Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Câu 5: Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng đến những thay đổi về chất và ngược lại. Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Câu 5: Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng đến những thay đổi về chất và ngược lại. Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, là

sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ khơng phải là

cái khác.

- Chất của sự vật, hiện tượng được tạo nên bởi:

+ Các thuộc tính khách quan vốn có của nó. Tuy nhiên khái niệm chất khơng

đồng nhất với khái niệm thuộc tính

+ Cấu trúc và phương thức liên kết giữa các thành tố cấu thành , thông qua

những mối liên hệ cụ thể.

- Đặc điểm của chất:

+ Chất của sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, gắn liền với sự vật, hiện tượng

làm nên đặc trưng riêng của mỗi sự vật, hiện tượng

+ Mỗi sự vật, hiện tượng khơng chỉ có một chất mà có nhiều chất tùy thuộc vào

các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác.

+ Chất của sự vật, hiện tượng là cái tương đối ổn định.

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy luật vốn có của sự vật về mặt

số lượng, khối lượng, quy mơ, trình độ, nhịp điệu…của sự vận động phát triển

của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.

Nội dung quy luật

Thứ nhất: Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất

- Ăngghen khẳng định muốn có sự thay đổi về chất cần có sự thay đổi về lượng.

Theo ông, trong tự nhiên những sự biến đổi về chất chỉ có được do thêm vào hay

bớt đi một số lượng vật chất hay vận động. Nếu không thêm vào hay bớt đi một

số lượng vật chất hay vận động, nghĩa là nếu không thay đổi về mặt lượng thì

khơng thay đổi được chất của sự vật.

- Sự vật là sự thống nhất giữa lượng và chất. Sự thay đổi về lượng đến một thời

điểm nhất định sẽ đưa đến sự thay đổi về chất. Khi sự thay đổi về lượng trong

khoảng giới hạn chưa đủ để thay đổi về chất thì gọi là độ.

24



Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi

về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, sự vật vẫn là nó

chưa chuyển thành sự vật khác.

- Ăngghen khẳng định, không phải bất cứ sự chuyển biến nào về lượng cũng dẫn

đến sự thay đổi về chất.

+ Sự thay đổi về lượng chỉ đạt tới một giới hạn nhất định mới có khả năng làm

cho sự vật thay đổi về chất.

+ Giới hạn mà ở đó sự tích lũy về lượng đủ để làm thay đổi về chất gọi là điểm

nút.Tại điểm nút, bất cứ một sự tăng them hay giảm đi về lượng nào cũng dẫn

đến sự thay đổi về chất.

+ Nếu thay đổi về lượng của một sự vật chưa đạt tới điểm nút thì chưa thể làm

cho sự vật thay đổi về chất.

Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà ở đó sự thay đổi về

lượng đã đủ làm thay đổi về chất.

+ Tới điểm nút, bước nhảy được thực hiện để đưa đến sự chuyển hóa về chất của

sự vật.

+ Ăng ghen khẳng định quá trình biến đổi của sự vật gồm những bước tiệm tiến,

những khâu trung gian, chỉ vậy thơi thì mới có sự tích lũy đơn thuần về lượng.

+ Trong tự nhiên, sự chuyển hóa, sự thay đổi về chất của sự vật diễn ra một cách

tự phát khi nó tích lũy đủ về lượng nhưng trong xã hội sự thay đổi về chất của

sự vật phải thơng qua hoạt động có ý thức của con người, có nghĩa là con người

phải thực hiện bước nhảy.

Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng dể chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất

của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.

+ Bước nhảy kết thúc khi sự vật hoàn toàn thay đổi về chất. Khi sự vật thay đổi

về chất, nó kết thúc một giai đoạn phát triển và một giai đoạn mới lại bắt đầu



25



với những quan hệ chất-lượng mới được xác lập và lại diễn ra quá trình biến đổi

dần dần về lượng đưa đến những thay đổi về chất.

-> Ln có cái mới ra đời thay thế cái cũ.

+ Ví dụ: nhiệt độ của nước ở trạng thái lỏng, nếu tăng hoặc giảm nhiệt độ của

nước thì sẽ chuyển sang chất mới.

Thứ hai: Sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng

- Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ đưa tới sự thay đổi về chất thông qua

bước nhảy. Ăng ghen chỉ ra chiều ngược lại của quy luật này, đó là chất mới ra

đời sẽ tác động trở lại lượng, quan hệ lượng chất là một quan hệ qua lại

- Trong quá trình lượng thay đổi mà chất của sự vật chưa thay đổi thì chất về cơ

bản chưa tác động đến sự thay đổi về lượng nhưng khi chất mới ra đời thì nó tác

động đến lượng ở chỗ, chất mới làm thay đổi kết cấu, quy mơ, trình độ, nhịp

điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.

