Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều 73. Tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học

Điều 73. Tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Điều 8. Phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Điều 9. Chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,

hiếm và sản phẩm của chúng:

1. Nghiêm cấm chế biến, kinh doanh thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Nhóm I A, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I B và Nhóm II B từ tự nhiên

và sản phẩm của chúng vì mục đích thương mại (trừ các trường hợp quy định tại

khoản 2 Điều này).

2.3. Danh sách 10 loài cây LSNG thuộc nhóm quý hiếm nằm trong sách

đỏ Việt Nam năm 2017:

1. Củ dòm

Tên khoa học: Stephania dielsiana C.Y. Wu, 1940.

Họ: Tiết dê Menispermaceae

Bộ: Mao lương Ranunculales

Đặc điểm nhận dạng:

Dây leo nhỏ, sống nhiều năm. Rễ củ to; thân leo cuốn, dài khoảng 3m; thân

non màu tím hồng nhạt. Tồn cây khơng lơng. Lá đơn ngun, mọc so le, có cuống

dài 4,5 - 8,5 cm. Phiến lá hình tam giác tròn, 9 - 13 x 8 - 13,5 cm; mép lá hơi lượn

sóng hoặc có răng tù rất thưa ở phía ngọn; chóp lá nhọn, gốc bằng hoặc hơi lõm,

gân chính xếp dạng chân vịt, xuất phát từ chỗ đính của cuống lá. Ngọn non, cuống

lá và cuống cụm hoa có dịch màu tím hồng. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực

do 3 - 5 xim nhỏ họp thành xim tán kép. Hoa nhỏ, có cuống ngắn, 6 lá đài màu tím

xếp 2 vòng, 3 cánh hoa hình quạt tròn, màu vàng cam; cột nhị ngắn, bao phấn dính

thành đĩa 6 ô. Cụm hoa cái gồm 7 - 8 đầu nhỏ, cuống rất ngắn, xếp thành dạng đầu.

Hoa nhỏ, 1 lá đài màu tím hồng, 2 cánh hoa hình quạt tròn màu vàng cam và có các

vân tím. Bầu hình trứng, đầu nhuỵ có 4 - 5 thuỳ dạng dùi. Quả hình trứng đảo, hơi

dẹt 0,8 - 0,9 x 0,7 - 0,75 cm. Hạt hình trứng ngược cụt đầu, có lỗ thủng ở giữa, trên

lưng hạt có 4 hàng gai nhọn, cong.

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 4 - 5, quả tháng 6 - 7. Mọc chồi thân hoặc từ cổ rễ vào đầu

mùa xuân. Sau khi bị chặt phá, phần còn lại vẫn có khả năng tái sinh. Cây ưa ẩm,

ưa sáng và có thể chịu bóng. Thường mọc ở rừng kín thường xanh ẩm đã trở nên

thứ sinh; đôi khi cũng gặp ở rừng núi đá vôi (Tuyên Quang), ở độ cao 300 - 600 m.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Bắc

Kạn, Thái Nguyên (Đại Từ, Tam Đảo), Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Tây

(Ba Vì), Quảng Nam (Trà My: Trà Mai, Trà Giác).

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị:

Loài tương đối hiếm ở Việt Nam. Rễ củ dùng làm thuốc kiên vị, chỉ thống;

trị phù thũng, giải độc, đau xương khớp. Rễ củ có hoạt chất có tác dụng an thần,

giảm đau.

Tình trạng: Các điểm phân bố rải rác, số lượng cá thể không nhiều. Đã bị

khai thác cùng với các lồi bình vơi khác cùng chi. Đặc biệt là ở vùng Nà Hang,

Chiêm Hố (Tun Quang), Củ Dòm được đồng bào người dân tộc Tày và Dao coi



là cây thuốc quý, thường được tìm kiếm, khai thác. Nạn phá rừng cũng trực tiếp

làm thu hẹp phân bố.

Phân hạng: VU B1+2 b,c

Biện pháp bảo vệ:

Loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “sẽ nguy

cấp” (Bậc V) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm

(nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để

hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ những cá thể còn sót

lại ở Vườn quốc gia Tam Đảo và Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung (Na

Hang - Tuyên Quang). Thu thập về trồng nghiên cứu bảo tồn ngoại vi (Ex situ).

Trồng được bằng hạt hoặc bằng cây con mọc tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 286.

2. SONG MẬT

Tên khoa học: Calamus platyacanthus Warb. ex Becc. 1908.

Họ: Cau Arecaceae

Bộ: Cau Arecales

Đặc điểm nhận dạng:

Cây mọc thành cụm thưa, đơn tính khác gốc. Thân leo, dài 30 - 40 m (có thể

dài đến 100 m), đường kính đến 8 - 10 cm (cả bẹ lá). Bẹ lá rất dài, bao kín thân khí

sinh, trên bẹ có nhiều gai dẹt màu vàng dài 8 - 10 cm, gốc rộng 1,8 - 2 mm, gai

mọc lật ngược về phía gốc; lá có khuỷu; thìa lìa ở lá non hình ống, có lơng hung,

gốc có gai, khi già bị rách, có lơng cứng; lá xẻ lơng chim rất sâu, dài 1,5 - 2,5 cm;

thuỳ lá hình bầu dục, không cuống, dài 40 cm, rộng 6 - 8 cm, mặt trên của thuỳ lá

có nhiều gai mảnh, mép có gai nhỏ, đỉnh có túm lơng, thuỳ lá mọc thành cụm 2 - 6,

đỉnh lá mang 4 - 7 lá chét, 2 lá chét ở đỉnh đính nhau ở gốc; sống lá kéo dài thành

roi dài 1,5 m có nhiều gai mập thường mọc thành cụm 5 - 10 gai dính nhau ở gốc.

