Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC.

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả kinh tế.



Hình 1: Tác động của ngoại tác tiêu cực.

Khi có các ngoại tác tiêu cực, chi phí xã hội biên MSC cao hơn chi phí tư nhân

MC. Chênh lệch đó gọi là chi phí ngoại sinh biên MEC. Trong trường hợp này,

hãng sẽ tối đa hóa lợi nhuận khi sản xuất ở sản lượng Q1 khi giá bằng chi phí biên

MC. Lượng sản xuất hiệu quả xã hội là Q*, tại đó giá cả bằng MSC.

Giá thép là P1, tại giao điểm giữa đường cung và đường cầu. Đường MC là chi phí

sản xuất biên của một hãng điển hình. Khi sản lượng của hãng thay đổi thì chi phí

ngoại sinh gây ra cho ngư dân ở hạ lưu cũng thay đổi. Chi phí ngoại sinh này được

biểu thị bằng đường MEC. Đường này thường dốc lên đối với hầu hết các dạng ơ

nhiễm vì khi hãng sản xuất thêm sản lượng và xả thêm chất thải xuống sơng thì

những thiệt hại tăng thêm đối với ngành đánh cá, nuôi trồng cũng tăng lên.Trên

quan điểm của xã hội, hãng đang sản xuất quá nhiều. Sản lượng hiệu quả là mức

mà ở đó giá bằng chi phí xã hội biên của sản xuất – chi phí biên của sản xuất cộng

với chi phí ngoại sinh biên của việc xả thải. Trên đồ thị đường chi phí xã hội biên

được xác định bằng cách cộng chi phí biên và chi phí ngoại sinh biên tại mỗi mức

sản lượng: MSC = MC + MEC. Đường chi phí xã hội biên cắt đường giá ở mức

sản lượng là Q*.



3



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



Trên đồ thị ta thấy, mức sản lượng hiểu quả của ngành là mức mà ở đó lợi ích biên

của mỗi đơn vị sản lượng tăng thêm bằng chi phí xã hội biên. Vì đường cầu biểu

thị lợi ích biên của người tiêu dùng, nên sản lượng hiệu quả là Q*, đạt tại điểm

giao nhau giữa đường chi phí xã hội biên MSC và đường cầu D. Nhưng mức sản

lượng cạnh tranh của ngành là ở Q1, đạt tại giao điểm của đường cầu và đường

cung MC. Rõ ràng sản lượng của hãng (ngành) là quá cao. Khi sản xuất, mỗi đơn

vị sản lượng sẽ gây ra một lượng chất thải nhất định cần xả ra.Vì thế, dù chúng ta

xem xét ơ nhiễm của bất kì hãng hay ngành nào thì tính phi hiệu quả kinh tế vẫn là

tình trạng sản xuất quá mức gây ra nhiều chất thải xả xuống sơng. Ngun nhân

của tính phi hiệu quả là do việc định giá sản phẩm khơng chính xác. Giá của sản

phẩm trên là q thấp – nó phản ánh chi phí tư nhân biên của việc sản xuất của

hãng, chứ khơng phải là chi phí xã hội biên. Chỉ ở mức giá P* cao hơn thì hang

(ngành) sẽ sản xuất mức sản lượng hiệu quả. Cái giá phải trả đối với xã hội khi sản

xuất quá mức: với mỗi đơn vị sản xuất cao hơn Q* cái giá đối với xã hội là chênh

lệch giữa chi phí xã hội biên và lợi ích biên.

Nhận xét: Khi có ngoại tác tíêu cực đã dẫn đến tình trạng:

(1) Hiệu quả thị trường duy trì vượt quá hiệu quả xã hội mong muốn do chi phí

biên thị trường khác với chi phí xã hội vì có ngoại tác tiêu cực sinh ra chi

phí biên ngoại tác.

(2) Sản lượng thị trường vượt quá sản lượng đòi hỏi và giá cả thị trường thấp

hơn giá cả xã hội.

(3) Trong khi chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh

hướng sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi. Điều đó gây ra

tổn thất kinh tế do thị trường sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội.

