Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và

từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.

3. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008):

Từ cuối tháng 5/2002, Thống đốc đã có Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc

thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt

Nam của các ngân hàng đối với khách hàng. Trong đó quy định các ngân hàng xác định lãi

suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm

của khách hàng vay; NHNN cơng bố lãi suất cơ bản nhưng với mục đích định hướng lãi suất

thị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các ngân hàng khi ấn định lãi suất kinh doanh.

Việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong những năm qua đã tạo điều kiện cho các ngân

hàng chủ động trong việc huy động và cho vay vốn, tăng năng lực cạnh tranh, chủ động

phòng ngừa rủi ro và hội nhập vào nền tài chính khu vực và quốc tế.

NHNN điều hành lãi suất theo hướng thận trọng, linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãi

suất với mức lãi suất cơ bản được duy trì ổn định là 8,25%/năm. Lý do chủ yếu của việc giữ

ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế

tác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm

sốt lạm phát. Đối với việc kiểm soát mức tăng tiền tệ để kiềm chế lạm phát, thì chủ yếu sử

dụng nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, còn lãi suất chỉ đóng vai trò bổ trợ cho các

cơng cụ này.

4. Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



9



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Năm 2007, lạm phát ở nước ta lại tăng cao lên 12,63%, đó là hậu quả của chính sách

tiền tệ nới lỏng và tăng trưởng nóng ở nước ta trong hai năm 2006-2007. Đến hết tháng

06/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 18,44% so với 31/12/2007 và 24,8% so với cùng kỳ năm

trước, mức cao nhất trong 15 năm kể từ năm 1993. Ngân hàng Nhà nước buộc phải ra một

loạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số

187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành tín

phiếu bắt buộc theo quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 nhằm rút bớt tiền từ lưu

thơng về, chủ động kiểm sốt tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ

tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Bước đầu đã làm giảm bớt một phần lượng

tiền từ các NHTM, giảm đáng kể hệ số nhân tiền, nhưng lại nẩy sinh tình trạng khó khăn

thanh khoản cho các NHTM, nhất là những NHTMCP nhỏ. Từ đó, làn sóng tăng lãi suất

trong huy động dấy lên, từ tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh

do các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VND lên mức 13-14%/năm và đã đẩy lãi suất

cho vay lên đến mức trên 20%/năm.

Cũng trong thời gian này, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu nóng lên, đến

giữa tháng 2/2008 đã lên đến 30%, có ngân hàng đặt thầu lên đến 40%/năm .Trong khi đó lãi

suất cơ bản của NHNN chỉ với mức 8,75%/năm và lãi suất tái chiết khấu cấp vốn với mức

7,5%/năm, lãi suất chiết khấu với mức 6%/năm theo quyết định 306/QĐ-NHNN ngày

30/1/2008 vẫn khơng có tác dụng hướng dẫn thị trường. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà

nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày

26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này.



Tiếp đó thực hiện chỉ đạo của chính phủ trong việc sử dụng công cụ lãi suất để kiềm

chế lạm phát, ngày 16/5/2008, NHNN đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ

chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, theo đó qui định việc các TCTD ấn định

lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng khơng vượt q 150%

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



10



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

của lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Trên cơ sở quyết định trên, cùng ngày 16/5/2008,

NHNN qui định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 12%/năm.Sau quyết định tăng

lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất huy động của các NHTM điều chỉnh lên 16-17%/năm.

Từ khi NHNN tiếp tục tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm thì lãi suất huy động lại đẩy lên

theo, thường ở mức 17-18%/năm. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng

phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động

12%/năm theo cơng điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng khơng còn hiệu lực. Đến

hết tháng 06/2008, khi GDP tăng khoảng 6,8% thì tốc độ tăng M2 chỉ tăng 6% so với đầu

năm và mức độ tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 12%/năm, nguy cơ thiếu thanh khoản của

các NHTM đã được giải tỏa.

