Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ hài lòng của Sv về tính khách quan trong kiểm tra đánh giá rất cao

Mức độ hài lòng của Sv về tính khách quan trong kiểm tra đánh giá rất cao

Tải bản đầy đủ - 0trang

105

kế bài học theo tiếp cận năng lực

STT



Nội dung



1.



Nguyên tắc trải nghiệm



2.



Nguyên tắc chủ động, tích cực



3.



Nguyên tắc tự rèn luyện của SV



4.



Nguyên tắc chia sẻ và hợp tác



5.



Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả



6.



Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học



7.



Nguyên tắc dựa vào người học



Kết quả điều tra

SL

97

86

93

89

54

34

57



%



TB



16.17



1



14.33



4



15.50



2



14.83



3



9.00



6



5.67



7



9.50



5



Bảng số liệu trên cho thấy, giảng viên đề cao nguyên rèn luyện trực tiếp tác

động đến người học. Nguyên tắc được giảng viên sử dụng nhiều nhất là “Nguyên tắc

trải nghiệm”, theo các thầy cơ thì chỉ có thơng qua trải nghiệm SV mới hình thành

được kinh nghiệm và sự sáng tạo. Do đó giảng viên cần tạo tình huống giả định hoặc

tình huống thật để người học trực tiếp rèn luyện. Mỗi tình huống có nhiều cách giải

quyết khác nhau, nhưng trong hồn cảnh cụ thể sẽ có phương án tối ưu nhất.

Nguyên tắc tự rèn luyện và nguyên tắc chủ động tích cực của SV đứng ở vị

trí thứ 2 và thứ 4, nguyên tắc này phụ thuộc vào nguồn nội lực trong bản thân mỗi

SV, quyết định sự thành bại của việc rèn luyện KN TKBH theo TCNL. Mọi biện

pháp dù hồn hảo đến đâu, giảng viên có cố gắng bao nhiêu cũng không đem lại

hiệu quả nếu chính bản thân SV khơng tự giác tích cực. Ngun tắc này muốn nhắc

nhở SV có ý thức rèn luyện KN TKBH theo TCNL mọi lúc mọi nơi khi tham gia

các giờ học trên lớp hoặc hoạt động thực hành, thực tập.

Nguyên tắc được giảng viên lựa chọn cao, đứng vị trí thứ 3 là “Nguyên tắc



106

chia sẻ và hợp tác”. Q trình làm việc nhóm, mỗi thành viên đóng góp, giúp đỡ lẫn

nhau để đạt kết quả chung. Mỗi thành viên trong nhóm sẽ có cơ hội để trình bày,

chia sẻ, đóng góp ý kiến, nhận xét đẻ cùng nhau tiến bộ.

- Kết quả điều tra SV hoàn toàn trùng khớp với kết quả điều tra giảng viên.

SV đã nhận thức được rằng rèn luyện KN TKBH theo TCNL đạt kết quả như

mong muốn, yếu tố đầu tiên phụ thuộc vào chính bản thân SV: Bản thân phải được

trải nghiệm, tích cực chủ động trong việc lập kế hoạch rèn luyện và có phương án

rèn luyện cụ thể. Đồng thời SV cần biết hợp tác chia sẻ với giảng viên và các bạn

cùng nhóm vì mỗi thành viên có sự đa dạng về kiến thức, KN, kinh nghiệm. Từ đó

giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

2.3.3.5. Thực trạng các con đường rèn luyện kĩ năng thiết kế bài học theo

tiếp cận năng lực

Với chủ trương sử dụng đa dạng các hình thức, con đường rèn luyện

nhằm hình thành KN TKBH cho SV, giảng viên đã sử dụng nhiều hình thức

khác nhau để phù hợp với điều kiện, môi trường và đáp ứng nhu cầu, hứng thú

của người học. Nhận thức của giảng viên về các hình thức con đường rèn luyện

KN TKBH theo TCNL

Bảng 2.21. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về các con đường rèn luyện kĩ

năng thiết kế bài học theo tiếp cận năng lực cho sinh viên

Kết quả

STT



Các con đường rèn luyện



điều tra của

GV



Kết quả

điều tra

của SV



SL



%



SL



%



1.



Thông qua DH các môn học



%



88



371



61.8



2.



Rèn luyện trong các hoạt động thực hành, thực

tập sư phạm



76



76



334



55.7



3.



Rèn luyện trong giao lưu và tự học



63



63



242



40.3



4.



