Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ TRONG THỜI GIAN TỚI.

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ TRONG THỜI GIAN TỚI.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

thị trường phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Hồn thiện hệ thống thơng tin nội

bộ ngành theo hướng tin học hóa, đảm bảo nắm bắt được đầy đủ, kịp thời, chính xác thơng

tin; tăng cường phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin giữa các Bộ, ngành để phục vụ cơng tác

phân tích, dự báo tiền tệ.

3. Tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn, năng lực kinh doanh của các tổ

chức tín dụng- các thành viên chủ yếu của thị trường :

Các tổ chức tín dụng có biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn phù hợp

với thông lệ quốc tế, thực hiện phân tích lưu chuyển vốn trên cơ sở theo dõi kỳ hạn của các

khoản mục trên bảng cân đối.

Hồn thiện hệ thống thơng tin thanh toán nhằm thực hiện quản lý vốn tập trung, trực

tuyến điều chuyển vốn linh hoạt trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng, cũng như giữa các

ngân hàng; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, năng

lực tài chính và sức cạnh tranh.

Chuẩn hoá tổ chức hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ ở các NHTM đảm bảo

tách bạch rõ ràng giữa chức năng kinh doanh với chức năng thanh toán và quản lý rủi ro.

Các NHTM tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường tiền tệ, nâng

cao trình độ kinh doanh, giao dịch tiền tệ cùng với việc xây dựng các biện pháp đảm bảo an

tồn và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.



II. NÂNG CAO VAI TRỊ CỦA CHÍNH PHỦ VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Thực trạng nền kinh tế hiện nay đang đứng trước thử thách với “ba nút cổ chai”, gồm

có tỷ giá hối đoái bất ổn, lãi suất ngân hàng tăng cao và lạm phát có thể sẽ lên mức hai con

số. Tình trạng như thế, tăng trưởng kinh tế có thể đạt, nhưng chỉ có số lượng chứ khơng có

chất lượng. Do đó, phải tìm phương thức để thốt khỏi tình trạng trên, đưa đất nước vào phát

triển. Hơn nữa, đây là những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, rất quan trọng. Vì

vậy, cần phải tìm giải pháp để thốt khỏi khó khăn, đưa đất nước tăng trưởng bền vững. Một

trong những giải pháp được đề nghị đó là nâng cao vai trò chỉ đạo của NHNN và Chính phủ.

Trước hết, cần trao thêm quyền cho NHNN nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính

sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng.

NHNN phải được đảm bảo tính độc lập trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và

giám sát an toàn của hệ thống tài chính tín dụng quốc gia vì mục tiêu ổn định xã hội, phát

triển kinh tế. Hiện tại, Chính phủ đã “bao cấp chức năng” của Ngân hàng NN, hành chính

hóa các cơng cụ kinh tế vốn có bản chất thị trường, NHNN trước khi giải quyết vấn đề lãi

suất phải trình xin ý kiến CP và điều đó làm Ngân hàng Nhà nước bị động trong nhiều quyết

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



23



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

định và sự bị động này đôi khi gây tổn hại lớn, ảnh hưởng tới tâm lý người dân và đe dọa đến

nền kinh tế. Hãy trao quyền cho Thống đốc để điều hành thị trường tiền tệ một cách chủ

động

Thêm vào đó, Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền

tệ, với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Lạm phát quá cao , trong khi lãi suất thấp

hơn, lãi suất khơng dương thì cũng vơ phương huy động, ảnh hưởng tới tính thanh khoản của

các ngân hàng, làm cho các ngân hàng phải ấn định lãi suất huy động cao để tăng khả năng

huy động vốn. Chính phủ khơng chỉ có chính sách tiền tệ là công cụ để ổn định kinh tế vĩ

mơ. Vì thế phải sử dụng cả hai chính sách trên cho thật sự có hiệu quả. Những cơng cụ thị

trường mở phải ra vào thị trường, tới tay người dân, chứ không chỉ ở lại trong khu vực ngân

hàng để ổn định đồng tiền. Việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của

các tập đồn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài

nước. Phải thực hiện kiểm sốt chặt chẽ các khoản đầu tư cơng, giảm bội chi ngân sách, sử

dụng vốn ngân sách nhà nước đạt hiệu quả cao nhất.

