Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucellosis)

4 Bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucellosis)

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.4.1. Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Brucella gây ra, type gây bệnh:

+ Bucella abortus: gây bệnh ở trâu bò.

+ Bucella melitensis: gây bệnh ở dê cừu.



Hình 2. 16 Brucella aburtus



Hình 2. 17 Brucell aburtus trên thạch



2.4.2. Sức đề kháng của vi khuẩn

- Vi khuẩn có sức đề kháng bình thường, ở 70 0C vi khuẩn

tồn tại 5-10 phút, vi khuẩn có khả năng sống lâu trong đất

17



ẩm, thịt ướp lạnh, nền chuồng đến 5 tháng.

- Vi khuẩn dễ dàng bị tiêu hủy bởi các thuốc sát trùng như: NOVA-MC.A30,

NOVACIDE, NOVASEPT,

NOVADINE.

- Vi khuẩn có nhiều trong núm nhau, nước ối, tử cung, sữa… giai đoạn thai từ

5-7 tháng thì vi khuẩn có số lượng lớn nhất.



2.4.3. Phương thức truyền lây

Đường xâm nhập chủ yếu của vi khuẩn là đường tiêu hóa, đường sinh dục, lây

trực tiếp do bú sữa mẹ, do gieo tinh. Nhưng vi khuẩn lây lan mạnh nhất là lúc con

vật mang thai bị sẩy hay đẻ, lúc này con mẹ sẽ gieo rắc mầm bệnh nhiều nhất do vi

khuẩn có nhiều trong thai, nước ối, nhau thai, dụng cụ chăn nuôi hay can thiệp điều

trị và các môi giới khác sẽ làm lây lan mầm bệnh. Ngựa có thể lây qua cho bò, heo

cũng có thể lây qua cho bò.



2.4.4. Triệu chứng

- Bò cái bị bệnh thường có hiện tượng sắp đẻ như: âm hộ sưng đỏ, chảy nước

nhớt, vú căng… bò sốt nhưng khơng cao. Thai có thể chết trước hay sau khi sẩy thai,

sau khi sẩy thai sẽ bị sót nhau, nước ối màu đục…

- Bò đực thì triệu chứng rõ ràng hơn: dương vật sưng đỏ, dịch hồn viêm sưng

nóng đau, sau sốt và bỏ ăn. Nếu khơng điều trị kịp thời thì dịch hồn sẽ teo, chất

lượng tinh giảm.

- Có hiện tượng viêm khớp chân (hygroma), có khối u ở khớp do hiện tượng tăng

sinh (nhất là khớp đầu gói). Khớp vẹo lệch làm cho bò đi lại khó khăn.



2.4.5. Bệnh tích

- Bệnh tích trên bào thai của những con thú sẩy thai: Vỏ bọc thai dày lên có nhiều

điểm xuất huyết. Trên núm nhau có nhiều điểm hoại tử. Nhau thai có những điểm

hoại tử dạng hạt màu vàng trắng, bờ mặt đục. Núm nhau bị biến màu sờ vào mềm

nhũn có mủ. Cuống rốn có mủ, điểm hoại tử lấm tấm.

- Con đực: dịch hoàn vùng thượng hoàn sưng to gấp 2-3 lần bình thường, lượng

tinh giảm, màng ngồi đường sinh dục dày, có khi bị viêm khớp u mềm có mủ.

- Cơ quan phủ tạng: gan lách bị sưng hay hoại tử.



18



Hình 2. 18 Thai xảy ở bò



Hình 2. 19 Heo xảy thai



2.3.6. Phòng và trị bệnh

- Vệ sinh chăm sóc ni dưỡng trâu bò thật tốt. Định kỳ sát trùng chuồng trại

bằng 1 trong các chế phẩm: NOVA-MC.A30, NOVACIDE, NOVASEPT,

NOVADINE.

19



- Khi đàn trâu bò có hiện tượng sẩy thai thì phải lập tức cách ly theo dõi cho đến

khi tìm ra nguyên nhân và phải tiêu độc sát trùng thật kỹ chuồng ni.

- Đối với bò sữa thì phải định kỳ kiểm tra mẫu sữa và máu của thú nhằm phát

hiện sớm thú mang mầm bệnh. Đàn gia súc mới nhập về phải cách ly kiểm tra

khoảng 30 ngày để theo dõi.

- Phát hiện những con bệnh thì nên loại thải chúng và không tạo đàn gia súc mới

từ gia súc mẹ có bệnh (bệnh có thể truyền từ mẹ sang con).

- Thường xuyên bổ sung vào thức ăn hay sử dụng các sản phẩm sau của công ty

ANOVA để tăng cường sức kháng bệnh, giúp thú khỏe mạnh. Dùng 1 trong các sản

phẩm sau:

+ NOVA-DAIRY MIX: Trộn 2,5g/kg thức ăn tinh, trộn cho ăn liên tục.

+ NOVA-ADE B.COMPLEX: Trộn 1g/kg thức ăn tinh, trộn cho ăn liên tục

+ NOVA-ADE VITA: Tiêm bắp thịt 5ml/con/lần, 2-4 tuần tiêm 1 lần

+ NOVA-POLIVIT: Tiêm bắp thịt 10ml/con/lần, 2-4 tuần tiêm 1 lần.

+ Hoặc dùng NOVA-AMINOVITA hay NOVASAL COMPLEX

- Có thể phòng bệnh bằng vaccin để tiêm cho trâu bò.

