Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. PHẦN DUY VẬT BIỆN CHỨNG

I. PHẦN DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm 1901, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận động, khối lượng

của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi.

Năm 1905, Albert Einstein phát hiện ra thuyết tương đối.

Những phát minh đó chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng cụ

thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất như quan niệm duy vật trước

Mác đã khơng còn phù hợp nữa và trở thành căn cứ để chủ nghĩa duy tâm lợi

dụng chống lại chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng "vật chất đã tiêu tan", và toàn bộ

nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cuộc “khủng hoảng của

vật lý học” xuất hiện.

Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Những phát minh có giá trị to

lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ

quan niệm cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về mặt cấu trúc, rằng nguyên tử

hay khối lượng là giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên. Lênin đã chỉ ra

rằng, khơng phải "vật chất tiêu tan" mất, mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con

người về vật chất là tiêu tan. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc “khủng

hoảng của vật lý học” và phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm

trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất mà

cho đến nay các khoa học hiện đại vẫn thừa nhận.

Định nghĩa vật chất của Lênin

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem

lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp

lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

Phân tích nội dung:

- Lênin khơng dùng cách định nghĩa thông thường mà dùng cách đặt “vật chất”

đối lập với “ý thức” và chỉ ra cái nào có trước và quyết định, cái nào có sau và bị

quyết định.

- Lênin khẳng định: “vật chất là một phạm trù triết học” được hiểu là:



2



+ Thứ nhất: phạm trù “vật chất” là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất. “vật

chất” trong triết học khác với vật chất trong đời thường hay vật chất trong các

khoa học cụ thể

+ Thứ hai: “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học, là sản phẩm khái quát

của tư duy trừu tượng, nó khơng tồn tại cảm tính, do đó khơng được đồng nhất

“vật chất” với vật thể cụ thể, “vật chất” là tổng số các vật thể cụ thể.

+ Thứ ba: “vật chất” nói chung là vơ hạn, vơ tận, khơng sinh ra, khơng mất đi,

chỉ có các dạng cụ thể của “vật chất”, tức là các vật thể, mới sinh ra, mất đi, mới

có giới hạn về khơng gian và thời gian.

- Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ

thuộc vào cảm giác” nghĩa là vật chất là tất cả những cái tồn tại khách quan

không lệ thuộc vào cảm giác; ngược lại tất cả những gì tồn tại khách quan khơng

lệ thuộc vào cảm giác , đó là vật chất.

+ Đây là thuộc tính cơ bản nhất của vật chất và là tiêu chuẩn để phân biệt cái vật

chất với cái không phải là vật chất.

- Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác” được hiểu: vật chất là

những cái tồn tại thực, nó tác động theo một cách nào đó hoặc trực tiếp hoặc

gián tiếp đến các giác quan của con người để gây nên cảm giác, ý thức.

-> Lênin khẳng định: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau.

- Vật chất “được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh” nghĩa là vật

chất tồn tại khơng hề thần bí, vơ hình mà nó tồn tại thực, dưới các dạng cụ thể

mà con người, bằng những phương pháp nhận thức khác nhau, hồn tồn có thể

nhận thức được mọi đối tượng vật chất.

Vật chất tuy trừu tượng nhưng tồn tại dưới dạng những sự vật vật chất cụ thể,

khi chúng tác động lên các giác quan của con người thì được các giác quan này

chép lại, phản ánh, từ đó hình thành nên cảm giác. Điều đó cho thấy sự tồn tại

của vật chất không phải là không thể nhận thức được mà đó là sự tồn tại có thể

nhận thức được.

3



-> Như vậy về nguyên tắc, con người hoàn tồn có khả năng nhận thức thế giới.

Định nghĩa của Lênin có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Cụ thể:

Một là: Vật chất có trước, khơng đồng nhatas với một dạng cụ thể của nó.

Bằng khẳng định vật chất tồn tại khách quan, không phụ thuộc cảm giác, định

nghĩa đã bác bỏ mọi quan điểm duy tâm trong quan niệm về vật chất.