Một vấn đề cũng cần phải nghiên cứu nữa là việc vi phạm trong huy động lãi suất.

Trong tình hình nhạy cảm hiện nay, lạm phát gắn liền với niềm tin và yếu tố tâm lý thì việc

xé rào lãi suất như của Techcombank trong năm vừa qua sẽ làm rối loạn thị trường tiền tệ,

ảnh hưởng tới tâm lý của người dân từ đó sẽ tạo áp lực cho cuộc đua lãi suất diễn ra mà

nguyên nhân không phải là do căng thẳng nguồn vốn. Do đó, Ngân hàng NN cần xem lại vấn

đề cấu trúc ngân hàng, tránh ngân hàng to nhỏ choảng nhau, phải có biện pháp xử lý thích

hợp với các trường hợp vi phạm. Ngân hàng NN phải là một ngân hàng Mẹ, cả trên luật pháp

lẫn trên thực tế, để điều hành theo quy luật thị trường chứ không phải một cơ quan ban hành

chính như hiện nay. Có như vậy mới giữ được sự ổn định trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện

cho các chính sách vĩ mô phát huy tác dụng tối đa.

Cuối cùng, biện pháp trung và dài hạn đối với vấn đề lãi suất là phải tạo niềm tin vào

đồng nội tệ. Hiện nay, chúng ta chưa tôn trọng quy luật thị trường, chưa coi trọng phối hợp

chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, điều hành vĩ mơ q kém, độ trễ của chính sách

tiền tệ từ các năm trước bắt đầu ảnh hưởng. Những vấn đề này không do lỗi của đồng tiền

nhưng hậu quả lại đổ hết lên đồng tiền. Hệ quả là cuối cùng người dân càng ngày càng mất

lòng tin vào đồng tiền và quay ra tích trữ vàng, bất động sản, chứng khoán, làm tăng tỷ giá,

tăng lạm phát; ngân hàng phải xé rào lãi suất để cạnh tranh, đẩy lãi suất lên; doanh nghiệp

không chịu nổi. Trong trung hạn và dài hạn, về nhận thức, phải trả lại cho Ngân hàng Nhà

nước chức năng điều hành tiền tệ theo những quy luật của kinh tế thị trường; khơng thể tăng

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



24



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

trưởng nhanh trong khi thực lực khơng có; phải coi trọng tăng trưởng có chất lượng; đặc biệt

là phải đặt vấn đề ổn định giá trị đồng tiền lên hàng đầu. Tăng trưởng khơng cao nhưng ổn

định và có chất lượng thì tự nhiên sẽ bớt được lạm phát. Trong trường hợp cần thiết thì cũng

phải hy sinh trong chính sách tiền tệ bằng những biện pháp nghiệp vụ tức thời. Cần có các

quỹ bình ổn ở cấp quốc gia để sử dụng trong trường hợp cần thiết. Cần loại bỏ vàng khỏi

thanh tốn. Mặc dù vàng có vai trò tiền nhưng chỉ nên giữ nó ở chức năng cất trữ chứ khơng

nên để nó tham gia các hoạt động thanh toán, gây rối loạn thị trường. Xây dựng đề án chống

đơ la hóa, xử lý hành vi đầu cơ ngoại tệ, găm giữ ngoại tệ quá lâu trong lúc đất nước cần

ngoại tệ. Ngân hàng Nhà nước nên can thiệp bằng các nguồn dự trữ chứ tuyệt đối không nên

phá giá trong thời điểm này. Nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế, cải thiện cán cân

thương mại, phát triển nội lực của Việt Nam là lời giải dài hạn cho bài toán hiện nay.



III. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ LÃI SUẤT

1. Lựa chọn cơ chế điều hành lãi suất:

Chính sách lãi suất là một cơng cụ của Chính sách tiền tệ. Vì vậy mục tiêu theo đuổi

của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của Chính sách tiền tệ, q trình hồn thiện

cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của Chính

sách tiền tệ là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh

tế vĩ mơ. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú

sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng

trưởng kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.

Trên ngun tắc đó, trong thời kỳ hội nhập hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần

hướng tới nhiều hơn, đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh

tế vĩ mô. Theo đó, chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất

cập hiện nay trên thị trường tiền tệ, nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác

thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. Do vậy, tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để

đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo quy luật cung cầu, phân bổ nguồn

vốn hợp lý. Tuy nhiên, với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt với những bất cập của

thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết, và từng bước tạo

dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất. Vậy cơ chế điều hành lãi suất trong thời

gian tới cần phải chú trọng đó là “Tự do hóa lãi suất – có kiểm sốt”.

2. Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất: “Tự do hóa lãi suất – có kiểm sốt” :

Thứ nhất, phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường.

Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, để có thể phát huy được tốt vai trò định

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



25



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTW của quốc gia đó phải xác định được những

mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát, tăng trưởng, hoặc lãi suất

ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng.Vì vậy, việc hồn thiện cơ chế hình

thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn cho lãi suất thị trường liên ngân hàng, thị

trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này.

Với điều kiện thực tế của thị trường tiền tệ trong nước hiện nay, lãi suất cơ bản do Ngân

hàng Nhà nước công bố là kênh thông tin cần thiết, hỗ trợ cho các tổ chức tín dụng, doanh

nghiệp và người dân xác định và thỏa thuận lãi suất tiền gửi và tiền vay phù hợp với diễn

biến lãi suất thị trường.

Theo qui định của Ngân hàng Nhà nước, thì lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay ngắn hạn

thông thường của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng vay có tín nhiệm trong việc

sử dụng vốn vay. Mức lãi suất này đảm bảo cho các ngân hàng thương mại hoạt động trong

điều kiện bình thường, trang trải được chi phí hoạt động, bù đắp rủi ro. Trên thực tế, việc xác

định lãi suất cơ bản không đơn giản, mà là một công việc khá phức tạp, phải dựa trên cơ sở

phân tích, đánh giá có tính định lượng quan hệ cung-cầu vốn và các nhân tố ảnh hưởng khác

để dự báo chiều hướng và mức độ biến động lãi suất thị trường, từ đó xác định và công bố lãi

suất cơ bản

Thứ hai, đối với lãi suất cho vay, trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các

mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và

lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi

cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều

tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.

Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng theo hình thức

chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng thế chấp hồ sơ tín dụng hoặc cầm cố

thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn khác và cho vay qua cửa sổ chiết khấu đặc

biệt. Các hình thức này có thời hạn cho vay ngắn, có thể cho vay trong vài ba ngày, thậm chí

cho vay qua đêm để bù đắp thiếu hụt khả năng thanh toán sau khi các tổ chức tín dụng đã

thực hiện vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Lãi suất của các hình

thức tái cấp vốn này do ngân hàng Nhà nước qui định, thường cao hơn các mức lãi suất

khác, để thực hiện điều tiết và chỉ đạo mặt bằng lãi suất trên thị trường cũng như thực hiện

vai trò ngân hàng Nhà nước là người cho vay cuối cùng. Lãi suất này được quy định từng

thời kỳ tuỳ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ nói chung, có chú ý đến cung – cầu tín dụng

trong nước và quốc tế, đặc biệt chú ý đến trên thị trường vốn và tỷ giá ngoại tệ.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



26



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Các tổ chức tín dụng có thể tự do và không hạn chế số lượng tiền gửi tại ngân hàng Nhà

nước. Nhưng để hạn chế hoặc khuyến khích thì ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất

tiền gửi cao hay thấp, thậm chí lãi suất tiền gửi loại này có thể bằng khơng. Mức lãi suất tiền

gửi ln có khoảng cách nhất định với lãi suất tái chiết khấu và cho vay qua đêm nói trên.

Đối với 2 loại lãi suất này, ngân hàng Nhà nước sẽ tạo ra khoảng giới hạn nhất định có tính

chất khung lãi suất cho thị trường tiền tệ.

Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở là lãi suất đấu thầu các loại tín phiếu và các loại giấy

có giá ngắn hạn. Ngân hàng Nhà nước tham gia tổ chức nghiệp vụ thị trường mở và chi phối

mức lãi suất đấu thầu. Mức lãi suất này thường nằm giữa 2 loại lãi suất tái chiết khấu và lãi

suất tiền gửi nói trên.

