Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
a) Bị ion hóa: Sự tác động của các nhân tố gây ion như tia phóng xạ , tia Rontgen,... các phần tử không khí bị ion hóa thành các ion và điện tử tự do. Sau khi chấm dứt các động gây ion, xảy ra quá trình ngược lại để tạo ra các phân tử trung hòa qua sự liê

a) Bị ion hóa: Sự tác động của các nhân tố gây ion như tia phóng xạ , tia Rontgen,... các phần tử không khí bị ion hóa thành các ion và điện tử tự do. Sau khi chấm dứt các động gây ion, xảy ra quá trình ngược lại để tạo ra các phân tử trung hòa qua sự liê

Tải bản đầy đủ - 0trang

b) Tự ion hóa: Qua sự tăng của hiệu số điện thế giữa hai điện cực đến một

giá trị vượt q hằng số điện mơi của khơng khí, thì khơng khí giữa hai

điện cực bị ion hóa.

Trong kỹ thuật lọc điện người ta dùng phương pháp tự ion hóa . Dưới tác

dụng của điện thế, các phân tử khí phân chia thành các ion và các Electron

tự do. Các ion và electron này chuyển động về phía điện cực trái dấu . Vận

tốc chuyển động và động năng của chúng càng tăng khi đi ện thế giữa hai

cực càng lớn. Trên đường đi đến điện cực, các ion và các electron va đập

vào các phân tử khí trung hòa và ion hóa chúng. Ngồi sự va đập, sự chuy ển

động mãnh liệt của các phần tử khí cũng làm tăng sự ion hóa.

Khi hiệu số điện thế giữa hai điện cực tăng đến giá trị tới hạn, g ọi là điện

thế xun thủng của khí, thì cường độ dòng điện tăng rất nhanh, giữa hai

bản cực xuất hiện tia lửa điện. Hiện tượng này gọi là tự phóng điện giống

như hiện tượng chập mạch.

Sự xuất hiện tia lửa điện là do giữa hai điện cực song song có một đi ện

trường đồng nhất , nên ở điện thế cao khả năng ion hóa ở mọi nơi giữa hai

điện cực như nhau và số âm và electron tạo thành đồng thời gian lớn và

phát sáng như tia lửa giữa hai cực, sau đó khơng tiếp tục ion hóa các ph ần

tử khí nữa.

Trong mạch điện cần tránh sự phát hiện sự xuất hiện của tia lửa đi ện,

bằng cách sử dụng một lực là tấm phẳng hai ống ,còn cực kia bằng dây, để

cho điện trường giữa hai cực không đồng nhất với nhau.

Xung quanh điện cực dây, điện trường lớn hơn thường có khả năng ion hóa

tốt hơn; Càng xa điện cực dây, điện thế của điện trường càng giảm, nên

khả năng ion hóa cũng yếu dần. Lớp khơng khí giữa hai điện cực đóng vai

trò như nước cách điện.

Trong lọc điện, điện cực dây là cực âm. Quanh điện cực dây có khả năng ion

hóa mạnh nên xuất hiện vằng ánh sáng và nghe có tiếng nổ lép bép, vì th ế

4



điện cực dây còn được gọi là điện cực quầng. Điện cực tấm hoặc ống là cực

dương và bụi sẽ lắng trên điện cực này, nên còn gọi là điện cực lắng. Quá

trình lắng bụi rất phức tạp, nên khơng nêu ở đây.

Phần lớn bụi nằm ngồi vùng sáng sẽ bị các electron tự do trên đường đi

đến điện cực dương va đập phải và bám vào làm cho bụi đó tích điện âm

nên cũng chuyển động đến cực tấm hay ống, trao đổi electron và trở thành

trung hòa. Chỉ một phần nhỏ bụi rơi vào vùng quầng sáng thì biến thành

ion Dương, nên chuyển động đến cực dây và lắng trên điện cực này.



Hình 2: Dạng điện cực; a)cực ống; b) cực bản (tấm)

Tính dẫn điện của bụi ảnh hưởng lớn đến hiệu suất làm sạch của thiết bị lọc

điện.