Quý 3/2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết định

của NHNN trong việc sử dụng các cơng cụ của chính sách tiền tệ: lãi suất cơ bản giảm xuống

từ 14% còn 8,5%; lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên 3,5%/năm, 5%/năm,

10%/năm sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm; tín phiếu bắt buộc đựơc thanh toán

trước hạn; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% xuống đến 5% và các loại lãi suất chiết khấu, lãi

suất tái cấp vốn cũng được hạ xuống. Chỉ số lạm phát ở tháng 7/2008 được công bố ở mức

1,13% là mức thấp nhất so với các tháng trước đã làm cho tình hình dịu đi, tháng 8/2008 là

1,56%, đến tháng 9/2008 chỉ còn 0,18%, tháng 10/2008 giá cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm

0,19%), sang tháng 11/2008 chỉ số giá giảm với mức độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng

12/2008 chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm còn 0,68%, cả năm 2008 mức lạm phát là 19,98%.

Tăng trưởng GDP đạt 6,23%, thấp hơn dự kiến khoảng 2%.

Như vậy, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất kiềm chế lạm phát một cách hiệu

quả.

Bước sang năm 2009 thì những biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ

tăng trưởng, cũng như chính sách vĩ mơ đã có những kết quả tích cực. Ngày 01/02/2009

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về

lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ

đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là

cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro.

Năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc

khủng hoảng tài chính tồn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý

găm giữ ngoại tệ. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi Chính sách tiền tệ một cách linh

hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. NHNN đã hạ thấp

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



11



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. Các loại

lãi suất: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán

điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân

hàng nhà nước đối với các ngân hàng đều được giảm với mức phổ biến là 1%. Cụ thể lãi suất

tái cấp vốn là 7%/năm so với mức 8%/năm như trước đây. Lãi suất tái chiết khấu là 5%/năm

so với mức 6%/năm. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và

cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước đối với các

ngân hàng giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm. Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ

lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh

nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu

cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.

5. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (4.2010 đến nay):

NHNN thực hiện chính sách tiền tệ khá thận trọng trong những tháng đầu năm 2010 do

áp lực lạm phát bùng nổ trong quý I. Tuy nhiên, việc lạm phát ổn định ở mức thấp trong quý

II nên NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thận trọng từ quý II đã làm cho tăng

trưởng tín dụng tăng cao hơn, điều này được thể hiện qua Thông tư 12 của NHNN ban hành

ngày 14/4/2010 về việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận và thể hiện qua việc quyết tâm của

Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu lãi suất “vào 10 ra 12”. Trong thực tế cho thấy rằng

mục tiêu này của Chính phủ đã khơng phát huy được tác dụng vì mặt bằng lãi suất trong nền

kinh tế diễn biến theo chiều ngược lại và đứng ở mức cao.



Trước diễn biến của lạm phát tăng cao từ tháng 9, NHNN đã trở lại với chính sách tiền

tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua việc nâng lãi suất cơ bản lên 9% và

các lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu lên 8% từ ngày 5/11/2010. Việc nâng lãi suất

này cùng với những quy định mới của Thơng tư 13 về nâng tỷ lệ an tồn vốn và tỷ lệ cấp tín

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



12



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

dụng đã ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng và phần nào tác động đến mặt

bằng lãi suất cao ở thời điểm hiện tại. Hơn nữa, thị trường tiền tệ chứng kiến cuộc đua lãi

suất mạnh mẽ giữa các ngân hàng vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12 với lãi suất huy động

lên đến 18% và lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng hơn 13%, trong đó có cả

những ngân hàng lớn tham gia vào cuộc đua này đã cho thấy vấn đề thanh khoản của hệ

thống ngân hàng có thể đang gặp khó khăn ở thời điểm hiện tại.

