Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

2.6. Lãi suất tái cấp vốn :



GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh



Là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho NHTM. Ở Việt Nam,

NHNN tái cấp vốn cho NHTM dưới các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết

khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay dưới hình thức

cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.

2.7. Lãi suất liên ngân hàng:

Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.

Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên

ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của ngân hàng

trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và

tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất :

Lãi suất biến động do các nhân tố sau:

* Mức cung - cầu tiền tệ :

Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường

(lượng tiền M1 hay M2). Chính phủ tác động thơng qua chính sách thắt chặt hay nới lỏng

tiền tệ sẽ làm cung tiền giảm hoặc tăng.

Cầu tiền là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức để làm phương tiện giao dịch,

mua bán trên thị trường…

Giao điểm giữa đường cung tiền và cầu tiền sẽ xác định lãi suất cân bằng. Khi có sự

thay đổi trong lượng cung tiền hoặc cầu tiền hoặc cả hai sẽ tạo ra điểm cân bằng mới hay một

mức lãi suất cân bằng mới.

* Lạm Phát:

Khi lạm phát dự tính trong tương lai sẽ tăng, người có khả năng cho vay không muốn

nắm giữ tiền mặt mà đổ xơ đi mua hàng hóa, dự trữ vàng và ngoại tệ. Điều này dẫn đến quỹ

cho vay giảm, đồng thời sẽ khuyến khích người đi vay hơn vì chi phí thực của việc vay tiền

giảm xuống, người đi vay sẽ kiếm được lợi nhờ vào hàng hóa được mua bằng tiền đi vay

tăng lên. Do đó cung tiền và cầu tiền tăng lên khi dự tính lạm phát tăng lên sẽ làm cho lãi

suất tăng.



* Sự ổn định của nền kinh tế:

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



2



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

- Ảnh hưởng đến cung tiền vay: Khi nền kinh tế ổn định và phát triền làm cho thị

trường ổn định, ít rủi ro hơn khuyến khích người dân muốn đầu tư nhiều hơn vào những tài

sản mang lại lợi tức cao. Vì vậy cung tiền vay tăng lên.

-



Ảnh hưởng đến cầu tiền vay : Nhu cầu vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các



dự án đầu tư, mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp làm cho cầu tiền vay tăng lên.

Khi cung cầu tiền vay đều tăng nhưng đường cung dịch chuyển ít hơn cầu tiền thì mới

làm cho lãi suất cân bằng tăng lên được.

* Các chính sách của chính phủ :

Để đạt tới một số mục tiêu của nền kinh tế giải quyết các vấn đề liên quan tới tăng

trưởng, công ăn việc làm, ổn định giá cả thị trường thì Nhà nước sử dụng các cơng cụ bằng

chính sách: chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá….sẽ tạo ra sự biến động của lãi suất.

4. Vai trò của Lãi suất trong nền kinh tế :

Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là trung tâm trong chính sách tiền tệ

của chính phủ:

* Đối với sự phân bổ các nguồn lực : thì lãi suất là một loại giá cả, nó có vai trò phân

bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết ban đầu trước khi đi

đến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, dự án hay tài sản. Mặt khác, trong tiêu dùng và

tiết kiệm của hộ gia đình thì lãi suất cũng có vai trò khơng nhỏ trong việc điều chỉnh thu

nhập của kinh tế gia đình.

* Với các hoạt động đầu tư : Khi lãi suất cao, sẽ giảm các khoản đầu tư vào vốn hiện

vật vì phải chi trả lãi vay cao hoặc doanh nghiệp có thể lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng thay

vì đầu tư. Dẫn đến chi tiêu đầu tư giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm.

Khơng chỉ có vậy với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng

của lãi suất đặc biệt là lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ.

* Lãi suất với lạm phát: Trong thời kỳ lạm phát tăng, tăng lãi suất cho phép hệ thống

ngân hàng có thể giảm tiền mặt trong lưu thông, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm và lạm

phát được kiềm chế.

* Vai trò của lãi suất đến việc huy động vốn : Lãi suất là chi phí huy động vốn của

doanh nghiệp và ngân hàng. Các doanh nghiệp phải xem xét khả năng lợi nhuận thu được với

chi phí huy động vốn bỏ ra để quyết định huy động vốn từ nguồn nào và đầu tư vào đâu để

có lợi cho doanh nghiệp nhất. Còn ngân hàng phải xem xét giữa lãi suất huy động với khả

năng cho vay ở mức lãi suất cao hơn để đưa ra phương hướng hoạt động đảm bảo mục tiêu

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



3



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

của ngân hàng và phát triển. Cụ thể lãi suất huy động < lãi suất cho vay< tỷ suất lợi nhuận

bình quân.



II. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1. Khái niệm tỷ giá hối đoái :

Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền chính là giá của đồng tiền này được tính bằng một số

đơn vị đồng tiền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của

hai quốc gia khác nhau.

2. Phân loại tỷ giá hối đoái :

Trên thị trường ngoại hối, thông thường chúng ta tiếp cận các loại tỷ giá hối đoái sau

đây :

-



Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành : tỷ



giá mua vào và tỷ giá bán ra.

-



Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá



tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt ,

séc, thẻ tín dụng. Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán qua

ngân hàng.

-



Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá mở



cửa và tỷ giá đóng cửa, tỷ giá giao ngay.

-



Căn cứ vào chế độ quản lý tỷ giá, tỷ giá được chia thành tỷ giá cố định và tỷ giá



thả nổi.

-



Căn cứ mối quan hệ giữa tỷ giá với chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái được chia



thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.

3. Các nhân tố tác động đến tỷ giá:

 Cán cân thanh toán quốc tế: tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thơng

qua đó tác động đến tỉ giá. Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, theo tác động của quy luật

cung cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá. Ngược lại khi cán

cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá.

 Lạm phát: Lạm phát biểu hiện ra là sự tăng giá của thị trường. Trong một quốc gia,

khi lạm phát tăng sẽ làm cho sức mua của đồng nội tệ giảm đi và đồng tiền của quốc gia này

sẽ bị giảm giá so với quốc gia có mức lạm phát thấp hơn.

 Lãi suất: là nhân tố tác động rất lớn đến TGHĐ. Nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi

suất ngoại tệ hay lãi suất thị trường quốc tế, điều này sẽ thu hút những dòng tiền trên thị

trường quốc tế chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

4



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao. Kết quả là cung ngoại tệ trên thị trường trong

nước tăng lên, từ đó làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá hay đồng nội tệ lên giá.

Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường quốc

tế, sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội tê mất giá.

 Ngồi ra có các yếu tố khác như: chính sách kinh tế và sự điều chỉnh vĩ mơ của

chính phủ, yếu tố tâm lý của người dân, sức mua của các đồng tiền và tốc độ lạm phát của

các nước có liên quan, trạng thái cung cầu ngoại tệ, chênh lệch mức lãi suất giữa các nước có

liên quan, thực trạng của hoạt động thị trường tài chính, hệ số tín nhiệm của các đồng tiền

trên thị trường tài chính quốc tế.

4. Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế mở:

Trong nền kinh tế mở, hầu hết các nước đều quan tâm đến tỉ giá hối đối vì tỉ giá có ảnh

hưởng rất lớn đối với hoạt động thương mại quốc tế, trạng thái cán cân thanh toán, tốc độ

tăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát.

 TGHĐ và hoạt động thương mại quốc tế :

TGHĐ là một phạm trù kinh tế liên quan đến việc tính tốn và so sánh giá trị giữa 2

đồng tiền, cho nên một sự biến động của TGHĐ sẽ làm thay đổi sức mua của 2 đồng tiền và

do vậy làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của 2 quốc gia trong quan hệ tỉ giá trên thị

trường quốc tế cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến quy mô thương mại quốc tế.

Một khi giá cả hàng hóa trở nên rẻ hơn, thì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ

được nâng cao, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. Nền kinh tế

thu được nhiều ngoại tệ và cán cân thanh toán được cải thiện. Ngược lại, một khi đồng nội tệ

lên giá trong sự tương quan với sự mất giá của đồng ngoại tệ sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi,

nhập khẩu tăng lên, cán cân thanh toán trở nên xấu đi.

 TGHĐ và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm:

Khi đồng nội tệ mất giá sẽ khuyến khích gia tăng xuất khẩu, từ đó gây tác động thúc

đẩy sản xuất trong nước phát triển và tạo việc làm ổn định cho người lao động. Tuy nhiên,

đồng nội tệ mất giá sẽ làm cho giá cả hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập khẩu tăng cao, từ đó giá

thành sản phẩm trong nước cũng tăng. Điều này làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng cao

và sức ép lạm phát cao trong nước trở nên mạnh mẽ hơn.

Ngược lại, khi đồng nội tê lên giá thì hàng hóa nhập từ nước ngồi trở nên rẻ hơn, từ đó

làm lạm phát trong nước giảm thấp vì những hàng hóa đó đều được tính vào chỉ số giá cả

trong nước. Thế nhưng, đồng nội tệ lên giá sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu, làm thu hẹp sản

xuất trong nước và thất nghiệp gia tăng.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



5



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ



GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh



III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ

Mối quan hệ giữa lãi suất trên thị trường tiền tệ với tỷ giá trên thị trường hối đối sẽ

được hiểu rõ thơng qua việc nghiên cứu hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect)

và lý thuyết ngang giá lãi suất.

Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào đó có lãi suất thấp

hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ

có lãi suất cao hơn. Nói cách khác, trừ kỳ hạn hoặc bù kỳ hạn trên giá kỳ hạn là xấp xỉ tương

đương với chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền. Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chú

trọng đến việc tỷ giá giao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng

tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước.

Sự cân bằng thị trường hối đối đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều kiện mà theo đó

lợi tức dự kiến của các khoản tiền gởi của hai loại tiền bất kỳ là tương đương thì được đo

bằng một loại tiền (nghĩa là đo bằng các đơn vị có thể so sánh với nhau được). Chỉ khi tất cả

các tỷ suất lợi tức dự kiến đều bằng nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng tiền lãi, thì sẽ

khơng có tình trạng dư cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng khơng có tình trạng dư

cầu về một số loại tiền gởi khác. Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại tiền gởi

nào ở trong tình trạng dư cầu hoặc dư cung. Do vậy, có thể nói rằng thị trường hối đối sẽ

cân bằng khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi.

Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mức lãi suất cao là công cụ để chống

lạm phát và nó thường được sử dụng để đáp ứng yêu cầu can thiệp vào nền kinh tế. Ngồi ra,

chính sách lãi suất còn được sử dụng vào mục đích điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ.

Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đối có thể nó là phương

pháp thường được sử dụng với mong muốn có những thay đổi cấp thời về tỷ giá. Cơ chế tác

động của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau: Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu

ngoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùng

chiều của lãi suất trên thị trường. Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồng

vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốn

ngoại tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để

thu lãi cao hơn. Kết quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng). Trong trường hợp ngược lại, nếu

muốn tỷ giá tăng thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.

Tuy nhiên lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách gián

tiếp, chứ không phải là mối quan hệ trực tiếp và nhân quả. Các yếu tố để hình thành lãi suất

và tỷ giá khơng giống nhau, do đó biến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) khơng nhất

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



6



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (hạ xuống chẳng hạn). Lãi suất lên cao có thể thu

hút vốn ngắn hạn của nước ngồi chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ

trong nước khơng ổn định, thì khơng nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngồi,

vấn đề lúc đó lại đặt ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ khơng phải là vấn đề

thu hút được lãi nhiều.



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



7



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ



GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh



CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

– TỶ GIÁ HỐI ĐỐI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

I. THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ LÃI SUẤT QUA CÁC THỜI KỲ

Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh vực ngân

hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ

tướng Chính phủ), làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh về

ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và cơng ty tài chính ngày 23/5/1989 của Hội đồng nhà nước,

có hiệu lực từ ngày 1/10/1990 với nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mơ hình ngân hàng một cấp và

xây dựng mơ hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mơ hình của ngân hàng các nước có nền

kinh tế thị trường phát triển. Đến ngày 1/10/1998 Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ

chức tín dụng ra đời và có hiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho

hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.

Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy những

bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Quá trình :

1. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7/2000) :

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi

căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất , bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy

động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất

đầu ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,

ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng

hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á.

2. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000-5/2002) :

Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ

trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do

NHNN và các ngân hàng khơng được tính lãi suất cho vay vượt q lãi suất cơ bản +

0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn. Lãi suất cơ bản

và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ

công bố điều chỉnh kịp thời. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng

thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường

quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



8



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và

từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.

3. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008):

Từ cuối tháng 5/2002, Thống đốc đã có Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc

thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt

Nam của các ngân hàng đối với khách hàng. Trong đó quy định các ngân hàng xác định lãi

suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm

của khách hàng vay; NHNN công bố lãi suất cơ bản nhưng với mục đích định hướng lãi suất

thị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các ngân hàng khi ấn định lãi suất kinh doanh.

Việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong những năm qua đã tạo điều kiện cho các ngân

hàng chủ động trong việc huy động và cho vay vốn, tăng năng lực cạnh tranh, chủ động

phòng ngừa rủi ro và hội nhập vào nền tài chính khu vực và quốc tế.

NHNN điều hành lãi suất theo hướng thận trọng, linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãi

suất với mức lãi suất cơ bản được duy trì ổn định là 8,25%/năm. Lý do chủ yếu của việc giữ

ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế

tác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm

sốt lạm phát. Đối với việc kiểm sốt mức tăng tiền tệ để kiềm chế lạm phát, thì chủ yếu sử

dụng nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, còn lãi suất chỉ đóng vai trò bổ trợ cho các

công cụ này.

4. Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :



Nhóm 3 – Đêm 6 – K20



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×