Nếu bụi dẫn điện tốt thì sau khi trao đổi electron với điện cực tấm(ống) bụi sẽ

mang điện tích cùng dấu với điện cực ấy. Nếu bụi khơng dẫn điện thì khi bám

vào cực lắng, lớp bụi sẽ là lớp cách điện, cản trở quá trình lọc điện. Đồng thời do

bám không chắc, chỗ bụi lớp bụi rơi xuống để hở một mảng điện cực làm đi ện

thế ở chỗ đó tăng rất nhanh vượt quá điện thế giới hạn, gây ion hóa mạnh. Tại

chỗ đó của điện cực lắng xuất hiện vầng sáng nhạt gọi là quầng sáng nghịch.

Khí và bụi trong vòng này sẽ biến thành các ion và electron, các ion Dương

chuyển động ngược lại về phía cực dây(âm) Trên đường đi gặp bụi tích điện âm

sẽ trung hòa ln nó, làm bụi khơng lắng được và kết quả là giảm hi ệu su ất tách

bụi của thiết bị.



5



Để tránh hiện tượng này phải làm tăng khả năng dẫn điện cho bụi bằng cách

phun nước cho ẩm bụi, hoặc tốt nhất trước khi vào lọc điện cho lọc sơ bộ bằng

phương pháp ướt.

3) Thiết bị lọc điện.

- Thiết bị lọc điện có 2 loại :loại ống và loại tấm.

 Loại tấm: (hình 3) Khí và thiết bị ở cửa 1, bên trong có điện cực ống 2 và

điện cực dây 4. Tất cả điện cực được treo trên khung 5. Khí sạch ra ở cửa

3. Bụi lắng trên bề mặt phía trong của điện cực ống và định kỳ được rũ

xuống nhờ bộ cơ lắc 8. Đáy phễu 9 chứa bụi để định kỳ tháo ra ngoài. Để

đảm bảo an toàn điện cực ống được nối đất.



Hình 3: Sơ đồ mát lọc bụi kiểu ống

1-Cửa khí vào; 2- điện cực ống; 3- cửa khí ra ; 4 điện cực dây ; 5- khung; 6cách điện; 7- hộp kín ; 8- bộ cơ rũ bụi; 9- đáy phễu nón M.

 Loại tấm ( hình 4): điện cực nóng là những tấm kim loại 3 đặt song song

nhau. Giữa các tấm đặt điện cực dây 4, chúng được treo trên khung. khí

sạch được tháo ra ở cửa 5.



6



So với máy lọc điện tấm, máy lọc điện ống có ưu điểm là: Điện thế của điện

trường lớn, nên làm sạch khí tốt hơn; vận tốc khí đi trong thiết bị lớn hơn, do đó

cho phép tăng năng suất; dùng thuận lợi hơn đối với khí có độ ẩm nhỏ khó làm

sạch.

Tuy nhiên, máy lọc uống có nhược điểm là: có lắp ráp, cồng kềnh, tốn kim loại,

khó rũ bụi và năng lượng tiêu hao tính theo chiều dài dây dẫn lớn.

Như vậy, máy lọc bụi loại ống đượ dùng trong trường hợp bụi khó lắng khi cần

làm sạch cao, Đặc biệt khi không cần rũ bụi, như làm sạch mù chất l ỏng. Trong

thực tế thường dùng thiết bị loại ống có đường kính 150 đến 300 mm và dài 3

đến 4 m . Đối với khí chứa axit nên dùng ống chì.

Theo cách thức làm việc của việc người ta chia hai nhóm chính là: l ọc đi ện khô

và lọc điện ướt. Người ta phân biệt lọc điện khơ dùng cho bụi nóng và lọc điện

ướt dùng cho bụi ướt.