Sự bất ổn của thị trường tiền tệ trong năm 2010 cho thấy các công cụ điều hành tiền tệ

của Ngân hàng nhà nước khơng còn nhiều hiệu quả khi lãi suất cơ bản chỉ còn mang tính chất

tham khảo do lãi suất hiện tại đang được áp dụng theo cơ chế thỏa thuận, tỷ lệ dự trữ bắt

buộc hiện tại đã gần quá ngưỡng chịu đựng của hệ thống ngân hàng nên việc nên khả năng

tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gần như khơng còn trong khi hoạt động thị trường mở từ lâu chưa

phải là công cụ hữu hiệu để ổn định thị trường tiền tệ Việt Nam. Hơn nữa, việc chính sách tài

khóa được mở rộng trong một thời gian dài với mức thâm hụt ngân sách hàng năm đều trên

5% (giới hạn an tồn) chính là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả của

chính sách tiền tệ của NHNN và dẫn tới những bất ổn trên thị trường tiền tệ ở thời điểm hiện

tại. Chính những bất ổn của chính sách tiền tệ trong năm qua cùng với việc nợ công và thâm

hụt ngân sách lần lượt vượt ngưỡng an toàn ở mức 56,6% GDP và 5,8% GDP đã dẫn đến

việc hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn là Moody’s và S&P lần lượt hạ mức tín

nhiệm Việt Nam xuống còn B1 và BB và làm cho CDS của Việt Nam ở mức cao nhất so với

các nước trong khu vực. Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho Việt Nam trong việc huy động

nguồn vốn quốc tế trong thời gian tới.

6. Đánh giá chung về chính sách điều hành lãi suất ỡ Việt Nam thời gian qua :

Điều hành lãi suất là một hành động quan trọng của ngân hàng trung ương đối với ổn

định và tăng trưởng kinh tế. Mặc dù có những thành cơng trong việc điều hành hệ thống ngân

hàng đem lại tăng trưởng và ổn định cho nền kinh tế, cách thức điều hành lãi suất của Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn cho thấy một vài điểm chưa hồn thiện:

-



Chính sách lãi suất bị động chưa bắt kịp diễn biến thực tế: Thực tế thời gian qua



chúng ta thường xuyên chứng kiến những biến động trái chiều trong lãi suất và tính thanh

khoản của thị trường. Những biến cố xãy ra thường vượt sức chịu đựng của thị trường thì lúc

này cơ chế chính sách mới được đưa ra để hướng dẫn thay vì chính sách của Nhà nước phải

phát huy tác dụng là công cụ dự báo, dẫn dắt và định hướng thị trường.

-



Chính sách điều chỉnh thường tạo ra cú sốc lớn, doanh nghiệp gặp rủi ro khi



chưa có cơng cụ phòng ngừa: Một hệ lụy từ việc chính sách chưa thể hiện vai trò dự báo,

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



13



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

dẫn dắt thị trường. Khi tình hình biến động theo một chiều hướng xấu thì lúc này NHNN mới

đưa ra “toa trị bệnh”, chính những điều chỉnh khơng báo trước này làm doanh nghiệp bị lúng

túng, thậm chí là gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời vì sự thay đổi đột ngột trong chính sách

này, doanh nghiệp chưa có thời gian và cơng cụ phòng ngừa tạo ra áp lực lớn cho doanh

nghiêp.

-



Tồn tại cơ chế lãi suất 2 giá song song nhau, làm bóp méo thị trường : Tình hình



vừa qua cho thấy, thị trường gặp khó khăn về tính thanh khoản, doanh nghiệp khó tiếp cận

vốn. Trong khi cần phải duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn lớn làm đẩy lãi

suất trên thị trường tự do tăng cao, trong khi lãi suất cơ bản do nhà nước ban hành để hướng

dẫn thị lại ở mức q thấp và bị vơ hiệu lực. Khi có khoảng chệnh lệch và để kiềm chế vay

nợ tín dụng thì NHTW điều chỉnh lãi suất lên cao hơn, nhưng nhu cầu vay nợ doanh nghiệp

vẫn cao, thì “lãi suất ngầm” trên thị trường cao hơn quy định thông qua thỏa thuận riêng.

