Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

II. Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai yếu tố quan trọng và bắt

buộc phải thực hiện để tiến tới sự phát triển bền vững của một quốc gia, xã

hội. “Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn

định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết

kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường

sống.”1. Đảng và Nhà nước ta cũng đã nêu quan điểm về điều này trong Quyết

định số 432/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai

đoạn 2011 – 2020: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá

trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển

kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc

phòng, an ninh và trật tự an tồn xã hội.”

Trong đó, mặt này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của

mình. Phát triển kinh tế lấy bảo vệ môi trường là tiêu chí để nâng cao chất

lượng hoạt động và đảm bảo sự tăng trưởng ổn định. Ngược lại, việc phát

triển kinh tế tốt lại hỗ trợ chi phí và điều kiện thực hiện các hoạt động bảo vệ

mơi trường, qua đó nâng cao chất lượng môi trường sống.

Như vậy, chúng ràng buộc lẫn nhau, cùng tồn tại. Nếu khơng có phát

triển kinh tế thì khó thực hiện tốt được bảo vệ môi trường và ngược lại.

2.2.2. Sự đấu tranh

Sự đấu tranh giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

hiện nay đã diễn ra theo một quá trình cụ thể.

 Mới đầu, khi nền kinh tế nước ta còn chưa phát triển thì nhìn chung

các hoạt động kinh tế không làm ảnh hưởng nhiều tới vấn đề bảo vệ mơi

trường; hoặc giữa chúng có xảy ra xung đột nhưng đó chỉ là những xung đột

nhỏ và diễn ra cục bộ. Lấy ví dụ vào những năm trước thời kỳ Đổi mới

(1986), nước ta chủ trương thực hiện nền kinh tế hàng hóa tập trung bao cấp,

hoạt động chính là nơng nghiệp. Với kỹ thuật và cơng nghệ lạc hậu thời bấy

giờ thì hoạt động kinh tế khơng gây xáo trộn các nhân tố tự nhiên như đất,

nước, khơng khí. Có chăng chỉ là những trường hợp phát rừng, đốt rừng làm

nương rẫy một cách bừa bãi, trái phép tại một vài đại phương dẫn đến tình

trạng đất trống đồi trọc, khiến bầu khơng khí bị nhiễm khói bụi trên phạm vi

địa phương đó.

1 Nguyễn Đức Long (2010), “Các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ môi trường

ở Việt Nam hiện nay”, Luật học, (8), tr. 38.



6



 Năm 1986, nước ta bước vào thời kỳ Đổi mới. Đảng đã đề ra chủ

trương tiến hành cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước nên trong cơ cấu nền

kinh tế từ lâu công nghiệp và dịch vụ ln có sự phát triển vượt bậc, giảm tỉ

trọng của nông nghiệp. Từ đây, vấn đề phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ mơi

trường bắt đầu có sự xung đột gay gắt.

Phát triển kinh tế đã phá hủy nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm ô

nhiễm môi trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc lạm dụng các hóa chất

như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ gây ơ nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước xung