Hình 3: Sơ đồ máy lọc bụi loại tấm

7



1-thân; 2- cửa khí vào; 3- điện cực tấm; 4- điện cực dây; 5-cửa khí ra M



Hình 4: thiêt bị lọc bụi tĩnh điện tại nhà máy xi măng



Các tấm thu nhận được thiết kế để thu nhận và giữ các hạt kết tủa lại

cho đến khi chúng được tháo vào phễu thu. Các tấm thu nhận cũng là một b ộ

phận của mạch điện năng trong thiết bị lọc bụi. Các chức năng của tấm thu

nhận này được đưa vào phần thiết kế của thiết bị lọc bụi. Các tấm ngăn bụi

8



ngăn các hạt kết tủa lại khỏi dòng khí trong khi các bề mặt phẳng nhẵn cấp

điện áp vận hành cao.

Các tấm thu nhận được treo từ vỏ thiết bị lọc bụi và tạo thành các đường khí

ở trong thiết bị lọc bụi. Có hai loại kết cấu phổ biến của các tấm thu nhận

trong số các kết cấu được thay đổi bởi nhà sản xuất. Trong trường hợp các

tấm được đỡ từ các dầm dạng đe ở cả hai đầu. Dầm dạng đe này cũng là

điểm tác động đối với các tấm gõ thu nhận được đỡ bởi các móc treo trực

tiếp từ vỏ thiết bị lọc bụi. Trong trường hợp khác hai hoặc nhiều tấm thu

nhận được liên kết tại hoặc gần tâm đỡ nhờ các dầm bộ gõ mà sau đó hoạt

động như là các điểm tác động của hệ thống rũ bụi.



Hình 6: sơ đồ thiết bị lọc bụi kiểu tấm

Thiết bị lọc tĩnh điện được sử dụng lực hút giữa các hạt nhỏ nạp điện âm.

Các hạt bụi bên trong thiết bị lọc bụi hút nhau và kết lại thành khối có kích

thước lớn ở các tấm thu góp. Chúng rất dễ khử bỏ nhờ dòng khí.

Thiết bị được chia thành 2 vùng, vùng iơn hố và vùng thu góp. Vùng iơn

hố có căng các sợi dây mang điện tích dương với điện thế 1200V. Các hạt bụi

trong khơng khí khi đi qua vùng iơn hố sẽ mang điện tích dương. Sau vùng

iơn hố là vùng thu góp, gồm các bản cực tích điện dương và âm xen kẻ nhau

nối với nguồn điện 6000V. Các bản tích điện âm nối đất. Các hạt bụi tích điện

9



dương khi đi qua vùng thu góp sẽ được bản cực âm hút vào. Do giữa các hạt

bụi có rất nhiều điểm tiếp xúc nên liên kết giữa các hạt bụi bằng lực phân tử

sẽ lớn hơn lực hút giữa các tấm cực với các hạt bụi. Do đó các hạt bụi kết lại

và lớn dần lên. Khi kích thước các hạt đủ lớn sẽ bị dòng khơng khí thổi rời

khỏi bề mặt tấm cực âm. Các hạt bụi lớn rời khỏi các tấm cực ở vùng thu góp

sẽ được thu gom nhờ bộ lọc bụi thơ kiểu trục quay đặt ở cuối gom lại.

Thiết bị lọc bụi kiểu tĩnh điện rất hiệu quả đối với các loại bụi kích c ỡ từ 0,5

đếm 8mm. Khi các hạt bụi có kích cỡ khoảng 10mm và lớn hơn thì hiệu quả

giảm. Tổn thất áp suất khi đi qua vùng iơn hố và vùng thu góp th ấp và n ằm

trong khoảng từ 0,15 đến 0,25 in. WG (từ 37 đến 62 Pa) và tốc độ khơng khí

từ 300 đến 500 fpm (1,5 đến 2,5m/s). Cần lưu ý vấn đề an tồn vì điện thế sử

dụng rất cao và nguy hiểm đến tính mạng con người.

4) Các yếu tố ảnh hưởng đến q trình lắng.

-



Ảnh hưởng của kích thước hạt bụi.



-



Ảnh hưởng tính chât vật lý của hạt.