- Bước nhảy là một giai đoạn rất quan trọng vì khi bước nhảy kết thúc, sự vật

thay đổi về chất và tùy từng điều kiện cụ thể mà chúng ta có thể vận dụng những

bước nhảy khác nhau đối với những sự vật khác nhau.

-> Từ những phân tích trên có thể khái quát nội dung quy luật như sau:

Mọi sự vật hiện tượng đều là sự thống nhất giữa lượng và chất. Sự thay đổi dần

dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới

thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng.

Q trình tác động đó diễn ra liên tục, làm cho sự vật khơng ngừng phát triển,

biến đổi. Vì vậy, quy luật này có vị trí chỉ ra cách thức của sự vận động và phát

triển của sự vật.

Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương

diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng



26



- Sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất biện chứng giữa lượng và chất nên khi

nhận thức về sự vật phải nhận thức cả hai mặt chất và lượng, cần tránh sự tuyệt

đối hóa về lượng hoặc tuyệt đối hóa về chất của sự vật.

- Sự vận động, phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách từ những sự

thay đổi về lượng đến một giới hạn nhất định có sự chuyển hóa về chất.

+ Trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải biết tích lũy biến

đổi về lượng để tạo ra sự chuyển hóa về chất theo quy luật. Khi chất mới được

hình thành, cần phải phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về

lượng của sự vật, hiện tượng.

Khi lượng đã tích lũy đến giới hạn điểm nút tất yếu có khả năng diễn ra bước

nhảy về chất của sự vật, khi đó phải quyết tâm, kip thời thực hiện bước nhảy về

chất

+ Khi muốn sự vật là nó, khơng chuyển thành sự vật khác thì phải giữ gìn cho

lượng ở trong khoảng giới hạn độ, không để lượng vượt q độ.

- Trong q trình tích lũy về lượng để đưa đến sự chuyển hóa về chất, phải

chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn, muốn tạo nhanh sự

chuyển hóa về chất theo ý muốn chủ quan mà chưa có sự tích lũy đủ về lượng.

- Ngược lại với khuynh hướng tả khuynh, chúng ta phải chống tư tưởng trì trệ,

bảo thủ, ngại đổi mới, chỉ nhấn mạnh q trình biến đổi về lượng mà khơng chủ

động tạo ra sự chuyển hóa về chất khi có điều kiện.

- Trong hoạt động thực tiễn cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy

để cải tạo, biến đổi sự vật tùy từng điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng

sự vật. Cần nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy nhanh q

trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách có hiệu quả tốt nhất, đặc biệt là

trong đời sống xã hội.



27



Câu 6: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực ti ễn, t ừ đó rút

ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Trả lời

Thực tiễn:

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử-xã

hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

- Thực tiễn có 2 đặc trưng cơ bản:

+ Hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo biến đổi tự nhiên xã hội

+ Hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xã hội

- Thực tiễn có 3 hình thức:

+ Hoạt động sản xuất vật chất: tạo ra của cải vật chất. Đây là hoạt động quyết

định sự tồn tại phát triển của loài người trong thời kỳ lịch sử.

+ Hoạt động chính trị xã hội nhằm biến đổi quan hệ xã hội về chế độ xã hội.

+ Thực nghiệm khoa học con người chủ động tạo những điều kiện nhân tạo để

vận dụng thành tựu khoa học công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới.

Lý luận

- Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh

những mối quan hệ bản chất tát nhiên mang tính quy luật của các sự vật, hiện

tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lí, quy luật, phạm

trù.

- Lý luận có 3 đặc trưng cơ bản:

+ Lý luận có tính khái qt, tính logic chặt chẽ, tính hệ thống

+ Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn

+ Lí luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất hiện tượng

Nhận thức lý luận – trình độ cao của nhận thức lồi người

28



- Ăngghen từng nói: Một dân tộc khơng thể đứng trên đỉnh cao khoa học nếu

khơng có tư duy lý luận. Lý luận là đỉnh cao, là kết tinh của nhận thức con

người. Vì vậy, trong quá trình nhận thức, chúng ta cần đạt đến trình độ nhận

thức lý luận.

- Nhận thức dưới góc độ trình độ nhận thức gồm hai trình độ cơ bản:

Nhận thức kinh nghiệm: là quá trình nhận thức diễn ra trong đời sống thực tiễn

hàng ngày, hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng, tạo ra tri

thức kinh nghiệm về chúng.