-



Điều hành lãi suất quá dựa vào tín hiệu doanh nghiệp: việc ra quyết định về lãi



suất của NHNN Việt Nam là ln chậm vì khơng chú trọng đủ mức vào những dấu hiệu vĩ

mô phản ánh khuynh hướng của nền kinh tế, NHNN dường như thường hay dựa vào những

thông tin vi mô để đưa ra quyết định. Hiện tượng căn cứ vào lời kêu ca thiếu vốn làm ăn của

doanh nghiệp là khơng thích hợp trong việc ra quyết định về lãi suất. Trong bất kỳ trường

hợp nào được hưởng ưu đãi (lãi suất), các doanh nghiệp được hưởng rồi sẽ vẫn kêu thiếu

chẳng ai nói đủ rồi bao giờ, còn những doanh nghiệp chưa được tiếp cận lại càng kêu to. Do

cách tiếp cận như vậy, việc kéo dài chính sách ưu đãi lãi suất là tất yếu. Và hành động này là

không hợp lý, nó giống bạn giữ chân ga quá lâu khi xe đã lên đỉnh dốc, làm cho xe quá đà,

khó kiểm sốt sau đó.



II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI QUA CÁC THỜI KỲ:

1. Giai đoạn 1992 đến 1997:

Giai đoạn 1992 đến khi khủng hoảng tài chính tiền tệ Đơng Nam Á (7/1997), NHNN

Việt Nam áp dụng chính sách TGHĐ cố định để kiềm chế lạm phát. Việc điều hành tỷ giá

còn quá sơ cứng và thụ động, đồng Việt Nam bị định giá cao so với đôla Mỹ. Điều này đã tạo

ra và tích lũy các nhân tố gây mất ổn định và kiềm hãm sự phát triển kinh tế.

2. Giai đoạn từ 1997 đến 1999:

Mặc dù thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam khơng bị kéo vào làn sóng khủng hoảng tài

chính Châu Á, nhưng Chính phủ và NHNN đã thấy được tính chất nghiêm trọng của việc áp

dụng chế độ TGHĐ cố định lâu dài nên đã có khoảng 10 lần điều chỉnh biên độ. Nhưng

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



14



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

NHNN vẫn còn lúng túng trong việc điều hành tỷ giá. Dù vậy, sự vận động tỷ giá trong giai

đoạn này có thể cho rằng TGHĐ đã từng bước vận động theo cơ chế thị trường.

3. Giai đoạn 1999 đến 2006:

Trong giai đoạn này, Việt Nam phải thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường tài

chính tiền tệ thì việc giữ tỷ giá ở mức thấp sẽ gây nhiều bất lợi. Từ 26/2/1999, NHNN chấm

dứt cơng bố tỷ giá chính thức mà chỉ công bố TGBQLNH của đồng Việt Nam so với đơla

Mỹ. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá còn nhiều phức tạp. Cơ chế điều hành tỷ giá quy định biên

độ mua bán làm việc yết giá của NHTM còn cứng nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu ngoại

tệ trên thị trường.

Ngày 12/7/2000, NHNN áp dụng nghiệp vụ thị trường mở. Tỷ giá biến động liên tục,

lúc tăng, lúc giảm đột ngột, khơng do ý chí chủ quan của NHNN mà do sự mất cân đối cung

cầu ngoại tệ.

Ngày 01/07/2002, NHNN VN công bố nới lỏng biên độ lên 0,25% so với tỉ giá giao

dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Biên độ giao dịch này được giữ cố định trong

thời gian dài, từ 2003 đến 2006. Tỉ giá năm 2003 tăng 3% so với năm 2002 và ổn định với

việc đồng Việt Nam được định giá thấp đã cải thiện rõ rệt tình trạng thâm hụt cán cân thương

mại từ -12,8% GDP năm 2003 xuống còn -8,8% năm 2006, góp phần cải thiện cán cân tài

khoản vãng lai từ -4,9% GDP năm 2003 xuống còn -3% GDP năm 2006, đã tiếp tục cải thiện

được cán cân thanh tốn quốc tế, qua đó dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng. Đồng thời, sự ổn định

của tỉ giá đã góp phần thu hút đầu tư nước ngồi, từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi

dưỡng, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định.