quanh, và khiến bản thân các sản phẩm nơng nghiệp có nguy cơ gây ngộ độc

nếu ăn phải. Trong lĩnh vực công nghiệp, việc khai thác tràn lan khoáng sản

khiến cho nguồn tài nguyên này ở nước ta đang dần cạn kiệt. Tài nguyên rừng

cũng bị khai thác để xây dựng thủy điện một cách ồ ạt. “Theo các chuyên gia

sinh quyển, để tạo ra 1 MW điện, phải ‘đổi’ ít nhất 10-30 ha rừng, và để có

1.000 ha hồ chứa nước cũng cần san phẳng, giải phóng từ 1.000 – 2.000 ha

đất rừng ở phía thượng nguồn.”2. Khơng chỉ khai thác tài ngun thiên nhiên

mà các hoạt động cơng nghiệp còn làm ơ nhiễm mơi trường trầm trọng. Nhiều

nhà máy, xí nghiệp xả nước thải và khí thải độc hại trực tiếp ra ngồi mơi

trường mà khơng qua hệ thống xử lí. Một ví dụ điển hình là vụ cơng ty sản

xuất gang thép Formosa đã xải thải trực tiếp ra vùng biển Vũng Áng tại Hà

Tĩnh, kết quả là nước biển nhiễm độc lan ra đến bốn tỉnh duyên hải Trung Bộ,

làm cá chết hàng loạt. Trong lĩnh vực dịch vụ, một trong những hoạt động

gây ảnh hưởng đến môi trường nhất là hoạt động du lịch. Việc biến thiên

nhiên thành khu vui chơi nghỉ dưỡng kéo theo một lượng lớn người đổ về

sinh hoạt, trong khi chính quyền các cấp lại không làm tốt công tác quản lý

khiến môi trường bị q tải, suy thối.

Khi mơi trường bị tàn phá đến một mức độ nhất định, nó sẽ tác động

ngược trở lại đối với việc phát triển kinh tế. Cụ thể, việc chặt phá rừng làm

đất đồi núi mất sự che chắn, khiến lũ đầu nguồn đổ về. Việc thải nhiều khí

CO2 ra ngồi mơi trường đẩy nhanh tốc độ biến đổi khí hậu, thời tiết cũng trở

nên khắc nghiệt hơn với các hiện tượng mưa bão, hạn hán, lốc xoáy,... Hậu

quả từ những thiên tai này là rất lớn: mất mùa màng, phá hủy cơng trình, cướp

đi sinh mạng của người dân,... Các nguồn tiền dành cho phát triển kinh tế nay

2 https://trithucvn.net/khoa-hoc/tin-moi-truong/phat-trien-thuy-dien-nho-loi-it-hai-nhieu-rungtieu-dieu-dan-khon-kho.html



7



phải sử dụng cho các hoạt động khắc phục thiệt hại và bảo vệ môi trường.

“Đánh giá của Ngân hàng Thế giới cho thấy, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm

không khí tại Việt Nam đã gây thiệt hại đến 5% GDP hàng năm.”3. Như vậy,

môi trường đã gián tiếp làm giảm khả năng sản xuất nông nghiệp, công

nghiệp, ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ, qua đó kìm

hãm sự phát triển kinh tế.

2.2.3. Sự chuyển hóa

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, khi phát triển kinh tế và bảo

vệ môi trường đấu tranh gay gắt và đạt đến một mức độ nhất định, chúng sẽ

tất yếu chuyển hóa cho nhau. Sự chuyển hóa này diễn ra như thế nào là phụ

thuộc vào nhận thức của con người và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Đó là khi ta hài hòa được giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

Các doanh nghiệp không còn xả thải gây ơ nhiễm, cân đối được việc khai thác

và tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mâu thuẫn lúc này được giải

quyết, và một mâu thuẫn khác hình thành, bởi trong xã hội ln tồn tại rất

nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, ngay cả khi một bộ phận các doanh nghiệp, công

ty ý thức được việc bảo vệ môi trường và thực hiện các biện pháp bảo vệ thiết

thực, họ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khác. Đó có thể là mâu thuẫn

giữa phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, với sự tiến bộ cơng bằng,...

Q trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn, khiến cho xã

hội Việt Nam không ngừng phát triển.

2.3. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của quy luật để đảm bảo

phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường

Trên cơ sở tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển bền vững được đề ra

bởi Đảng và Nhà nước, các cá nhân và tổ chức trong xã hội cần có nhận thức

đúng đắn và hành động thiết thực trong việc đảm bảo phát triển kinh tế hài

hòa, gắn liền với bảo vệ mơi trường.