3.2. Ngoại tác tích cực và tính khơng hiệu quả của ngoại tác tích cực:

3.2.1. Định nghĩa:

Ngoại tác tích cực là là ngoại tác khi hành động của bên này đem lại lợi ích cho

bên kia. Ngoại tác tích cực có tác động tốt đến đối tượng chịu tác động.

Ví dụ: Giả sử trong ngành lâm nghiệp, rừng được trồng với mục đích chính là kinh



4



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



doanh gỗ. Tuy vậy việc có rừng lại tạo ra rất nhiều lợi ích khác cho xã hội như cải

thiện khí hậu, hạn chế xói mòn, rửa trơi đất, bảo vệ đa dạng sinh học…. nhờ đó có

thể cải thiện mùa màng làm tăng thu nhập người nơng dân.

3.2.2. Tính khơng hiệu quả của tác động ngoại tác tích cực:

Khi có ngoại tác tiêu cực đã dẫn đến tình trạng:

(1) Hiệu quả thị trường duy trì dưới mức hiệu quả xã hội mong muốn do lợi ích

biên thị trường khác với lợi ích biên xã hội vì có ngoại ứng tích cực sinh ra

lợi ích biên ngoại ứng.

(2) Sản lượng thị trường dưới mức sản lượng đòi hỏi và giá cả thị trường cao

hơn giá cả xã hội.

(3) Trong khi chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh

hướng sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi. Điều đó gây ra

tổn thất kinh tế do thị trường sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội.

4.



Giải pháp khắc phục ngoại tác:



4.1. Nhóm giải pháp tư nhân:

4.1.1. Quyền về tài sản:

Quyền về tài sản là các quy định pháp lý mô tả cái mà mọi người hoặc các hãng

được quyền làm với tài sản của họ.

Giả định rằng cơng ty có quyền sử dụng con sơng để đổ rác thải, còn ngư dân thì

khơng có quyền tài sản đối với nguồn nước được “tự do gây ô nhiễm”. Do đó,

cơng ty khơng có động cơ đưa chi phí chất thải vào trong những tính tốn sản

lượng của mình. Nói cách khác, cơng ty đã ngoại hóa chi phí phát sinh từ việc xả

thải. Giả sử ngư dân sở hữu dòng sơng, nghĩa là có quyền tài sản đối với nước

sạch. Khi đó, họ có thể yêu cầu công ty trả tiền để được thải rác. Công ty phải

ngừng sản xuất hoặc là chấp nhận trả chi phí do đổ rác. Các chi phí này sẽ được

nội hóa và sẽ đạt được sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực.

4.1.2. Thương lượng và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế có thể đạt được mà khơng cần sự can thiệp của chính phủ khi các

ngoại tác ảnh hưởng đến một số ít bên và khi quyền về tài sản được xác định rõ.



5



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



Ví dụ: giả sử rằng chất thải của nhà máy luyện kim làm giảm lợi nhuận của ngư

dân. Nhà máy có thể lắp đặt một hệ thống lọc để giảm chất thải của mình, hoặc

ngư dân có thể trả tiền để lắp đặt nhà máy xử lý nước.

4.1.3. Thương lượng tốn kém – vai trò của hành vi chiến lược:

Việc thương lượng có thể tốn thời gian và tiền bạc, đặc biệt là khi quyền về tài sản

không được xác định rõ. Khi đó, khơng bên nào có thể biết chắc sẽ vất vả ra sao

để đưa bên kia đến chỗ chấp nhận một giải pháp chung. Việc thương lượng cũng

có thể thất bại khi việc thơng tin và giám sát là tốn kém, nếu cả hai bên tin rằng họ

có thể đạt được cái lợi lớn hơn. Bên nào cũng đòi phần hơn và từ chối thương

lượng, nghĩ một cách sai lầm rằng bên kia thế nào cũng sẽ phải chấp nhận. Hành

vi chiến lược này có thể dẫn đến một kết quả bất hợp tác và phi hiệu quả.

4.1.4. Giải pháp pháp lý – khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại:

Trong nhiều tình huống có các ngoại tác, một bên bị hại do bên kia gây ra có

quyền tố tụng hợp pháp. Nếu thành cơng, bên ngun có thể được bồi thường thiệt

hại bằng tiền đúng bằng mức thiệt hại đã phải gánh chịu. Việc khiếu kiện đòi bồi

thường thiệt hại khác với phí xả thải vì bên bị hại, chứ khơng phải chính phủ, sẽ

được trả tiền.