Hai là: giải quyết đặc điểm, 2 mặt vấn đề cơ bản của triết học

bằng quan niệm vật chất là một phạm trù triết học, định nghĩa đã khắc phục tính

chất trực quan, máy móc, siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ trong quan niệm về

chất.

Định nghĩa vật chất của Leenin đã giải quyết một cách triệt để vấn đề cơ bản của

triết học trên lập trường duy vật biện chứng, qua đó bác bỏ chủ nghĩa duy tâm và

thuyết bất khả tri.

Ba là: Góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng trong vật lí học

Bốn là định hướng cho khoa học phát triển

với việc khẳng định về nguyên tắc con người hoàn tồn có khả năng nhận thức

thế giới, định nghĩa có vai trò to lớn trong việc cổ vũ, động viên các nhà khoa

học không ngừng đi sâu khám phá thế giới, phát hiện những thuộc tính, bản chất

của các sự vật hiện tượng trong thế giới, do đó, có thể xem định nghĩa vật chất

có tác dụng mở đường cho sự phát triển của khoa học.

5 là: giải quyết 2 mặt vấn đề cơ bản của triết học trên cơ sở chỉ ra thuộc tính căn

bản của vật chất là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào cảm giác, định

nghĩa là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong

lĩnh vực xã hội.

+ Theo đó, vật chất trong xã hội là một dạng đặc biệt, nó là các quan hệ xã hội,

các quy luật xã hội tồn tại khách quan với con người.

+ Đồng thời cho phép chúng ta hiểu vật chất trong xã hội còn là tồn tại xã hội,

tồn tại xã hội là cái quyết định ý thức xã hội.

4



-> Định nghĩa vật chất là kết quả của cuộc đấu tranh quyết liệt do Lenin tiến

hành chống những quan niệm phản macxit cho đến nay đang tiếp tục dược

khẳng định, ngay cả trước những thành tựu vô cùng mới mẻ của khoa học tự

nhiên hiện đại.

Liên hệ thực tiễn:

Trong nhận thức thực tiễn, chúng ta phải phản ánh và tác động vào thế giới đúng

như nó có, đúng

với bản chất của quy luật vận động của sự vật hiện tượng. Chống tơ hồng, bóp

méo sự thật, chống chủ

quan duy ý chí áp đặt

Trong NQ đại hội của Đảng đặc biệt quan tâm dến việc xuất phát từ thực tiễn

cuộc sống và CM

Việt Nam để đề ra đường lối, xác định chủ trương giải pháp.

Trong Quân sự, phải phản ánh đúng bản chất quy luật vận động của chiến tranh

và đấu tranh vũ

trang của q trình xây dựng QĐ, để có đường lối xây dựng QĐ phù hợp



5



Câu 2: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, t ừ đó rút

ra ý nghĩa phương pháp luận đối với nhận thức và hoạt động thực

tiễn?

Trả lời

Phạm trù vật chất, ý thức theo chủ nghĩa duy vật biện chứng:

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan dược đem lại

cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,

phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

Ý thức là hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong óc nguời

được hình thành trong quá trình lao động và được diễn đạt như ngôn ngữ.

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một

cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:

1.Quan niệm về MQH vật chất, ý thức trong LS triết học:

- Quan điểm duy tâm cho rằng: ý thức là tính thứ nhất, V/c là tính thứ hai, họ

tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, cho rằng ý thức là sáng tạo ra tất cả. Đây là cơ

sở dẫn đến hoạt động phưu lưu mạo hiểm, tả khuynh, duy tâm, duy ý chí.

- Quan điểm siêu hình: Khẳng định V/c là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai,

nhưng họ lại tuyệt đối hóa vai trò của V/c mà khơng thấy vai trò của ý thức của

con người trong cải tạo thế giới. Đây là cơ sở cho hành động bó tay, đầu hàng

trước hoàn cảnh trong hoạt động thực tiễn.

2.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:

Một: Vật chất quyết định ý thức

- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định ý thức. Đây là

nguyên tắc đặt biệt quan trọng, được xem là nguyên tắc xuất phát điểm của chủ

nghĩa duy vật biện chứng.