Từ ngày 07/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào WTO, một biểu hiện rõ rệt nhất sau

khi hội nhập, đó là dòng vốn nước ngồi chảy vào nhiều, áp lực lạm phát gia tăng. Để không

đi chệch hướng, Nhà nước đã có những chính sách đổi mới hợp lý, trong đó có chính sách

điều hành tỉ giá hối đối. Chính vì thế, ngày 31/12/2006, NHNN đã nâng biên độ giao dịch tỉ

giá lên 0,5% so với 0,25% trước đó. Bên cạnh đó, để kiềm chế lạm phát, NHNN đã áp dụng

chính sác thắt chặt tiền tệ như tăng lãi suất, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc ở các ngân hàng thương

mại. Và yêu cầu ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc nhằm hạn chế nguồn cung tiền và giảm

tốc độ tăng giá của các mặt hàng.



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



15



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

4. Giai đoạn 2007-2009:



GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh



Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong 5 năm trở lại đây (2006-2011), nguồn: TVSI



Sau khi là thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO cũng nảy sinh

một vấn đề Việt Nam đang phải “đối mặt” đó là xử lý các nguồn vốn ngoại tệ chuyển vào VN

với khối lượng rất lớn, song vấn đề đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW Việt

Nam là thực hiện mục tiêu điều hành tỷ giá. Trong nước, tỷ giá USD/VND trên các thị

trường từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2007 tương đối ổn định nhưng biến động khá nhiều trong

tháng 8 và tháng 9. Vào thời điểm giữa tháng 8 tỷ giá mua - bán USD/VND của NHTM và

trên thị trường tự do tăng nhanh do nguồn cung về ngoại tệ giảm sút, trong khi cầu về ngoại

tệ lại tăng mạnh làm VND mất giá khá mạnh. Từ tháng 9, nguồn cung ngoại tệ trên thị

trường đã có chiều hướng tăng mạnh, thị trường ngoại tệ lại có biểu hiện dư thừa ngoại tệ.

Với chủ trương chung tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích nghi với

mức độ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong năm 2007, NHNN cũng đã nới rộng

biên độ tỷ giá giữa USD/VND. Ngày 24/12/2007 Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định

mở rộng biên độ tỷ giá từ ±0,5% lên ±0,75% (tăng 0,25%), tạo điều kiện cho các NHTM ấn

định tỷ giá mua bán linh hoạt hơn sát với cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Cơ chế tỷ giá

ngày càng linh hoạt hơn sẽ đòi hỏi các NHTM và thành viên tham gia thị trường ngoại hối

phải nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá, để đảm bảo hiệu quả sản xuất

kinh doanh.

So với thời điểm đầu năm 2007, tỷ giá BQLNH tăng 12đ/USD, cuối năm đang ở mức

16.113đ/USD. Tỷ giá của các NHTM giảm khoảng 20-35đ/USD, giao dịch ở mức

16.000/16.010/16.030đ/USD. Tỷ giá mua bán USD/VND trên thị trường tự do cũng giảm từ

5-35đ/USD so với thời điểm đầu năm và giao dịch ở mức 16.020/16.040đ/USD trên thị

trường Hà Nội và 16.050/16.085đ/USD trên thị trường TP HCM.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



16



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, thì đến

giữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD. Tuy nhiên, vào những ngày

cuối tháng 3/2008, thị trường đảo chiều, VND không thể tăng giá tăng mạnh hơn. Trong

tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN phải bán

ngoại tệ can thiệp thị trường. Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-cầu ngoại tệ

trên thị trường, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND. Tỷ giá

USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới. Ở hầu hết các

NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá bán dao

động xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD. Tính tốn của Tổng cục Thống kê công bố

cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước

đó. Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời điểm giá chợ đen lên

tới 19.000-19.800 VND/USD.

Đến trung tuần tháng 8, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự

do khơng q cách biệt, cụ thể tỷ giá bình qn liên ngân hàng từ 16.489 VND/USD lên

16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496 VND/USD. Tuy nhiên cuối tháng 10 tỷ giá ở các

NHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800 VND/USD, trong khi tỷ giá bình quân liên ngân

hàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ, giá USD trên thị trường tự do cũng đã xuống dưới mốc

17.000 VND. Còn trên thị trường thế giới, phần lớn tất cả các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều

mất giá so với USD nhất là sau khi Chính phủ Mỹ can thiệp vào thị trường tài chính, ngăn

chặn khủng hoảng khiến USD lên giá.

Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá thêm ±3% vào ngày 25/12/2008 (trước đó là

07/03/2008 tăng từ ±0,75% lên 1% và 7/11/2008 từ 1% lên 2%) được xem là một quyết định

cho ba mục tiêu là: thứ nhất đưa giá sát với thị trường hơn; thứ hai là giúp hội nhập thi

trường tốt hơn; thứ ba là là kích thích xuất khẩu, chống trì trệ sản xuất.

Đầu tháng 1/2009 đến tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND khơng có biến động mạnh - tăng

giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD - nguyên nhân phần lớn là do có sự can

thiệp của nhà nước. Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2), tỷ giá lại biến động khá mạnh. Tỷ

giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND

có nơi đã lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến

cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ. Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá

giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh

nghiệp có USD khơng bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do. Trong phiên sáng

ngày 20/3/2009, đồng USD trên thị trường tự do còn giữ biên độ trung bình trên cả nước:

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



17



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

17.600-17.700 đồng. Từ tháng 4 đến tháng 7/09 tỷ giá VNĐ/USD liên tục tăng cụ thể là từ

17.720 VNĐ/USD vào đầu tháng 4 đến 17.819 VNĐ/USD vào cuối tháng 7, tuy nhiên nữa

đầu tháng 8 tỷ giá đã giảm nhẹ về mức 17.812 VNĐ/USD. Quý 4/09 tỷ giá đã vượt qua

ngưỡng 18.000 VNĐ/USD, và đỉnh của nó là vào cuối tháng 10/09 là 18.862 VNĐ/US.

NHNN đã thực hiện thay đổi mạnh giữa tỷ giá Việt Nam và USD lần thay đổi vào ngày

26/11/09, tỷ lệ phá giá là 5,44%, đồng thời NHNN thu hẹp biên độ dao động của tỷ giá từ 5%

xuống 3% . Lúc này NHNN cơng bố mức tỉ giá bình qn liên ngân hàng là 17.961

VND/USD thì mức tỉ giá sàn là 17.422 VND/USD và trần giao dịch là 18.500 VND/USD.

5. Giai đoạn 2010-nay:

Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã phải hai lần điều chỉnh tỷ giá trên thị trường

ngoại tệ. Lần thứ nhất vào ngày 11/02/2010, cơ quan này quyết định tăng tỷ giá thêm 3%, lên

mức 18.544 đồng một USD. Sau đó, đến ngày 17/8/2010, Ngân hàng Nhà nước lại thực hiện

điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%), biên độ tỷ

giá vẫn giữ nguyên ở mức +/-3%. Và giá USD trên thị trường tự do bắt đầu đà tăng không

phanh từ thời điểm này, do việc điều chỉnh trên tác động mạnh tới tâm lý người dân, doanh

nghiệp cũng như nhà đầu cơ. Vào cuối tháng 9, giá USD tự do chính thức vượt mốc 20.000

đồng một USD, giá mua bán niêm yết tại hầu hết ngân hàng cũng ở mức kịch trần cho phép.

Trong nhiều ngày, đa số ngân hàng để giá USD mua và bán ngang nhau, cho thấy nguồn

cung ngoại tệ đang khá căng thẳng. Đà tăng của USD chưa dừng lại ở đó, đến cuối ngày

04/11/2010, mốc 21.000 đồng một USD chính thức được xác lập trên thị trường tự do. Tuy

nhiên, thời điểm ghi nhận đỉnh cao nhất của đồng ngoại tệ xanh này trên “chợ đen” phải kể

đến lúc 9h30 ngày 01/12/2010, khi USD vọt lên 21.600 đồng.