Định lý Coase

Khi các bên có thể thương lượng mà khơng tốn kém và vì lợi ích chung của cả hai,

kết cục được tạo ra sẽ là hiệu quả, bất kể quyền về tài sản được xác định như thế

nào.





Nhóm giải pháp tư nhân có thể bị thất bại các nhóm giải pháp

tư nhân khơng có tính ràng buộc mà tùy thuộc vào thiện chí thực hiện của

các bên nên khi có một bên khơng có thiện chí thực hiện sẽ dẫn đến thất

bại của nhóm giả pháp này. Chính vì vậy trong một số trường hợp cần

phải có sự can thiệp của Chính Phủ



4.2. Nhóm giải pháp của Chính Phủ:

4.2.1. Nhóm giải pháp hành chính pháp lý:

- Chính Phủ có thể đề ra các quy định nhằm ngăn cấm hoặc hạn chế một hành



6



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



động nào đó bằng các hệ thống luật và các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết thi

hành luật pháp. Cụ thể như tiêu chuẩn về phát thải TCVN 5945 – 2005 mà cơng ty

Vedan áp dụng (sẽ được trình bày trong phần chương II về thực tiễn ngoại tác tiêu

cực trường hợp cơng ty Vedan)

- Chính Phủ sẽ áp dụng biện pháp này khi cho rằng ngoại tác tiêu cực là lớn hơn

rất nhiều so với lợi ích của người gây ra ngoại tác. Tuy nhiên việc ngăn cấm là

không hề đơn giản trên thực tế. Chẳng hạn không thể ngăn cấm các phương tiện

giao thông mặc dù tất cả chúng đều gây ơ nhiễm.

4.2.2. Nhóm các biện pháp kinh tế:

4.2.2.1. Tác động của thuế và trợ cấp:

* Tác động của thuế:

MSC = MPC + thuế trên đơn vò

MSB

MSC



MSB=D



MPC=S



Thuế trên đơn vò =

MEC



P*

P



Q*



Q



Sản xuất



Trên đồ thị ta thấy, mức sản lượng hiểu quả của ngành làtheùp

Q*, đạt tại điểm giao

nhau giữa đường chi phí xã hội biên MSC và đường cầu D. Nhưng mức sản lượng

cạnh tranh của ngành là ở Q1, đạt tại giao điểm của đường cầu và đường cung

MC. Rõ ràng sản lượng của hãng (ngành) là q cao.

=> Chính vì vậy, Chính Phủ sẽ đánh thuế với mức thuế đúng bằng lợi ích ngoại

sinh biên MEB để hãng (ngành) sẽ sản xuất mức sản lượng hiệu quả Q*.



7



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



Từ đây, ta thấy được tác động của thuế có những lợi ích về việc khắc phục các

ngoại tác tiêu cực như sau:

- Tăng giá thép và giảm sản lượng xuống đến mức hiệu quả

- Giảm nhưng khơng xóa bỏ ơ nhiễm do sản xuất thép gây ra

- Lợi về hiệu quả cho xã hoi với giả định rằng mức thuế đươc định đúng

- Lợi về công bằng cho những người sống gần nhà máy thép.

* Tác động của trợ cấp:

Tương tự đối với tác động của thuế, tác động của trợ cấp có ý nghĩa ngược lại giúp

giảm giá và tăng sản lượng đến mức hiệu quả có ý nghĩa đối với ngoại tác tích cực

(Phần này nhóm trình bày khơng đi sâu phân tích do đề tài nhóm chọn là phân

tích tác động của ngoại tác tiêu cực)

4.2.2.2. Chuẩn thải (định mức thải):

Đô

la



MSC



trê

n

đơn



thải



Mức

chuẩn



Phí

3



MCA



E*



12mức thải mà hãng được phép xả

Mức

Chuẩn thải là giới hạn hợp pháp về

ra. Nếu hãng

thaûi



xả quá giới hạn thì có thể bị phạt tiền, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự, ở

hình trên chuẩn thải hiệu quả là 12 đơn vị ở điểm E*. Hãng sẽ bị phạt nặng nếu xả

thải lớn hơn mức này.