+ Ví dụ: ơng cha ta có câu Ếch kêu uôm uôm ao chuôm dầy nước…

+ Nhận thức kinh nghiệm có vai trò rất quan trọng. Khơng có kinh nghiệm con

người khơng thể tồn tại được, do q trình con người phải tiếp xúc trực tiếp với

thế giới đòi hỏi họ phải có những kinh nghiệm tồn tại riêng. Tri thức kinh

nghiệm cũng là cơ sở để khái quát nên các hệ thống lý luận.

Nhận thức lý luận: là quá trình khái qt hóa những tri thức kinh nghiệm để hiểu

được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, tạo ra các tri thức lý luận. Hay,

nó là quá trình nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất, quy luật

của các sự vật, hiện tượng.

+ Sản phẩm của nhận thức lý luận chính là các hệ thống lý luận. Đó là hệ thống

tri thức có tính khái quát, trừu tượng, phản ánh bản chất, quy luật của các sự vật,

hiện tượng và được biểu hiện dưới dạng một hệ thống các khái niệm, phạm trù,

quy luật chặt chẽ.

Ví dụ: lý luận nhận thức, lý luận hình thái kinh tế-xã hội

+ Nhờ có lý luận con người nhận thức được thế giới trong bản chất của nó, trong

tính chỉnh thể, trong sự vận động phát triển tuân theo những quy luật khách quan

của nó.

-> Lý luận có vai trò vơ cùng to lớn đối với sự phát triển của nhân loại nói

chung và các quốc gia, dân tộc cũng như mỗi cá nhân nói riêng.

29



- Khi nhấn mạnh vai trò của lý luận như vậy chúng ta không được tách rời lý

luận khỏi cơ sở của nó là thực tiễn.

+ Bởi lý luận có tính khái quát, trừu tượng cao nên rất dễ xa rời thực tiễn, rất dễ

tách khỏi cơ sở của nó là thực tiễn.

+ Lý luận cũng chỉ có vai trò to lớn khi nó được áp dụng vào thực tiễn, được

thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng.

-> Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn chính là nguyên tắc phương pháp luận

cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng.

Một: Vai trò của thực tiễn đối với lý luận

- Với tư cách là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch

sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội, thực tiễn có vai trò vơ

cùng quan trọng đối với nhận thức nói chung và lý luận nói riêng. Lý luận phải

gắn liền với thực tiễn, phải dựa trên cơ sở thực tiễn.

- Vai trò của thực tiễn với lý luận được thể hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ

sở, động lực, mục đích của lý luận và tiêu chuẩn để kiểm nghiệm tính đúng đắn

của lý luận. Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi

được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người. Chính thực tiễn là tiêu chuẩn

đánh giá giá trị của tri thức-kết quả của nhận thức.

+ Từ thực tiễn, trên cơ sở khái quát những kinh nghiệm thực tiễn mà con người

có thể xây dựng được những hệ thống lý luận.

+ Chính thực tiễn đề ra yêu cầu, nhiệm vụ, phương hướng cho nhận thức lý luạn.

+ Chính dựa vào thực tiễn con người mới kiểm nghiệm được lý luận là đúng đắn

hay sai lầm. Lý luận chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho thực tiễn cải tạo thế giới

của con người.

- Vai trò của thực tiễn với lý luận còn thể hiện ở chỗ lý luận chỉ có thể được hiện

thực hóa thơng qua hoạt động thực tiễn của con người.



30



+ Lý luận tự nó khơng có sức mạnh, nó chỉ có sức mạnh khi được thâm nhập

vào thực tiễn.

+ Ví dụ: Lý luận cách mạng chỉ có sức mạnh khi được vận dụng vào thực tiễn

đấu tranh giải phóng xã hội.

- Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời. Nói

cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết. Trên cơ sở đó

nhận thức phát triển.

- Thực tiễn là nơi rèn luyện giác quan cho con người.Chẳng hạn thông qua các

hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo ..những cơ quan cảm giác như thính

giác, thị giác…được rèn luyện. Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra

cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn.

- Thực tiễn là cơ sở chế tạo cơng cụ máy móc cho con người nhận thức hiệu quả

hơn như kính thiên văn, máy vi tính…Nhờ những cơng cụ máy móc này mà con

người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn.=> Thúc đẩy nhận thức

phát triển.

- Nhận thức khơng vì thực tiễn mà vì cá nhân vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa

thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng.

- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận. Theo

triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý. Bởi

lẽ chỉ có thơng qua thực tiễn con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực

hóa được tư tưởng. Thơng qua q trình đó, con người có thể khẳng định chân

lý, bác bỏ sai lầm. Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng

nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối.

+ Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu

chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm.