Thông qua đánh giá sản phẩm của GV và SV



67



67



298



49.7



Kết quả bảng trên cho ta thấy, giảng viên đã sử dụng đa dạng các hình thức

trong rèn luyện KN TKBH theo TCNL cho SV. Trong đó có 88% giảng viên lựa

chọn phương án “Thông qua DH các mơn học” chiếm vị trí thứ 1, thơng qua DH

các mơn phương pháp SV được tiếp cận tri thức lí luận về giảng dạy bộ môn theo



107

đúng chuyên ngành được đào tạo. Đứng vị trí thứ 2 là hình thức rèn luyện thông qua

“Thực hành, thực tập sư phạm” chiếm 76%, chứng tỏ đây là hình thức rất quan

trọng. Hình thức này, SV có cơ hội vận dụng tri thức được học vào thực tiễn ở nhà

trường phổ thông qua đó năng cao KN DH. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này,

chúng tôi đã phỏng vấn trực tiếp cô A.B.T, giảng viên bộ môn phương pháp giảng

dạy môn sinh học, cơ cho biết: SV chỉ hình thành được KN thông qua thực hành trải

nghiệm, đây là môi trường thuận lợi nhất giúp SV bộc lộ hết những mặt mạnh và

điểm hạn chế của bản thân, từ đó có chiến lược rèn luyện trong giai đoạn tiếp theo.

Một trong những hình thức được giảng viên lựa chọn cao “ Qua tự học, tự

rèn luyện”, đây là hình thức thuộc về bản thân SV. KN chỉ được hình thành thơng

qua rèn luyện của chính bản thân người học, vì vậy hầu hết giảng viên đều định

hướng giúp SV tự học và tự rèn luyện. DH theo học chế tín chỉ, để có 1 giờ học trên

lớp SV phải có ba giờ học ở nhà.

- Nhận thức của SV về các hình thức, con đường rèn luyện KN TKBH theo TCNL

So sánh với kết quả điều tra giảng viên, kết quả điều tra SV cũng có

những điểm tương đồng. SV đánh giá hình thức rèn luyện thơng qua các mơn học

về phương pháp giảng dạy; thông qua thực hành, thực tập sư phạm; thông qua

hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên là những hình thức chủ

đạo nhằm hình thành KN cho bản thân, trùng với nhận định của giảng viên.

Hình thức rèn luyện qua tự học, tự rèn luyện, SV lựa chọn ở vị trí thứ 4 với

40,3% số SV lựa chọn. Tìm hiểu sâu hơn về sự lựa chọn này, chúng tôi phỏng vấn trực

tiếp SV với câu hỏi: “Bạn đã chủ động lên kế hoạch rèn luyện KN cho bản thân chưa?”,

chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau, trong đó có nhiều bạn trả lời: Em

chưa bao giờ tự mình lên kế hoạch rèn luyện, khi nào GV nhắc phải TKBH em mới thực

hiện. Là một GV trực tiếp giảng dạy bộ môn rèn luyện NVSP, tôi nhận thấy một thực tế

là SV rất lười trong việc tư mình lập kế hoạch tự học, tự rèn luyện, thời gian tự học, họ

dành vào việc cá nhân như: đi chơi, làm thêm… Đây là thực tiễn đáng lo ngại hiện nay.

2.3.3.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện kĩ năng thiết

kế bài học theo tiếp cận năng lực của sinh viên

- Đánh giá của giảng viên về những yếu tố ảnh hưởng đến rèn luyện KN

TKBH theo TCNL

Bảng 2.22. Đánh giá của giảng viên và sinh viên về những yếu tố ảnh hưởng

đến rèn luyện kĩ năng thiết kế bài học theo tiếp cận năng lực



108



Đánh giá của giảng viên về những yếu tố ảnh hưởng đến

rèn luyện KN TKBH theo TCNL

STT



Kết quả

điều tra



Nội dung



TB



ĐTB



ĐLC



2.



Đặc điểm của SV sư phạm trong KN TKBH theo

TCNL: Tâm lý, hiểu biết về mặt lí luận, thái độ…



3.19



1.04



1



3.



Năng lực giảng dạy của giảng viên



3.21



0.98



4



4.



Hoạt động thực hành, thực tập sư phạm



3.13



0.92



2



5.



Quản lí đào tạo và học tập



3.16



0.95



3



6.