Vào các tháng cuối năm 2010, người người, nhà nhà rút tiền mua vàng, USD tích trữ vì

lo ngại VND mất giá, khiến một lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư không được lưu thông qua

hệ thống ngân hàng hay đổ vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thời điểm, các nhà đầu tư

còn xơn xao tin đồn USD có thể lên 23.000 đồng, do một số nhận định từ một vài tổ chức

nước ngoài. Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập khẩu vàng trở lại, giá

kim loại quý giảm dần, kéo theo giá USD trên thị trường tự do cũng hạ nhiệt và dao động

quanh mức dưới 21.000 đồng.

Ngày 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước cơng bố điều chỉnh tỷ giá bình qn liên ngân

hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/- 3% xuống +/- 1% áp

dụng cho ngày 11/02/2011. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ điều hành tỷ giá

tương đối linh hoạt trong thời gian tới. Với quyết định điều chỉnh tỷ giá này của NHNN, giá

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



18



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

mua USD được niêm yết tại các NHTM cũng điều chỉnh theo, giá mua bằng tiền mặt và

chuyển khoản được áp dụng ở mức 20.690 VND/USD, riêng giá bán được áp dụng với mức

20.890 VND/USD. Đây là lần nâng tỷ giá USD/VND đầu tiên kể từ ngày 18/08/2010 đến

nay. Theo đó, tỷ giá trần USD/VND giao dịch tăng lên ở mức 20.900 VND/USD. Đây là đợt

điều chỉnh đầu tiên trong năm 2011 và là lần thứ 4 kể từ năm 2009 đến nay. Tuy nhiên cũng

cần lưu ý đây là lần điều chỉnh tỷ giá mạnh nhất trong vài năm gần đây với tỷ giá liên ngân

hàng được điều chỉnh tăng tới 9,3%. Trong những ngày gần đây, tỷ giá thị trường chợ đen đã

giao dịch tới mức 21.500 VND/USD. Trước đó, trong khoảng 2 tháng, tỷ giá được giao dịch

khá ổn định quanh mức 21.000 VND/USD và cao hơn tỷ giá niêm yết chính thức khoảng 7%

- 8%. Việc tỷ giá thị trường chợ đen vượt xa giá niêm yết chính thức kéo dài trong gần 6

tháng thì việc điều chỉnh tỷ giá chính thức là điều khơng thể tránh khỏi. Việc ngân hàng nhà

nước điều chỉnh tỷ giá chỉ còn là một động thái “hợp thức hóa” các giao dịch trên thị trường.

Dưới góc độ kinh tế học thì việc đưa tỷ giá chính thức về gần tỷ giá thị trường chợ đen sẽ

làm giảm chi phí giao dịch có nghĩa làm giảm tổn thất vơ ích cho tồn bộ nền kinh tế.

Việc tăng tỉ giá này đã có những tác động cơ bản: xóa bỏ cơ chế 2 giá tồn tại trước đó

trong ngân hàng, làm giao dịch mua bán ngoại tệ rõ ràng minh bạch hơn; thứ hai, tỉ giá mới

sát với thực tế hơn, nên xóa bỏ tâm lý cất giữu USD trong dân, tạo động lực cho người có

USD bán cho ngân hàng. Ngồi ra, nó cũng có tác động khuyến khích, thu hút và giải ngân

FDI, ODA và kiều hối; phù hợp với cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tăng tính thanh khoản

trong thị trường, kiềm chế nhập siêu; hướng tới điều chỉnh tỉ giá liên ngân hàng linh hoạt,

góp phần ổn định thị trường ngoại hối, đảm bảo lợi ích của nền kinh tế, của doanh nghiệp,

bảo toàn dự trữ ngoại hối.

Nhưng bên cạnh đó, việc tăng tỉ giá cũng đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến thị

trường. Trước hết, đó là ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhập khẩu, mà nói rõ là doanh thu

và lợi nhuận của các doanh nghiệp này, trong đó có những mặt hàng thiết yếu ảnh hưởng đến

hoạt động sản xuất và hoạt động của người dân như gas, phơi thép… Vì tỉ giá nâng lên cao,

giá cả các mặt hàng này tăng kéo theo giá cả các mặt hàng khác, góp phần đưa lạm phát lên

cao.



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×