nước ta lại tăng cao lên 12,63%, đó là hậu quả của chính sách

tiền tệ nới lỏng và tăng trưởng nóng ở nước ta trong hai năm 2006-2007. Đến hết tháng

06/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 18,44% so với 31/12/2007 và 24,8% so với cùng kỳ năm

trước, mức cao nhất trong 15 năm kể từ năm 1993. Ngân hàng Nhà nước buộc phải ra một

loạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số

187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành tín

phiếu bắt buộc theo quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 nhằm rút bớt tiền từ lưu

thơng về, chủ động kiểm sốt tốc độ tăng tổng phương tiện thanh tốn và tăng trưởng dư nợ

tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Bước đầu đã làm giảm bớt một phần lượng

tiền từ các NHTM, giảm đáng kể hệ số nhân tiền, nhưng lại nẩy sinh tình trạng khó khăn

thanh khoản cho các NHTM, nhất là những NHTMCP nhỏ. Từ đó, làn sóng tăng lãi suất

trong huy động dấy lên, từ tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh

do các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VND lên mức 13-14%/năm và đã đẩy lãi suất

cho vay lên đến mức trên 20%/năm.

Cũng trong thời gian này, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu nóng lên, đến

giữa tháng 2/2008 đã lên đến 30%, có ngân hàng đặt thầu lên đến 40%/năm .Trong khi đó lãi

suất cơ bản của NHNN chỉ với mức 8,75%/năm và lãi suất tái chiết khấu cấp vốn với mức

7,5%/năm, lãi suất chiết khấu với mức 6%/năm theo quyết định 306/QĐ-NHNN ngày

30/1/2008 vẫn khơng có tác dụng hướng dẫn thị trường. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà

nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày

26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này.



Tiếp đó thực hiện chỉ đạo của chính phủ trong việc sử dụng công cụ lãi suất để kiềm

chế lạm phát, ngày 16/5/2008, NHNN đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ

chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, theo đó qui định việc các TCTD ấn định

lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng khơng vượt q 150%

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



10



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

của lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Trên cơ sở quyết định trên, cùng ngày 16/5/2008,

NHNN qui định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 12%/năm.Sau quyết định tăng

lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất huy động của các NHTM điều chỉnh lên 16-17%/năm.

Từ khi NHNN tiếp tục tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm thì lãi suất huy động lại đẩy lên

theo, thường ở mức 17-18%/năm. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng

phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động

12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng khơng còn hiệu lực. Đến

hết tháng 06/2008, khi GDP tăng khoảng 6,8% thì tốc độ tăng M2 chỉ tăng 6% so với đầu

năm và mức độ tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 12%/năm, nguy cơ thiếu thanh khoản của

các NHTM đã được giải tỏa.

Quý 3/2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết định

của NHNN trong việc sử dụng các cơng cụ của chính sách tiền tệ: lãi suất cơ bản giảm xuống

từ 14% còn 8,5%; lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên 3,5%/năm, 5%/năm,

10%/năm sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm; tín phiếu bắt buộc đựơc thanh toán

trước hạn; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% xuống đến 5% và các loại lãi suất chiết khấu, lãi

suất tái cấp vốn cũng được hạ xuống. Chỉ số lạm phát ở tháng 7/2008 được công bố ở mức

1,13% là mức thấp nhất so với các tháng trước đã làm cho tình hình dịu đi, tháng 8/2008 là

1,56%, đến tháng 9/2008 chỉ còn 0,18%, tháng 10/2008 giá cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm

0,19%), sang tháng 11/2008 chỉ số giá giảm với mức độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng

12/2008 chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm còn 0,68%, cả năm 2008 mức lạm phát là 19,98%.

Tăng trưởng GDP đạt 6,23%, thấp hơn dự kiến khoảng 2%.

Như vậy, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất kiềm chế lạm phát một cách hiệu

quả.

Bước sang năm 2009 thì những biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ

tăng trưởng, cũng như chính sách vĩ mơ đã có những kết quả tích cực. Ngày 01/02/2009

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về

lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ

đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là

cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro.

Năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến khơng thuận lợi. Do áp lực từ cuộc

khủng hoảng tài chính tồn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý

găm giữ ngoại tệ. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi Chính sách tiền tệ một cách linh

hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. NHNN đã hạ thấp

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



11



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. Các loại

lãi suất: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán

điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân

hàng nhà nước đối với các ngân hàng đều được giảm với mức phổ biến là 1%. Cụ thể lãi suất

tái cấp vốn là 7%/năm so với mức 8%/năm như trước đây. Lãi suất tái chiết khấu là 5%/năm

so với mức 6%/năm. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và

cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước đối với các

ngân hàng giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm. Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ

lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh

nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu

cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.

5. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (4.2010 đến nay):

NHNN thực hiện chính sách tiền tệ khá thận trọng trong những tháng đầu năm 2010 do

áp lực lạm phát bùng nổ trong quý I. Tuy nhiên, việc lạm phát ổn định ở mức thấp trong quý

II nên NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thận trọng từ quý II đã làm cho tăng

trưởng tín dụng tăng cao hơn, điều này được thể hiện qua Thông tư 12 của NHNN ban hành

ngày 14/4/2010 về việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận và thể hiện qua việc quyết tâm của

Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu lãi suất “vào 10 ra 12”. Trong thực tế cho thấy rằng

mục tiêu này của Chính phủ đã khơng phát huy được tác dụng vì mặt bằng lãi suất trong nền

kinh tế diễn biến theo chiều ngược lại và đứng ở mức cao.



Trước diễn biến của lạm phát tăng cao từ tháng 9, NHNN đã trở lại với chính sách tiền

tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua việc nâng lãi suất cơ bản lên 9% và

các lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu lên 8% từ ngày 5/11/2010. Việc nâng lãi suất

này cùng với những quy định mới của Thông tư 13 về nâng tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ cấp tín

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



12



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

dụng đã ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng và phần nào tác động đến mặt

bằng lãi suất cao ở thời điểm hiện tại. Hơn nữa, thị trường tiền tệ chứng kiến cuộc đua lãi

suất mạnh mẽ giữa các ngân hàng vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12 với lãi suất huy động

lên đến 18% và lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng hơn 13%, trong đó có cả

những ngân hàng lớn tham gia vào cuộc đua này đã cho thấy vấn đề thanh khoản của hệ

thống ngân hàng có thể đang gặp khó khăn ở thời điểm hiện tại.

Sự bất ổn của thị trường tiền tệ trong năm 2010 cho thấy các công cụ điều hành tiền tệ

của Ngân hàng nhà nước không còn nhiều hiệu quả khi lãi suất cơ bản chỉ còn mang tính chất

tham khảo do lãi suất hiện tại đang được áp dụng theo cơ chế thỏa thuận, tỷ lệ dự trữ bắt

buộc hiện tại đã gần quá ngưỡng chịu đựng của hệ thống ngân hàng nên việc nên khả năng

tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gần như khơng còn trong khi hoạt động thị trường mở từ lâu chưa

phải là công cụ hữu hiệu để ổn định thị trường tiền tệ Việt Nam. Hơn nữa, việc chính sách tài

khóa được mở rộng trong một thời gian dài với mức thâm hụt ngân sách hàng năm đều trên

5% (giới hạn an tồn) chính là một trong những ngun nhân chính làm giảm hiệu quả của

chính sách tiền tệ của NHNN và dẫn tới những bất ổn trên thị trường tiền tệ ở thời điểm hiện

tại. Chính những bất ổn của chính sách tiền tệ trong năm qua cùng với việc nợ công và thâm

hụt ngân sách lần lượt vượt ngưỡng an toàn ở mức 56,6% GDP và 5,8% GDP đã dẫn đến

việc hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn là Moody’s và S&P lần lượt hạ mức tín

nhiệm Việt Nam xuống còn B1 và BB và làm cho CDS của Việt Nam ở mức cao nhất so với

các nước trong khu vực. Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho Việt Nam trong việc huy động

nguồn vốn quốc tế trong thời gian tới.