Cơ sở vật chất, trang thiết bị DH, môi trường rèn luyện



3.07



0.91



5



Chung



3.15



0.96



Kết quả bảng trên cho ta thấy có hai nhóm nguyên nhân: Chủ quan và khách

quan. Những yếu tố chủ quan thuộc bản thân giảng viên và SV được giảng viên

đánh giá là có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả rèn luyện của SV

Điều này thể hiện như sau:

Yếu tố được giảng viên đánh giá có mức độ ảnh hưởng lớn nhất là: Đặc

điểm của SV sư phạm, có ĐTB = 3.19 số giảng viên lựa chọn, đứng ví trí thứ

nhất. Điều này được lí giải như sau: Hầu hết SV sư phạm chỉ có những kiến thức

nền tảng về KN TKBH truyền thống, các em chưa quen TKBH theo TCNL. Lí

luận về KN TKBH theo TCNL còn hạn hẹp nên thái độ của SV đối với việc rèn

luyện KN TKBH theo TCNL còn thụ động. Mặt khác SV ít có điều kiện nghiên

cứu, giao lưu học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia, bạn bè do đó chưa khuyến

khích được sự nhiệt tình, say sưa, cố gắng, nỗ lực của bản thân SV.

Yếu tố được giảng viên lựa chọn đứng vị trí thứ 2 thuộc về “Hoạt động thực

hành, thực tập sư phạm”. Đây là con đường gần gũi với hoạt động của SV sau này và

cũng là cầu nối để mang lí luận vào thực tiễn giảng dạy. Khi được thực hành giảng

dạy, SV có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về lí thuyết và KN TKBH theo TCNL một cách

thiết thực nhất. Trong thực hành, thực tập sư phạm SV còn được trao đổi kinh nghiệm

với bạn bè, thầy cô, từ đó có kế hoạch rèn luyện, hồn thiện KN của bản thân.

Yếu tố quyết định trực tiếp đến việc hình thành KN TKBH theo TCNL của



109

SV là: “Tính tích cực của SV trong rèn luyện KN TKBH theo TCNL”. Tiếp theo

thuộc về yếu tố: “Hoạt động đào tạo và học tập”, và “Phương pháp, KN giảng dạy

của giảng viên”.

Yếu tố khách quan tạo điều kiện thuận lợi cho SV trong rèn luyện KN TKBH

theo TCNL là: “Nguồn tư liệu phong phú, dồi dào về TKBH theo TCNL”, “Cơ sở

vật chất, trang thiết bị DH”.

Thực trạng trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi đề suất biện pháp rèn luyện KN

TKBH theo TCNL phù hợp.

Đánh giá của SV về những yếu tố ảnh hưởng đến việc rèn luyện KN TKBH

theo TCNL

Bảng 2.23. Đánh giá của sinh viên về những yếu tố ảnh hưởng đến rèn luyện



kĩ năng thiết kế bài học theo tiếp cận năng lực

STT



Nội dung



Kết quả

điều tra

ĐTB



ĐLC



TB



2.



Đặc điểm của SV sư phạm trong KN TKBH theo

TCNL: Tâm lý, hiểu biết về mặt lí luận, thái độ…



3.53



0.91



2



3.



Năng lực giảng dạy của giảng viên



3.47



1.04



3



4.



Hoạt động thực hành, thực tập sư phạm



3.61



0.96



1



5.



Quản lí đào tạo và học tập



3.45



0.92



4



6.



Cơ sở vật chất, trang thiết bị DH, môi trường rèn luyện



3.37



0.95



5



Kết quả bảng trên cho ta thấy, đánh giá của SV phần lớn là tương đồng với

đánh giá của giảng viên, có chút khác biệt như sau: Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất

là “Hoạt động thực hành, thực tập sư phạm”. Theo SV, đây là hoạt động các em

thu được nhiều hiệu quả nhất, KN TKBH theo TCNL cũng thành thạo hơn từ

hoạt động này.

Yếu tố thứ hai, SV lựa chọn là: “Đặc điểm của SV sư phạm trong KN TKBH

theo TCNL: Tâm lý, hiểu biết về mặt lí luận, thái độ”. Đây là những yếu tố thuộc về

bản thân SV. Theo SV N.T.L khoa Toán cho rằng: Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất

thuộc về SV vì hầu hết các bạn chưa tích cực trong việc tự rèn luyện, ỉ lại vào sách

hướng dẫn khi TKBH theo TCNL.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ hài lòng của Sv về tính khách quan trong kiểm tra đánh giá rất cao

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×