Chuẩn thải đảm bảo rằng hãng sản xuất đạt hiệu quả. Hãng chấp hành chuẩn thải

bằng việc lấp đặt thiết bị giảm thải. Chi phi giảm thải tăng lên sẽ là cho đường chi

phí trung bình của hãng tăng lên (tăng 1 mức bằng chi phí giảm thải trung bình).



8



Phân tích ngun nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp cơng ty Vedan



Các hãng sẽ cảm thấy có lợi khi gia nhập ngành nếu giá sản phẩm lớn hơn chi phí

sản xuất trung bình cộng thêm chi phí giảm thải – đó chính là điều kiện hiệu quả

đối với ngành.

4.2.2.3. Phí xả thải:

Phí xả thải là phí sẽ thu trên mỗi đơn vị chất thải mà hãng xả ra. Phí xả thải 3$ sẽ

tạo ra hành vi hiệu quả của hãng. Với mức phí này, hãng tối thiểu hóa chi phí bằng

việc giảm thải từ 26 xuống 12 đơn vị. Để thấy tại sao, lưu ý rằng đơn vị thứ 1 có

thể giảm từ 26 xuống 25 đơn vị chất thải với chi phí rất thấp (chi phí biên của việc

giảm thải thêm gần như bằng 0). Vì thế hãng có thể tránh khơng phải trả mức phí

3$ /1 đơn vị mà không tốn kém mấy. Thực tế, với tất cả các mức thải lớn hơn 12

đơn vị, chi phí giảm thải biên đều nhỏ hơn mức phí xả thải, do đó đáng để hãng xả

thải. Nhưng với mức thải thấp hơn 12 đơn vị, chi phí giảm thải biên lớn hơn mức

phí xả thải, do đó hãng sẽ thích trả phí hơn là tiếp tục giảm thải. Vì thế, tổng phí

mà hãng phải trả là diện tích hình chữ nhật hình nằm dưới đường MAC và bên

phải mức E = 12. Chi phí này ít hơn mức phí mà hãng phải trả, nếu không giảm

thải 1 chút nào.

4.2.2.4. Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng:



Giả sử rằng chúng ta muốn giảm thải nhưng vì nhiều cái khơng chắc chắn nên



9



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



chúng ta khơng muốn đưa vào phí xả thải. Chúng ta cũng muốn tránh việc áp đặt

chi phí cao cho các hãng giảm thải nhiều nhất. Có thể đạt được các mục tiêu này

bằng cách sử dụng giấy phép chất thải chuyển nhượng được. Theo cách này, mỗi

hãng phải có giấy phép nếu muốn xả thải, mỗi giấy phép quy định chính xác lượng

chất thải mà hãng được phép xả ra. Hãng nào xả thải mà không được cho phép

bằng giấy phép thì sẽ bị phạt tiền nặng. Các giấy phép được phân bổ giữa các

hãng, số giấy phép được xác định để đạt được mức xả thải tối đa hiệu quả, các

giấy phép này có thể chuyển nhượng được tức là có thể mua bán trên thị trường.

Trong hệ thống giấy phép xả thải chuyển nhượng được, các hãng ít có khả năng

giảm thải nhất sẽ phải mua giấy phép. Như vậy giả sử 2 hãng ở hình trên được cấp

giấy phép xả thải tối đa là 7 đơn vị. Hãng 1 với chi phí giảm thải biên tương đối

cao, sẽ trả đến tận 3,75$ để mua giấy phép xả 1 đơn vị chất thải, nhưng giá trị giấy

phép đó đối với hãng 2 là 2,5$. Vì thế hãng 2 sẽ bán giấy phép của mình cho hãng

1 với giá trong khoảng 2,5$ tới 3,75$.

Nếu có đủ các hãng và các giấy phép thì 1 thị trường cạnh tranh về giấy phép sẽ

được hình thành. Ở điểm cân bằng thị trường, giá của giấy phép bằng chi phí

giảm thải biên của tất các các hãng; nếu không hãng sẽ thấy mua thêm giấy phép

có lợi hơn. Mức thải chính phủ chọn sẽ đạt được với mức chi phí thấp nhất. Các

hãng có các đường giảm thải chi phí biên tương đối thấp sẽ giảm thải nhiều nhất

và những hãng có các đường chi phí giảm thải biên tương đối cao sẽ mua thêm

giấy phép và giảm thải ít nhất.