- Vật chất quyết định ý thức được hiểu trên những nội dung sau:



6



Vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức. Ý thức là sản phẩm của bộ óc, một

dạng vật chất có tổ chức cao nhất. Khơng có bộ óc người thì khơng thể có ý

thức

+ Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nếu khơng

có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ óc thì cũng khơng thể ra đời ý

thức.

+ Ý thức chỉ có thể hình thành trong q trình lao động, thơng qua cơ chế phản

ánh của vật chất, thể hiện qua phương tiện ngơn ngữ.

-> Khơng có tất cả những yếu tố trên: bộ óc người, thế giới khách quan, hoạt

động la động, ngơn ngữ thì ý thức khơng được hình thành.

-> Vật chất là nguồn gốc của ý thức

Vật chất quy định nội dung, bản chất ý thức.

+ Ý thức là sự phản ánh của vật chất, vì thế điều kiện vật chat, hoàn cảnh sinh

sống, các mối quan hệ xã hội…của con người đều được phản ánh, đều được

chép lại, chụp lại trong ý thức, nghĩa là điều kiện vật chất quy định nội dung và

bản chất của ý thức.

Vật chất khơng chỉ quy định nội dung mà còn quy định cả hình thức biểu

hiện cũng như sự thay đổi, biến đổi, phát triển của ý thức

+ Ý thức luôn là cái phản ánh nên nó do cái bị phản ánh quy định, khi cái bị

phản ánh thay đổi thì đương nhiên kéo theo sự thay đổi của cái phản ánh.

+ Trong lịch sử xã hội, ở mỗi giai đoạn lịch sử, tương ứng với tính chất của

phương thức sản xuất vật chất, tính chất của các quan hệ kinh tế trong xã hội là

những sự phát triển với những đặc trưng khác nhau của lĩnh vực ý thức, tinh

thần.

-> Vật chất quyết định ý thức, ngược lại ý thức cũng có tác động trở lại vật chất.

Hai: Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất



7



- Ý thức sau khi ra đời có tính độc lập tương đối, có tác động trở lại to lớn đối

với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Thể hiện:

Ý thức có thể làm biến đổi hiện thực vật chất khách quan để phục vụ nhu cầu

của con người.

+ Con người không thỏa mãn với thiên nhiên vốn có, bằng ý thức của mình,

thơng qua hoạt động thực tiễn, con người đã cải tạo, chinh phục giới tự nhiên,

tạo ra một thiên nhiên thứ hai, thứ ba…để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của

mình.

+ Ý thức trang bị cho con người tri thức về đối tượng cần cải tạo, cần tác động

(tức cung cấp thế giới quan).

+ Trên cơ sở những tri thức đó, con người xác định mục tiêu, đề ra phương

hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phương tiện để thực hiện

mục tiêu của mình, cải biến hiện thực khách quan.

+ Nhiều thành tựu của con người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên hiện

nay là đáng kinh ngạc, thể hiện vai trò vơ cùng to lớn của ý thức.

Khi nói tới vai trò của ý thức cần phải hiểu rằng về thực chất, đó là vai trò

của con người.

+ Bản thân ý thức tự nó khơng trực tiếp thay đổi được hiện thực.

+ Ý thức có thể tác động trở lại vật chất, sự tác động đó phải thơng qua hoạt

động thực tiễn của con người.

+ Ý thức đó phải được trở thành những mục đích, kế hoạch, chủ trương, biện

pháp…cho hoạt động của con người, khi đó thơng qua các lực lượng thực tiễn,

ý thức mới cải biến được hiện thực.

Thứ ba: sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất là vơ cùng to lớn

nhưng có thể diễn ra theo hai khả năng:

+ ý thức, tư tưởng tiên tiến, phản ánh đúng quy luật khách quan sẽ thúc đẩy sự

phát triển của hiện thực vật chất

8



+ ngược lại ý thức tư tưởng lạc hậu, lỗi thời phản ánh khơng đúng quy luật

khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển của hiện thực vật chất.

- Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, hoạt động thực tiễn của con người

đóng vai trò quan trọng.

+ Vật chất muốn phản ánh vào đầu óc con người để hình thành ý thức phải thơng

qua hoạt động thực tiễn

+ Ý thức muốn cải biến được điều kiện vật chất cuxg phải thông qua hoạt động

thực tiễn. Hoạt động thực tiễn là cầu nối, là khâu trung gian giữa vật chất và ý

thức.

Ý nghĩa phương pháp luận đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn

- Những bài học có tính chất phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ giữa vật

chất và y thức có vai trò vơ cùng quan trọng cho con người trong nhận thức cũng

như hoạt động thực tiễn của họ.

Một: Quan điểm khách quan

- Từ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, cần rút ra quan điểm khách

quan. Quan điểm khách quan hay nguyên tắc khách quan là nguyên tắc quan

trọng hàng đầu trong nhận thức và hoạt động của con người.

Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuât phát từ tính khác

quan của vật chất, có thái độ tơn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn

bản là tôn trọng quy luật nhận thức và hành động theo quy luật. Yêu cầu:

+ Khi xem xét sự vật phải xuất phát từ chính sự vật, phải phản ánh sự vật trung

thành như nó vốn có, phải tơn trọng sự thật, khơng được lấy ý chí chủ quan áp

đặt cho sự vật.

+ Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và

hành động theo quy luật khách quan.

+ Mọi mục đích hành động, kế hoạch, chủ trương, biện pháp hành động của con

người phải dựa trên việc phân tích cặn kẽ, thấu đáo hồn cảnh thực tế khách

9



quan, các chủ trương chính sách của con người phải phản ánh được những nhu

cầu đã chín muồi của điều kiện thực tế, có như vậy chủ trương, chính sách mới

thành cơng.

+ Phải tơn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh

thần của con người, của xã hội

+ Phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối,

chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp.

+ Phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố

vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động.

Hai: Phát huy tính năng động chủ quan của ý thức

- Ý thức, tư tưởng với tính năng động sáng tạo của nó có vai trò to lớn do đó cần

phát huy yếu tố tích cực của ý thức, có nghĩa là phát huy vai trò của nhân tố con

người trong hoạt động cải tạo hiện thực.

- Cần nâng cao không ngừng khả năng nhận thức và vận dụng quy luật của con

người. Muốn vậy, đòi hỏi con người phải tích cực học tập làm chủ tri thức khoa

học, vận dụng các tri thức trong hoạt động thực tiễn của mình. Truyền bá những

tri thức ấy vào quàn chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng,

hướng dẫn quần chúng hành động.

+Cần tự giác rèn luyện nhân sinh quan cách mạng, tiến bộ để góp phần thúc đẩy

sự phát triển theo hướng tích cực, tiến bộ của xã hội.

+ Tu dưỡng, rèn luyện để hình thành củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình

cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính

nhân văn trong định hướng hành động.



Ba: Phòng chống, khắc phục bệnh trì trệ, thụ động đồng thời khắc phục

bệnh chủ quan duy ý chí



10



- Trong sự vận động đa dạng của xã hội xuất hiện những xu hướng cần khắc

phục và loại trừ

+ Xu hướng bảo thủ, trì trệ, thụ động, ý lại, trơng chờ vào sự biến đổi của hiện

thực, khơng tích cực và tự giác biến đổi hiện thực ấy.

+ Xu hướng chủ quan suy ý chí, khơng căn cứ vào thực tế khách quan dể hành

động mà lại lấy ý muốn chủ quan, lấy tình cảm nguyện vọng cá nhân làm điểm

xuất phát cho chủ trương, chính sách.

+ Chống chủ nghĩa kinh nghiệm xem thường tri thức khoa học, xem thường lý

luận, bảo thủ trì trệ, thụ động trơng chờ hiện thực khách quan trong hoạt động

nhận thức và thực tiễn.

- Cả hai xu hướng này đều cản trở sự vận động của hiện thực và đều cần khắc

phục trong hoạt động của con người.



11



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. PHẦN DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×