- Đối với bệnh này thì khơng nên tiến hành điều trị. Việc điều trị thơng thường ít

cho kết quả, đối với những con bệnh thì phải loại thải chúng.



2.5 Bệnh do virut herpes ở chó

Bệnh do virut herpes ở chó là một bệnh truyền nhiễm do alphaherpesvirus gây

ta rối loạn sinh sản. Virut cũng có thể thấy trong hội chứng “ho chuồng chó”. Sau

khi nhiễm, con vật bị biến đổi huyết thanh và trở thành dương tính huyết thanh. Sau

đó, nếu bảo hộ miễn dịch của chó nhiễm bệnh đủ để kiểm sốt nhiễm trùng, virut sát

nhập vào ADN tế bào và chó trở thành âm tính huyết thanh. Virut trở thành “ẩn”

trong nhiều khí quan và có thể tái hoạt động vào khi có “stress” hoặc suy giảm miễn

dịch. Tỷ lệ virut trên thế giới rất cao, mặc dù những nghiên cứu về tỷ lệ huyết thanh

còn ít, nhưng đã thấy tỷ lệ con vật âm tính huyết thanh mang virut rất cao trong các

bệnh phẩm máu (hiện tượng ẩn). Virut tái hoạt động ở số lớn chó do có stress hoặc

thiếu vệ sinh. Chẩn đốn huyết thanh học có ích để nắm bắt tình trạng chăn ni

hơn là phát hiện ra một cá thể. Ngày nay, tìm ADN virut bằng khuếch đại gen (PCR)

là phương pháp tin cậy. Về phòng bệnh, vệ sinh chăn ni có vai trò chủ đạo. Một

số nước tiêm vacxin nhưng phòng bệnh bằng huyết thanh được dùng cho trại có

nguy cơ. Bệnh do virut herpes ở chó là một bệnh truyền nhiễm do một alphavirus

herpes gây nên, Canine herpesvirus (CHV), gây ra các rối loạn sinh sản, chủ yếu tổn

thất ở chó con dưới 3 tuần tuổi và có thể, mặc dù còn nhiều tranh cãi, gây nân sổi,

xẩy thai và /hoặc chết sơ sinh. Virut cũng có thể thấy trong hội chứng “ho chuồng

20



chó”. Ở Mỹ năm 1964, ca bệnh CHV đầu tiên được Carmichael mô tả trong một ổ

chó con mới sinh, trước đó ơng đã cho là do các mycoplasma. Sau đó Spertzel và cs

(1965), Stewart và cs (1965) và ở Pháp do Ratuld & Werner (1965) đã phân lập

được virut ở một con chó Beagle nhập khẩu từ Anh và chó đó bị viêm mũi và viêm

phế quản phổi. Từ những năm 1990, bệnh này được xác định ở nhiều nước trên thế

giới và hai virut giống nhau đã được tìm thấy ở khí quan sinh dục và hơ hấp. Bệnh

này là mối quan tâm thực sự của thú y và người nuôi. Những năm gần đây, một số

cơng trình đã thừa nhận bệnh này. Bài viết này nhằm đưa ra tổng hợp thiết thực cho

các thú y.



2.5.1 Bệnh nguyên

Virut gây bệnh chủ yếu cho chó này thuộc chi Varicellovirus, trong họ phụ

alphaherpesvirinae, rất giống virut herpes equine 1 và virut của bệnh thủy đậu và

bệnh zona (VZV). Đã có 16 chủng virut herpes canine được phân lập trên thế giới,

chưa bao giờ xác định là lẫn với các virut khác.

So sánh gen với các chủng phân lập khác cho thấy virut này là đơn typ (Decaro

và cs 2008). Virut CHV cũng còn được gọi là CHV-1 hoặc CaHV-1. Virion của

CHV-1, đường kính từ 115 đến 175 nm, có một sợi đơi ADN bao quanh

nucléocapside, một bì (tégument) và một vỏ.

Capside có đối sứng hai mặt điển hình của virut herpes Bì là 1 protéine và vỏ

có một màng lipid phủ bề mặt các glycoprotéin gây đáp ứng miễn dịch, Những

protéine bề mặt Gp 145/112, Gp 80, Gp 41 là những kháng nguyên chủ yếu.

Những thành phần lipid của vỏ giải thích tính nhạy cảm với các dung môi lipid

(chloroforme, éther) và các thuốc sát trùng thường dùng (chloramine, dẫn xuất của

formaldéhyde phénol hóa, ammonium bốn nguyên tố).

Đề kháng với lạnh, virut bền vững ở -700C, nhưng khả năng gây nhiễm bắt đầu

giảm đi 24 giờ sau khi đã bị giữ ở 40C và 5 ngày sau khi ở -200C.

Virut nhạy cảm với nhiệt, bị bất hoạt hầu như ngay lập tức ở 560C. Virut nhân

lên tốt nhất giữa 35 và 360C, nhưng nếu giữ chúng ở 370C trong năm giờ thì làm

giảm khả năng gây nhiễm đi tới 10.000 lần.

Bị bất hoạt ở pH acid, nó còn bền vững với pH giữa 6,5 và 7,6. Vì thế nó kém đề

kháng với mơi trường bên ngoài.

Về phát sinh loài, trước hết virut gần với herpesvirus feline 1 và virut herpes hải

cẩu 1. Người ta tìm thấy các gen giống với các gen của các alphavirus herpes khác,

như virut herpes bovine 1, herpes simplex 1, virut VZV và virut của bệnh Aujeszky

(Ronsse và cs,2003).



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucellosis)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×