+ Tính tương đối thể hiện ở chỗ bản thân thực tiễn luôn vận động biến đổi phát

triển. Cho nên khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi theo cho

31



phù hợp. Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được

kiểm nghiệm thông qua thực tiễn.

Hai: Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

- Thự tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận, nhưng lý luận cũng có tác động

trở lại quan trọng đối với thực tiễn.

- Chỉ xuất phát từ thực tiễn mới hình thành lý luận nhưng lý luận khi đã hình

thành có thể chỉ đạo, định hướng dẫn dắt thực tiễn, có tác động trở lại tích cực

hoặc kìm hãm hoạt động thực tiễn.

+ Do khái quát được cái bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng nên lý luận

giúp định hướng, chỉ đạo thực tiễn. Hoạt động tuân theo quy luật nên con người

đạt được mục đích, hoạt động thực tiễn đạt được hiệu quả cao.

+ Lý luận khoa học có thể dự báo được những xu hướng phát triển tương lai nên

dựa vào đó có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch, mơ hình hoạt động thực tiễn.

Từ đó, lý luận tác động đến thực tiễn một cách tích cực.

- Lý luận cũng có thể tác động tiêu cực đến thực tiễn nếu đó là lý luận khơng

khoa học, lý luận sai lầm, thậm chí phản động.

Ví dụ như học thuyết của chủ nghĩa phát xít

- Lý luận có vai trò quan trọng như vậy nhưng khơng được tuyệt đối hóa lý luận

so với thực tiễn bởi tự nó lý luận khơng biến đổi được xã hội mà phải thông qua

hoạt động thực tiễn con người mới cải tạo được xã hội trong hiện thực.

-> Lý luận và thực tiễn ln gắn bó chặt chẽ với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh

từng nói: Thực tiễn mà khơng có lý luận là thực tiễn mù quáng, lý luận mà

không có thực tiễn là lý luận sng.

Ý nghĩa phương pháp luận

- Từ mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, chúng ta cần quán triệt quan điểm

thực tiễn trong nhận thức và hành động.

+ Đó là phải xuất phát từ thực tiễn để nhận thức và hành động.

32



+ Không được lấy ý muốn chủ quan của mình để áp đặt cho hiện thực, để chỉ

đạo hoạt động thực tiễn.

+ Trong q trình hoạt động phải có ý thức tự giác và thường xuyên tổng kết

thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận.

+ Quán triệt quan điểm thực tiễn còn đòi hỏi chúng ta phải ln lấy thực tiễn

làm tiêu chuẩn kiểm chứng lý luận. Một lý luận chỉ có thể là chân lý nếu được

thực tiễn kiểm nghiệm. Khi thực tiễn chỉ ra lý luận đó khơng còn phù hợp thì

cần phải nghiên cứu để phát triển lý luận cho phù hợp với thực tiễn mới.

- Bên cạnh việc quán triệt quan điểm thực tiễn, chúng ta cũng cần coi trọng lý

luận, nghiên cứu lý luận, thường xuyên phát triển lý luận bởi lý luận khoa học

có thể định hướng, chỉ đạo thực tiễn, tạo nên sức mạnh to lớn khi kết hợp với

thực tiễn.

- Cần phải chống lại một số căn bệnh trong nhận thức do chưa nhận thức và vận

dụng tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn đó là bệnh kinh nghiệm và bệnh

giáo điều, sách vở. Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện

phương châm “ nói đi dơi với làm” tránh nói một đằng làm một nèo, nói nhiều

làm ít

-> Nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta cần

tạo ra được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức và hoạt động

nhằm cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả hơn.



33



II. PHẦN DUY VẬT LỊCH SỬ

Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn phát triển lực lượng

sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay?

Trả lời

Lực lượng sản xuất là khái niệm được dùng để biểu hiện mối quan hệ giữa con

người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, thể hiện năng lực thực tiễn cua con

người, được tạo thành từ sự kết hợp giữa con người với tư liệu sản xuất trong

quá trình sản xuất vật chất của xã hội.

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong q trình sản xuất gồm

có ba mặt cơ bản: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ

chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực

lượng sản xuất

- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện

chứng, biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất của sự vận động của xã hội-quy luật

về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản

xuất.

- Trình độ của lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ khả năng của con

người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới

tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình.

- Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của cơng cụ lao động; trình

độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; kinh

nghiệm và kỹ năng lao động của con người; trình độ phân cơng lao động.

- Khái niệm tính chất của lực lượng sản xuất, gồm có tính chất cá nhân và tính

chất xã hội hóa: khi lực lượng sản xuất ở trình độ thủ cơng, lưc lượng sản xuất

chủ yếu là mang tính chất cá nhân

34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Câu 5: Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng đến những thay đổi về chất và ngược lại. Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×