-



Ảnh hưởng của nồng độ bụi



 Chú ý: lọc bụi điện trường là thiết bị phân riêng thứ cấp

II)

Dây chuyên công nghê sản xuất Xi măng.

1) Mở đầu.

Xi măng là vật liệu thơng dụng nhất trong ngành cơng nghiệp xây dựng vì

chúng là chất kết dính rẻ tiền hơn so với các loại chất kết dính khác. Mặc khác

khi sử dụng xi măng lại cho cường độ chịu nén, chịu uốn cao. Xi măng đã có mặt

trong đời sống của con người hàng nghìn năm qua và cho đến nay con người vẫn

sử dụng nó trong hầu hết các cơng trình xây dựng. Đất nước ta trải qua 2 cuộc

chiến tranh tàn phá cơ sở hạ tầng còn thấp kém. Do vậy nhu cầu sử dụng xi

măng ngày càng tăng khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới tiến tới công nghiệp

hố hiện đại hố đất nước. Hàng loạt các cơng trình xây dựng: thuỷ đi ện, cầu

10



cống, đường xá, các cơng trình thuỷ lợi, nhà ở. ., sẽ tiêu thụ một lượng xi măng

rất lớn. Mặc dù, sản lượng xi măng sản xuất trong nước ngày càng tăng nhanh

nhưng vẫn khơng đủ nhu cầu sử dụng trong nước. Vì vậy việc tăng sản l ượng xi

măng nhằm cân đối giữa cung - cầu trong nước, một phần tham gia xuất khẩu

đang là mục tiêu của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam. Để góp phần thúc

đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước đồng thời thực hiện được mục tiêu

trên thì việc xây dựng các nhà máy xi măng là rất cần thiết. Nhà máy xi măng s ử

dụng cơng nghệ lò quay,phương pháp khơ áp dụng cơng nghệ tiên tiến và hi ện

đại, trình độ tự động hố ở mức cao nhằm tiếp kiệm nhiên liệu, điện năng và

các vật tư sản xuất, đảm bảo chất lượng clinke ra lò, đồng th ời giảm bớt được

lực lượng lao động trực tiếp trong nhà máy,thay thế cho các nhà máy xi măng

kiểu cũ

2) Khái niệm chung về các thành phần hóa học của xi măng

Xi măng là chất kết dính thuỷ lực cứng trong nước và khơng khí, được tạo ra

bởi việc nghiền chung clinke với thạch cao và một số phụ gia khác. Clinke là

thành phần quan trọng nhất của xi măng, quyết định tính chất của xi măng.

Clinker sản xuất bằng cách nung đến kết khối phối liệu đã được nghi ền mịn và

đồng nhất gồm hai ngun liệu chính là đá vơi và đất sét, đồng thời có thêm

thạch anh, quặng sắt và một số chất phụ gia để điều chỉnh. Bốn ơxit chính trong

clinker xi măng là : CaO, SiO2 , Al2O3 , Fe2O3. Tỉ l ệ các ôxit cơ b ản trong ph ối

liệu biểu diễn thành phần hóa học của clinker, quyết định tính chất của clinker,

và cũng là chỉ tiêu quan trọng nhất để kiểm tra và đánh giá chất lượng của xi

măng. Tổng hàm lượng của chúng chiếm khoảng ( 95%-97% ) thành phần các

chất trong clinker và thông thường tỉ lệ các ôxit này trong clinker nhu sau :

CaO : 63%-67%

SiO2 : 21%-24%

Al2O3 : 4%-8%

Fe2O3 : 2%-4%

11



Ngoài các thành phần cơ bản đó, trong xi măng còn có phụ gia là các ơxit khác, có

hàm lượng khơng lớn lắm : MgO(1%-5%), Mn2O3(0-3%), SO3(0.1%-1%), TiO2,

K2O, Na2O ...