Lãi suất thị trường liên ngân hàng để thực hiện việc vay mượn ngắn hạn lẫn nhau giữa

các tổ chức tín dụng trong trường hợp thiếu vốn mà chưa đến phiên giao dịch trên thị trường

mở. Vì vậy lãi suất thị trường liên ngân hàng luôn dao động xung quanh lãi suất thị trường

mở và phụ thuộc vào lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước. Lãi suất thị trường liên

ngân hàng có vai trò chi phối lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng đối với nền

kinh tế theo hướng: lãi suất huy động thường thấp hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng và

cao hơn lãi suất tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước; lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất chiết khấu

của ngân hàng Nhà nước và cao hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng.

Như vậy cơ chế điều hành hệ thống lãi suất này là sự tác động gián tiếp của lãi suất tái

cấp vốn của ngân hàng Nhà nước đến lãi suất tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với nền

kinh tế, thông qua lãi suất trung gian của nghiệp vụ thị trường mở và thị trường liên ngân

hàng. Khi đó ngân hàng Nhà nước đã thực sự sử dụng các biện pháp kinh tế để tác động và

điều hành thị trường thay thế cho các biện pháp can thiệp mang tính hành chính.

Thứ ba, đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm

nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất

thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất

trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.

Các tổ chức tín dụng nên tiếp tục ấn định lãi suất huy động vốn theo mức “trần”

14%/năm và giảm dần theo xu hướng lạm phát, điều hành linh hoạt các mức lãi suất chính

sách của Ngân hàng Nhà nước, hồn thiện cơ chế điều hành lãi suất theo quy định của Luật

Ngân hàng nhà nước, trong đó lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay bình quân thực tế bằng Việt

Nam đồng của tổ chức tín dụng, do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố hàng tháng,

làm cơ sở để thực hiện quản lý nhà nước đối với quan hệ dân sự theo quy định của Bộ luật

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



27



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Dân sự, cho vay nặng lãi của Bộ luật Hình sự và các quan hệ kinh tế khác theo quy định của

pháp luật; lãi suất kinh doanh (huy động và cho vay) của tổ chức tín dụng được thực hiện

theo cơ chế thỏa thuận.

Đồng thời trong thời gian này NHNN cũng nên tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với

NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn

và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn

và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.

Tuy nhiên về lâu dài, khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc

tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con

đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát

lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành ngân

hàng trong năm thời gian tới. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngành ngân hàng đang triển khai

những giải pháp ứng phó kịp thời. Tuy nhiên để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có

hiệu quả, có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn, bên cạnh

sự nỗ lực của toàn ngành ngân hàng, cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính

phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài

chính, giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi, phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu

quả, từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ

cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước.

Một số quốc gia trên thế giới, như Hàn Quốc, Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ tự do hóa lãi

suất theo lộ trình: đầu tiên là lãi suất liên ngân hàng, tiếp theo là lãi suất cho vay và cuối

cùng là lãi suất tiền gửi. Vì lãi suất liên ngân hàng khơng ảnh hưởng trực tiếp tới cơng chúng

nên tự do hóa ít gây biến động chính trị và xã hội nhất. Trung Quốc: Cũng theo lộ trình này

nhưng cho phép khoảng thời gian dài hơn để công chúng quen với phương thức lãi suất mới.

Tự do hóa lãi suất cho vay trước, lãi suất tiền gửi sau, cho phép tránh cạnh tranh thái quá

trong khu vực ngân hàng, đồng thời dành thời gian để NHTM cũng cố hoạt động và cơ cấu

tài chính của mình.



IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

1. Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:

Yêu cầu của chính sách tỷ giá về cơ bản là phải đảm bảo cân bằng giữa các yếu tố: sản

lượng, ổn định giá cả, việc làm và cân bằng ngoại thương.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



28



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Về mặt lý thuyết, việc định giá thấp đồng nội tệ hiện tại Việt Nam đang áp dụng có thể

giải quyết được vấn đề trên vì một mặt giá cả hàng hóa sản xuất tại Việt nam rẻ hơn các nước

khác, đẩy mạnh xuất khẩu và làm tăng dòng ngoại tệ vào Việt Nam. Bên cạnh đó, việc định

giá thấp đồng nội tệ sẽ làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu, làm giảm nhập siêu, như vậy dòng

ngoại tệ ra bị hạn chế hơn.