Thứ nhất, cần có sự quan tâm sâu sắc tới mâu thuẫn giữa phát triển

kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay. Mỗi người đều phải trang

bị cho mình những kiến thức đầy đủ về vấn đề này, từ đó có ý thức trong việc

thể hiện thái độ với môi trường sống xung quanh. Để có được sự tiếp nhận

đơng đảo của mọi người, các cấp chính quyền và tổ chức xã hội phải thường

3 https://vov.vn/kinh-te/tac-dong-moi-truong-de-doa-tang-truong-kinh-te-580936.vov



8



xuyên tổ chức các buổi giao lưu, chia sẻ và giáo dục ý thức cho mọi người.

Hơn nữa, “trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã

hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đất nước phát

triển bền vững thì việc tiếp tục xây dựng, hồn thiện pháp luật về bảo vệ môi

trường là hết sức cần thiết.”4. Bởi pháp luật có tính quy phạm phổ biến, tính

bắt buộc chung, điều chỉnh ý thức và hành vi của tất cả mọi người và có

những chế tài phù hợp với những ai vi phạm.

Thứ hai, cần nhận thức đầy đủ về tính chất của mỗi mặt đối lập để từ

đó có giải pháp đúng đắn. Về phát triển kinh tế, cần chú trọng hơn nữa tới

việc phát triển chiều sâu bên cạnh phát triển chiều rộng, tức là đẩy mạnh chất

lượng lao động, nguồn nhân lực, bộ máy quản lý cũng như áp dụng các tiến

bộ khoa học công nghệ. Các doanh nghiệp nên được khuyến khích sử dụng

năng lượng tái tạo, các nguyên vật liệu mới, thân thiện với môi trường. Về

việc bảo vệ môi trường, nên lấy chất lượng sống của người dân là trọng tâm;

tăng cường bảo vệ mơi trường và phòng tránh thiên tai ngay từ đầu chứ khơng

phải chờ đến khi có hậu quả mới đi khắc phục.

Thứ ba, cần xét đến các điều kiện, hồn cảnh ở riêng từng vùng miền

để có được biện pháp giải quyết mâu thuẫn phù hợp. Vì mâu thuẫn có tính đa

dạng, phong phú nên q trình vận động của nó ở từng nơi cũng khác nhau.

Ví dụ như ở vùng nơng thơn thì cần tập trung hơn vào bảo vệ môi trường

trong hoạt động nông nghiệp, và không thể áp dụng các biện pháp đó tại các

thành phố. Trong quá trình trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, áp dụng các mơ

hình phát triển tiến bộ từ bạn bè quốc tế thì cần phải đối chiếu với thực tiễn

phát triển tại Việt Nam để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất khi thực hiện

chiến lược phát triển bền vững.



C. KẾT LUẬN

Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là hai vấn đề, hai mặt đối lập có

mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ngày càng có ý nghĩa thiết thực trong đời sống

xã hội. Việc vận dụng triệt để nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy

luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” theo quan điểm chủ nghĩa

4 Nguyễn Văn Hùng (2011), Hồn thiện pháp luật về bảo vệ mơi trường ở Việt Nam trong điều

kiện hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 02.



9



Mác-Lênin sẽ giúp chúng ta có được nhận thức đúng đắn về quá trình vận

động của mâu thuẫn này đối với sự phát triển xã hội. Qua đó, ta có thể từng

bước thúc đẩy sự chuyển hóa của mâu thuẫn, hài hòa giữa phát triển kinh tế

và mơi trường, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước.



10



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Văn bản pháp luật

1. Quyết định số 432/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững

Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.

II. Tạp chí, luận văn, trang web

1. Nguyễn Văn Hùng (2011), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường

ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học, Trường

Đại học Luật Hà Nội.

2. Nguyễn Đức Long (2010), “Các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững

và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Luật học, (8), tr. 38 – 43.

3. https://trithucvn.net/khoa-hoc/tin-moi-truong/phat-trien-thuy-dien-nholoi-it-hai-nhieu-rung-tieu-dieu-dan-khon-kho.html

4. https://vov.vn/kinh-te/tac-dong-moi-truong-de-doa-tang-truong-kinh-te580936.vov



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×