3) Công nghệ sản xuất xi măng



Hình 7: Sơ đồ cơng nghệ

Các cơng đoạn sản xuất xi măng:

- Chuẩn bị nguyên liệu

- Kho chứa liệu

- Công đoạn nghiền liệu

- Công đoạn đồng nhất liệu

- Công đoạn nung clinker

- Công đoạn nghiền xi măng

- Công đoạn đóng bao

Cả hệ thống là sản xuất liên tục dài hạn nhưng các cơng đoạn hoạt động độc

lập với nhau.



12



Hình 8: Sơ đồ tổng quan dây chuyền sản xuất xi măng



Hình 9: Sơ đồ quy trình sản xuất xi măng

13



Quá trình sản xuất xi măng được mơ tả qua 3 giai đoạn cụ thể như sau:

a) Quá trình chuẩn bị nguyên nhiên liệu:

- Từ mỏ, đá vôi được khai thác (nổ mìn) và được vận chuy ển bằng xe tải về

đổ qua máy đập búa (1) đưa về kích thước nhỏ hơn và đưa lên máy rải

liệu (2) để rải liệu chất thành đống trong kho (đồng nhất s ơ bộ). T ương

tự với đất sét, phụ gia điều chỉnh (quặng sắt, đá si líc, qu ặng bơ xít...),

than đá và nguyên liệu khác cũng được chất vào kho và đ ồng nh ất theo

cách trên. Tại kho chứa, mỗi loại sẽ được máy cào li ệu (5) và (6) cào t ừng

lớp (đồng nhất lần hai) đưa lên băng chuyền đ ể n ạp vào từng Bin ch ứa

liệu (7) theo từng loại đá vôi, đất sét, quặng sắt... Than Đá thô từ kho ch ứa

sẽ đuợc đưa vào máy nghiền đứng (20) để nghiền, với những kích thước

hạt đạt yêu cầu sẽ được đưa vào Bin chứa (21) còn những hạt chưa đ ạt sẽ

hồi về máy nghiền nghiền lại đảm bảo hạt than nhiên liệu cháy hoàn

toàn khi cấp cho lò nung và tháp trao đổi nhiệt.

b) Quá trình sản xuất Clinker thành phẩm

Từ các Bin chứa liệu (7), từng loại nguyên liệu được rút ra và ch ạy qua h ệ

thống cân định lượng theo đúng tỷ lệ cấp phối đưa ra từ nhân viên v ận hành

điều khiển (tỷ lệ 1:1 phối liệu được quyết định từ phòng thí nghiệm). Tấc cả

ngun liệu đó sẽ được gom vào một băng tải chung và đưa vào máy nghi ền

đứng (8) để nghiền về kích thước yêu cầu, tại đây nguyên li ệu đã được đồng

nhất một lần nữa. Bột liệu sau khi nghiền được chuyển lên Silo đồng nhất

(9) chuẩn bị để cấp cho lò nung, dưới Silo đồng nhất có h ệ th ống s ục khí nén

liên tục vào Silo để tiếp tục đồng nhất l ần nữa. Để có m ột s ản ph ẩm Clinker

ổn định chúng ta thấy nguyên liệu phải qua ít nhất 4 lần đ ồng nh ất. Tháp

trao đổi nhiệt (11) và Lò quay nung Clinker (12) Tháp trao đổi nhi ệt (11) là

một hệ thống gồm từ 3-5 tầng, mỗi tầng có 1 hoặc 2 Cyclone có cấu tạo đ ể

tăng thời gian trao đổi nhiệt của bột liệu. Bột liệu được cấp từ trên đỉnh tháp

và đi xuống, nhiệt nóng từ than được đốt cháy từ Calciner và lò nung đi lên sẽ

tạo điều kiện cho phản ứng tạo khoáng bên trong bột li ệu. Mặc dù b ột li ệu

đi xuống và khí nóng đi lên nhưng thực chất quá trình này là trao đ ổi nhi ệt

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

a) Bị ion hóa: Sự tác động của các nhân tố gây ion như tia phóng xạ , tia Rontgen,... các phần tử không khí bị ion hóa thành các ion và điện tử tự do. Sau khi chấm dứt các động gây ion, xảy ra quá trình ngược lại để tạo ra các phân tử trung hòa qua sự liê

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×