Trên thực tế, Việt Nam đang điều hành tỷ giá theo hướng giảm giá đồng nội tệ để đẩy

mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, chính sách hiện tại về cơ

bản đã đáp ứng được các mục tiêu về sản lượng và việc làm. Ổn định giá cả và cân bằng

ngoại thương lại đang là vấn đề. Lạm phát các năm gần đây luôn ở mức cao (năm 2010 đã

lên đến 2 chữ số) và thâm hụt thương mại đang là một vấn đề lớn khi nguồn dự trữ ngoại hối

của Việt nam từ cuối năm 2008 đến nay đang bị bào mòn dần.

Bản chất của vấn đề cần giải quyết là tại sao Việt Nam vẫn nhập siêu cao và lạm phát

khó kiểm sốt. Để lý giải cho vấn đề này, cần nhìn nhận lại tính cạnh tranh của các ngành

cơng nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho các ngành xuất khẩu của Việt Nam. Nhận xét

khách quan cho thấy các yếu tố đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là nhập

khẩu từ nước ngoài do các ngành công nghiệp trong nước không đáp ứng được nhu cầu sản

xuất. Như vậy việc hạ giá đồng nội tệ mặc dù làm tăng lợi thế về giá của hàng xuất khẩu

nhưng lại đẩy chi phí đầu vào tăng cao do phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và tư liệu sản

xuất. Chính các yếu tố này làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại và đẩy lạm phát lên

cao.

Vì vậy trong thời gian tới, nhiệm vụ của chính sách quản lý tỷ giá là phải giúp cải thiện

thâm hụt cán cân thương mại và kiểm soát lạm phát đồng thời vẫn duy trì sự ổn định của sản

lượng và việc làm thơng qua các biện pháp bên dưới.

2. Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam nên điều chỉnh theo hướng giảm nhẹ

giá đồng Việt Nam :

Như đã nói ở trên, chính sách hạ giá đồng nội tệ đã phát huy tác dụng là ổn định sản

lượng sản xuất và việc làm. Tuy nhiên, vấn đề cần giải quyết là kiểm soát nhập siêu và lạm

phát.

Thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay, việc tạo lợi thế cạnh tranh thương mại để xuất

khẩu là phù hợp nhưng nhập khẩu nhiều là vấn đề khơng thể tránh khỏi vì khả năng đáp ứng

của các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước là chưa đủ. Vì vậy, việc điều hành tỷ giá cần

phải đảm bảo sự cân bằng giữa xuất và nhập khẩu. Về lâu dài, chính sách định giá thấp đồng

nội tệ vẫn phát huy tác dụng nhưng mức độ giảm giá đồng nội phải đủ hợp lý để thúc đẩy

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



29



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

xuất khẩu, đảm bảo việc làm nhưng không đẩy các yếu tố đầu vào sản xuất lên cao cho đến

khi các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước đủ mạnh để thay thế nhập khẩu, giảm chi phí

đầu vào và giữ lạm phát ở mức hợp lý.

Như vậy, giảm giá ngoại tệ ở mức hợp lý để đảm bảo cần bằng là nhiệm vụ đầu tiên của

chính sách quản lý tỷ giá ở Việt Nam.

3. Thực hiện chính sách đa dạng hóa rổ ngoại tệ và tăng dự trữ ngoại hối :

Không thể phủ nhận đồng Việt Nam đang được định giá xoay quanh biến động của

USD. Quỹ dự trữ ngoại hối của ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ yếu vẫn là USD.

Nguyên nhân khách quan là USD là đồng tiền thanh tốn quốc tế thơng dụng nhất. Tuy

nhiên, hậu quả của việc này là đồng tiền của Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào USD và rủi

ro biến động tỷ giá là khó kiểm sốt. Thực tế cho thấy rằng những thời điểm khan hiếm USD

là những lúc nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn cả về Vi mơ lẫn Vĩ mô (làm mất ổn định lãi

suất và gia tăng lạm phát).

Vì vậy, về lâu dài, chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam cần được xây dựng theo

hướng đa dạng hóa ngoại tệ, giảm phụ thuộc vào USD để hạn chế rủi ro tỷ giá. Chính sách

quản lý ngoại hối phải hướng các doanh nghiệp thay đổi thói quen giao dịch bằng USD bằng

cách sử dụng các đồng tiền tự do chuyển đổi khác.