Các giấy phép xả thải chuyển nhượng được đã tạo ra một thị trường cho các ngoại

tác. Cách tiếp cận kiểu thị trường này rất hấp dẫn vì nó kết hợp những ưu điểm của

hệ thống chuẩn thải với những lợi thế chi phí của hệ thống phí xã thải. Cơ quan

điều hành hệ thống này xác định tổng số giấy phép và như thế xác định tổng mức

thải, giống như hệ thống chuẩn thải đã làm. Nhưng khả năng mua bán giấy phép

xã thải cho phép việc giảm thải có thể đạt được với chi phí thấp nhất, giống như hệ

thống phí.



10



Phân tích nguyên nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp cơng ty Vedan



CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VEDAN

GÂY Ô NHIỄM SÔNG THỊ VẢI

1. Giới thiệu về Vedan.

Công Ty Cổ Phần Hữu Hạn Vedan Việt Nam (Vedan Việt Nam) được thành lập từ

năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, cách thành phố

lớn nhất của Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh về phía Đơng khoảng 70 Km,

trên một diện đất rộng 120ha, là một khu công nghiệp tổng hợp chế biến thực

phẩm và công nghệ sinh học hiện đại, hiện đã đưa vào hoạt động sản xuất, sử dụng

các cơng trình bao gồm: Nhà máy tinh bột nước đường, Nhà máy bột ngọt, Nhà

máy tinh bột biến đổi, Nhà máy Xút-axít, Nhà máy Lysine, Nhà máy phát điện có

trích hơi, Nhà máy PGA, Nhà máy phân bón hữu cơ khoáng Vedagro dạng viên,

Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ tiên tiến, Cảng chuyên dùng Phước Thái

Vedan, các trục đường bê tông nhựa chuyên dùng, và các công trình, cơ sở hạ tầng

tại các khu vực hành chính, phúc lợi nhân viên, khu vui chơi giải trí…

Từ khi thành lập tại xã Phước Thái – Long Thành – Đồng Nai, cho đến nay,

Công ty Vedan Việt Nam đã mở rộng đầu tư phát triển mở rộng các cơ sở chi

nhánh tại các tỉnh thành trong cả nước như: có 04 đơn vị chi nhánh tại Hà Nội,

Phước Long (Bình Phước), Bình Thuận, Hà Tĩnh, và 02 cơng ty con là Công ty

TNHH ORSAN Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và Cơng ty TNHH VEYU tại tỉnh

Gia Lai. Trong q trình mở rộng quy mơ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,

Vedan Việt Nam cũng đã tạo dựng một loạt hệ thống đại lý và các kênh phân phối

tiêu thụ trên cả nước. Trên thị trường quốc tế, Vedan Việt Nam là nhà sản xuất tiên

tiến hàng đầu tại khu vực Châu Á trong lĩnh vực sử dụng công nghệ sinh học,

công nghệ lên men sản xuất ra các sản phẩm Axít Amin, chất điều vị thực phẩm,

tinh bột, tinh bột biến đổi, chất phụ gia thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm cung

ứng cho các ngành công nghiệp khác. Sản phẩm của Vedan Việt Nam được tiêu

thụ tại Việt Nam và xuất khẩu cho các nhà phân phối thực phẩm, công ty thương

mại quốc tế, các ngành công nghiệp thực phẩm, sản xuất giấy, dệt may, hóa chất

tại thị trường các quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, các nước Đơng



11



Phân tích ngun nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



Nam Á, và các nước tại Châu Âu. Phần lớn sản phẩm của Công ty đều lấy thương

hiệu “VEDAN”.

Về mặt lợi thế cạnh tranh, từ Khi mới thành lập, do việc cung cấp điện năng của

Việt Nam chưa đáp ứng hết nhu cầu sử dụng cho sản xuất, công ty Vedan đã phát

triển hệ thống phát điện trích hơi, là xu thế phát triển năng lượng của thế giới. Nhờ

có Nhà máy phát điện, nên Cơng ty Vedan Việt Nam không những ổn định được

lượng điện năng cho sản xuất, mà nguồn điện khi không sử dụng hết sẽ hòa mạng

với hệ thống lưới điện của Cơng ty điện lực Việt Nam, để cung cấp điện cho các

doanh nghiệp khác sử dụng.