6. Đánh giá chung về chính sách điều hành lãi suất ỡ Việt Nam thời gian qua :

Điều hành lãi suất là một hành động quan trọng của ngân hàng trung ương đối với ổn

định và tăng trưởng kinh tế. Mặc dù có những thành công trong việc điều hành hệ thống ngân

hàng đem lại tăng trưởng và ổn định cho nền kinh tế, cách thức điều hành lãi suất của Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn cho thấy một vài điểm chưa hồn thiện:

-



Chính sách lãi suất bị động chưa bắt kịp diễn biến thực tế: Thực tế thời gian qua



chúng ta thường xuyên chứng kiến những biến động trái chiều trong lãi suất và tính thanh

khoản của thị trường. Những biến cố xãy ra thường vượt sức chịu đựng của thị trường thì lúc

này cơ chế chính sách mới được đưa ra để hướng dẫn thay vì chính sách của Nhà nước phải

phát huy tác dụng là công cụ dự báo, dẫn dắt và định hướng thị trường.

-



Chính sách điều chỉnh thường tạo ra cú sốc lớn, doanh nghiệp gặp rủi ro khi



chưa có cơng cụ phòng ngừa: Một hệ lụy từ việc chính sách chưa thể hiện vai trò dự báo,

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



13



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

dẫn dắt thị trường. Khi tình hình biến động theo một chiều hướng xấu thì lúc này NHNN mới

đưa ra “toa trị bệnh”, chính những điều chỉnh khơng báo trước này làm doanh nghiệp bị lúng

túng, thậm chí là gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời vì sự thay đổi đột ngột trong chính sách

này, doanh nghiệp chưa có thời gian và cơng cụ phòng ngừa tạo ra áp lực lớn cho doanh

nghiêp.

-



Tồn tại cơ chế lãi suất 2 giá song song nhau, làm bóp méo thị trường : Tình hình



vừa qua cho thấy, thị trường gặp khó khăn về tính thanh khoản, doanh nghiệp khó tiếp cận

vốn. Trong khi cần phải duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn lớn làm đẩy lãi

suất trên thị trường tự do tăng cao, trong khi lãi suất cơ bản do nhà nước ban hành để hướng

dẫn thị lại ở mức quá thấp và bị vơ hiệu lực. Khi có khoảng chệnh lệch và để kiềm chế vay

nợ tín dụng thì NHTW điều chỉnh lãi suất lên cao hơn, nhưng nhu cầu vay nợ doanh nghiệp

vẫn cao, thì “lãi suất ngầm” trên thị trường cao hơn quy định thông qua thỏa thuận riêng.

-



Điều hành lãi suất quá dựa vào tín hiệu doanh nghiệp: việc ra quyết định về lãi



suất của NHNN Việt Nam là ln chậm vì khơng chú trọng đủ mức vào những dấu hiệu vĩ

mô phản ánh khuynh hướng của nền kinh tế, NHNN dường như thường hay dựa vào những

thông tin vi mô để đưa ra quyết định. Hiện tượng căn cứ vào lời kêu ca thiếu vốn làm ăn của

doanh nghiệp là khơng thích hợp trong việc ra quyết định về lãi suất. Trong bất kỳ trường

hợp nào được hưởng ưu đãi (lãi suất), các doanh nghiệp được hưởng rồi sẽ vẫn kêu thiếu

chẳng ai nói đủ rồi bao giờ, còn những doanh nghiệp chưa được tiếp cận lại càng kêu to. Do

cách tiếp cận như vậy, việc kéo dài chính sách ưu đãi lãi suất là tất yếu. Và hành động này là

khơng hợp lý, nó giống bạn giữ chân ga quá lâu khi xe đã lên đỉnh dốc, làm cho xe q đà,

khó kiểm sốt sau đó.



II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH TỈ GIÁ HỐI ĐỐI QUA CÁC THỜI KỲ:

1. Giai đoạn 1992 đến 1997:

Giai đoạn 1992 đến khi khủng hoảng tài chính tiền tệ Đơng Nam Á (7/1997), NHNN

Việt Nam áp dụng chính sách TGHĐ cố định để kiềm chế lạm phát. Việc điều hành tỷ giá

còn quá sơ cứng và thụ động, đồng Việt Nam bị định giá cao so với đôla Mỹ. Điều này đã tạo

ra và tích lũy các nhân tố gây mất ổn định và kiềm hãm sự phát triển kinh tế.

2. Giai đoạn từ 1997 đến 1999:

Mặc dù thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam khơng bị kéo vào làn sóng khủng hoảng tài

chính Châu Á, nhưng Chính phủ và NHNN đã thấy được tính chất nghiêm trọng của việc áp

dụng chế độ TGHĐ cố định lâu dài nên đã có khoảng 10 lần điều chỉnh biên độ. Nhưng

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×