Bên cạnh đó, nguồn dự trữ ngoại hối phải đủ mạnh để nhà nước có thể can thiệp vào thị

trường ở những thời điểm cần thiết để đảm bảo được ổn định kinh tế. Việc bào mòn nguồn

dự trữ ngoại hối là hệ quả tất yếu của tình trạng nhập siêu. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này

đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý ngoại hối như định giá đồng nội tệ thấp

ở mức hợp lý, giảm rủi ro phụ thuộc tỷ giá và gia tăng tính tự do chuyển đổi của đồng Việt

Nam.

4. Tạo điều kiện để đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi:

Hiện tại đồng tiền Việt Nam vẫn chưa được xem là đồng tiền chuyển đổi nên việc phụ

yết giá thông qua một đồng tiền khác trong các giao dịch quốc tế là khơng thể tránh khỏi.

Chính việc hướng về xuất khẩu trong khi đồng nội tệ không phải là đồng tiền tự do chuyển

đổi và đơ la hóa nền kinh tế ở mức cao làm gia tăng rủi ro phụ thuộc tỷ giá.

Cần phải thừa nhận rằng việc yết giá hàng hóa trong nước thơng qua một loại ngoại tệ

là vấn đề rất phổ biến và khó kiểm sốt tại Việt Nam và ngồi thị trường chính thức, ngoại tệ

(ở Việt Nam là USD) vẫn đang lưu thông phổ biến ở thị trường chợ đen. Chính việc quản lý

yếu kém thị trường này đã làm giảm hiệu quả của các cơng cụ can thiệp vào thị trường ngoại

hối.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



30



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Nguyên nhân gây ra tình trạng đơ la hóa cao khơng chỉ do quản kém dẫn đền tồn tại

một thị trường khơng chính thức mà còn do vấn đề xây dựng niềm tin vào giá trị của đồng

nội tê. Việc định giá đồng nội tệ ở mức thấp công với hệ thống quản lý giá cả khơng hiệu quả

đã bào mòn niềm tin vào giá trị của đồng nội tệ, việc đảm bảo giá trị tài sản thơng qua sở hữu

một đồng tiền mạnh hoặc tích trữ vàng là một hệ quả khơng thể tránh khỏi.

Vì vậy, chính sách quản lý và điều hành ngoại hối trong thời gian tới phải hướng tới

kiểm sốt đơ la hóa trong nền kinh tế đồng thời đưa đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền

tự do chuyển đổi bằng cách sử dụng các biện pháp quản lý thắt chặt để hạn chế việc yết giá

hàng hóa trong nước bằng ngoại tệ (kết hợp với giữ ổn định tỷ giá) đồng thời thực hiện các

biện pháp làm gia tăng tính phổ biến của đồng Việt Nam trong các giao dịch quốc tế. Bên

cạnh đó, chính sách quản lý tỷ giá cần kết hợp với chính sách lãi suất để làm tăng tính hấp

dẫn của đồng Việt Nam so với đồng USD nhằm thu hút nguồn ngoại tệ chạy vào hệ thống

ngân hàng.

5. Chính sách lãi suất :

Lãi suất là cơng cụ được các ngân hàng trung ương sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối

đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nơi tệ. Chính sách lãi suất cao có xu

hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào

trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ sẽ

dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế

sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn. Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị

trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng

giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá. Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suất

trong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi suất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu

hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá.

Ngân hàng trung ương phải có chích sách lãi suất phù hợp, điều chỉnh lãi suất phải gắn

với điều chỉnh giá cả, đồng thời phải gắn việc xử lý mối quan hệ giữa lãi suất với tỷ giá và

phải được điều chỉnh hàng ngày căn cứ vào sức mua của đồng tiền Việt Nam.Cần thu hẹp

khoảng cách lãi suất cho vay bằng ngoại tệ và nội tệ, chủ yếu với lãi suất của USD vì nó ảnh

hưởng đến hiện tượng đơla hóa gây khó khăn cho hoạt động điều tiết chính sách tiền tệ của

NH TW.

Phải hồn thiện chính sách lãi suất để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp,

quản lý chặt chẽ việc cấp tín dụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng nước ngoài cho các ngân

hàng thương mại trong nước cũng như cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nhà nước cần chủ

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



31



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

động kiểm sốt và hạn chế các khoản tín dụng, tránh tình trạng thị trường ngoại hối vượt ra

ngồi tầm kiểm sốt của ngân hàng.

Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý được kiểm sốt bằng các giải pháp kinh tế v à chính

sách lãi suất là giải pháp lâu dài mà NHNN cần thực hiện để điều hành chính sách tiền tệ

trong tương lai.

6. Hồn thiện thị trường ngoại hối và cơng tác quản lý ngoại hối :

Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc thực hiện chính

sách ngoại hối có hiệu qủa bằng cách mở rộng thị trường ngoại hối để các doanh nghiệp, các

định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị trường ngày một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo

hơn, nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên

quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình.

Hồn chỉnh thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, điều kiện cần thiết để qua đó nhà nước

có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can

thiệp của nhà nước khi cần thiết. Trước mắt cần có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng

có kinh doanh ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng , song song đó phải

củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của

nó, tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai khu vực thị trường ngoại tệ và thị

trường nội tệ một cách thông thống.

Quản lý tốt dự trữ ngoại hối, tăng tích lũy ngoại tệ: xây dựng chính sách phát triển xuất

khẩu và hạn chế nhập khẩu. Tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập những hàng hóa cần thiết cho

nhu cầu sản xuất và những mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được. Ngoại tệ dự

trữ khi đưa vào can thiệp trên thị trường phải có hiệu qủa. Lựa chọn phương án phù hợp cho

việc dự trữ cơ cấu ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt vẫn xem đồng USD có vị trí quan

trọng trong dự trữ ngoại tệ của mình nhưng cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ dự trữ để phòng

tránh rủi ro khi USD bị mất giá.

Nới lỏng tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối, hoạt động này bao gồm việc giảm

dần , tiến đến loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước trong việc xác định tỷ

giá, xóa bỏ các qui định mang tính hành chính trong kiểm sốt ngoại hối, thiết lập tính

chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ quản lý tỷ giá,

nâng cao tính chủ động trong kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại …

7. Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro :

Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Hoạt động dự báo có một tầm

quan trọng rất lớn trong việc phòng ngừa rủi ro hoặc đầu cơ. NHTW có thể sử dụng các

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



32



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

nhân tố cơ bản như thuyết PPP, hiệu ứng Fisher quốc tế để dự báo. Ngoài ra, NHTW cần theo

dõi, phân tích diễn biến thị trường tài chính quốc tế một cách có hệ thống để có những cơ sở

vững chắc cho đánh giá, dự báo sự vận động của các đồng tiền chủ chốt.

Nhanh chóng thực hiện các cơng cụ phòng ngừa rủi ro. Trong điều kiện tỷ giá hiện nay

tiềm tàng nhiều nhân tố bất ổn chúng ta cần phải gấp rút triển khai các cơng cụ phòng ngừa

rủi ro. Chính phủ đã cho phép các NHTM thực hiện các cơng cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như

hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn tiền tệ. Vấn đề là các NHTM và doanh

nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp có thu, chi bằng

ngoại tệ phải nhanh chóng sử dụng các cơng cụ này để phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

8. Phối hợp đồng bộ chính sách tỷ giá hối đối với các chính sách kinh tế vĩ

mơ khác :

Chú trọng hồn thiện cơng cụ nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. Chính sách tiền tệ được

thực hiện qua 3 công cụ: lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở

nội tệ. Tuy nhiên, NVTTM nội tệ là cơng cụ quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp đến

lượng tiền cung ứng, vì vậy nó quyết định đến sự thành bại của chính sách tiền tệ quốc gia,

bên cạnh đó nó còn tham gia tích cực vào việc hỗ trợ chính sách tỷ giá khi cần thiết. Chẳng

hạn khi phá giá sẽ tăng cung nội tệ, dẫn đến nguy cơ tạo ra lạm phát. Để giảm lạm phát người

ta tiến hành bán hàng hóa giao dịch trong thị trường mở nội tệ, từ đó làm giảm cung nội tệ và

lạm phát do đó cũng giảm theo.

Đối với chính sách tài chính tiền tệ, tăng cường sử dụng nguồn vốn trong nước để bù

đắp thiếu hụt ngân sách, phương án tốt nhất để thực hiện bù đắp thâm hụt ngân sách nhà

nước là bằng vốn vay trong nước, hạn chế tối đa việc vay nợ nước ngồi.



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



33



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ TRONG THỜI GIAN TỚI.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×