Mặt khác do công ty nằm cạnh bờ sông Thị Vải, nên rất thuận tiện cho việc vận

chuyển nguyên liệu và sản phẩm công ty bằng đường thủy. Qua quá trình nỗ lực

mở rộng đầu tư, đã được Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm và giúp đỡ, và hơn

hai năm phấn đấu, công ty đã hoàn thành đầu tư xây dựng cảng Phước Thái trở

thành một cảng chuyên dùng quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy

quốc tế.

-



Năm 2010: Đạt Chứng nhận ISO/IEC 17025 : 2005



-



Năm 2009: Đạt Chứng nhận ISO 14001 : 2004 do Tổ chức quốc tế BSI ở Anh

quốc cấp



-



Năm 2009: Đạt Chứng nhận OHSAS 18001 : 2007 do Tổ chức quốc tế BSI ở

Anh quốc cấp.



-



Năm 2008: Đạt Chứng nhận B2



-



Năm 2007: Đạt Chứng nhận OHSAS 18001



-



Năm 2006: Thành lập Nhà máy tinh bột mỳ

Hà Tĩnh



-



Năm 2005: Thành lập Công ty TNHH VEYU



-



Năm 2005: Đạt chứng nhận HACCP



-



Năm 2004: Nhận được giải thưởng vàng chất lượng Việt Nam 2004 do Bộ

Khoa học và Cơng nghệ trao tặng



12



Phân tích ngun nhân, tác động của ngoại tác tiêu cực và trường hợp công ty Vedan



-



Năm 2003: Thành lập Nhà máy chế biến tinh bột mỳ Bình Thuận



-



Năm 2003: Cơng ty Vedan International đã chính thức lên sàn giao chứng

khốn tại Hồng Kông



-



Năm 2002: Nhận được giải thưởng vàng chất lượng Việt Nam 2002 do Bộ

Khoa học và Công nghệ trao tặng



-



Năm 2001: Đạt Chứng nhận ISO 9001



-



Năm 2001: Thành lập Công ty TNHH ORSAN Việt Nam



-



Năm 2000: Đạt Chứng nhận HALAL



-



Năm 2000: Vinh dự nhận được Huân chương Lao động hạng ba do Chủ tịch

nước trao tặng



-



Năm 1999: Đạt Chứng nhận KOSHER



-



Năm 1998: Đạt Chứng nhận ISO 9002



-



Năm 1997: Thành lập Nhà máy tinh bột mỳ Phước Long



-



Năm 1996: Hoàn thành nhà máy Lysine



-



Năm 1995: Hoàn thành nhà máy lên men bột ngọt



-



Năm 1994: Hoàn thành xây lắp cơ sở thiết bị sản xuất giai đoạn 1 và thiết bị

cơ sở hạ tầng cầu cảng.



-



Năm 1994: Thành lập chi nhánh Công ty CPHH Vedan Việt Nam tại Hà Nội



-



Năm 1991: Chính thức thành lập Công ty Cổ Phần Hữu Hạn Vedan Việt Nam



2. Hồ sơ vụ gây ô nhiễm môi trường của Vedan

-



Tháng 9/2008, phát hiện Vedan xả thải ra môi trường sông Thị Vải



-



Mức độ xả thải theo Vedan từ năm 1994 đến nay: 44.800m3/tháng (theo báo

cáo của Vedan); theo thống kê của cơ quan quản lý môi trường: 70.400 m3/

tháng.



-



10 hành vi của Vedan:



+ Cụ thể, Công ty Vedan đã xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở

lên trong lượng nước thải 50 m³/ngày đến dưới 5000 m³/ngày tại 3 nhà máy: Nhà

máy sản xuất tinh bột biến tính; Nhà máy sản xuất bột ngọt và Nhà máy sản xuất

Lysin, vi phạm Khoản 8, Điều 10, Nghị định 81/2006NĐ-CP.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC VÀ NGOẠI TÁC TIÊU CỰC.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×