Cụm hoa đực: mo hình dải, dài hơn 1m; mỗi mo mang nhiều bông nhỏ mọc

ngay trên lá bắc cấp 3 dài 2 - 2,5 cm, mang 14 - 17 hoa đực xếp thành 2 d•y; hoa

mẫu 3, lá đài 3, cánh hoa 3, nhị 6. Cụm hoa cái: mo hình dải dài 1 - 2,5 m, mang

15 bơng nhỏ (chuỳ); lá bắc hình ống dài 20 cm, miệng dẹt, màu xanh đạm, có gai

rải rác trên mặt; chuỳ dính nhay trên miệng lá bắc cấp 1 dài 30 - 70 cm mang nhiều

bông chét, đầu tận cùng bởi một đi có gai; lá bắc cấp 2 hình phễu, có gai; bơng

chét dài 8 - 12 cm mang 14 - 32 hoa cái; đế hoa hình đấu. Quả hình trứng, dài 15 22 mm, rộng 8 - 14 mm; đỉnh quả có mũ hình nón dài 4 mm; vỏ quả có 18 hàng

vảy dọc, vảy có mép mầu nâu; quả khi non màu xanh, khi giả màu vàng nhạt; cùi

trắng mọng, vị chua.

Sinh học và sinh thái:

Ra hoa tháng 4 - 5, có quả tháng 9 - 11. Tái sinh bằng hạt, tái sinh tốt ở ven

rừng, ven suối. Cây ưa sáng, mọc ven khe ẩm, ven thung lũng núi đất, chân và

sườn núi đá, ưa ẩm, mọc trong rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh, ở độ cao

400 - 900 m

Phân bố:

Trong nước: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hà

Tây, Hồ Bình, Ninh Bình, Quảng Bình

Thế giới: Trung Quốc.



Giá trị:

Lồi Song rất có giá trị dùng làm các đồ mỹ nghệ, bàn ghế và các đồ gia

dụng khác.

Tình trạng:

Tuy lồi có mặt trong các Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà

Tây), Cúc Phương (Ninh Bình) và Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), nhưng vẫn

bị chặt phá, rừng bị khai thác mạnh làm mất môi trường sinh thái và điều kiện

sống. Là lồi Song có giá trị xuất khẩu cao, đang bị khai thác mạnh trong 10 năm

qua, hiện vẫn đang suy giảm về số lượng.

Phân hạng: VU A1c,d+2c,d

Biện pháp bảo vệ:

Loài đang được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “sẽ

nguy cấp” (Bậc V). Đề nghị bảo tồn nguyên vị và nghiên cứu các biện pháp gieo

trồng thích hợp tại các nơng trường để khai thác lấy nguyên liệu, tránh chặt phá

trong môi trường tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 378.

3. HOÀNG TINH HOA TRẮNG

Tên khoa học: Disporopsis longifolia Craib, 1912.

Họ: Tóc tiên Convallariaceae

Bộ: Măng tây Asparagales

Đặc điểm nhận dạng:

Cây thảo, sống nhiều năm, cao 0,5 - 1,2 m. Thân rễ nạc, gồm nhiều cục gắn

với nhau thành chuỗi, phân nhánh, nằm ngang; đường kính 2 - 3 cm. Thân mang lá

nhẵn, lúc non có đốm tím hồng, sau xanh trắng, đường kính 0,3 - 0,6 cm. Lá mọc

so le, cuống ngắn; phiến lá thuôn hay mác dài, nhọn 2 đầu, 10 - 20 x 2,5 - 3,5 cm,

5 gân chính hình cung. Cụm hoa gồm 5 - 7 cái, mọc ở kẽ lá, có cuống dài 0,6 1cm. Hoa màu trắng, bao hoa hình chén, đầu chia 6 thuỳ tam giác. Nhị 6, đính ở

miệng ống; chỉ nhị dẹp, có tai ở đầu. Quả thịt; hình cầu, đường kính 0,4 - 0,5 cm.

Khi chín từ màu xanh chuyển sang màu trắng. Hạt nhỏ.

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 3 - 5, quả tháng 5 - 9. Nhân giống tự nhiên bằng hạt. Cây con

thường thấy xung quanh gốc cây mẹ. Phần thân mang lá lụi hàng năm vào mùa

đông, chồi mới mọc từ thân rễ vào đầu mùa xuân. Thân rễ bị g•y, phần còn lại vẫn

có thể tái sinh. Cây đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng. Thường mọc thành khóm trên đất

ẩm nhiều mùn hay trên các hốc đá, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm - đặc biệt là

ở rừng núi đá vôi, ở độ cao khoảng 400 - 1500 m.

Phân bố:

Trong nước: Lai Châu (Phong Thổ), Điện Biên, Lào Cai (Mường Khương,

Bát Xát, Than Uyên, Văn Bàn), Sơn La (Mường La), Hà Giang (Quản Bạ, Bắc

Mê), Cao Bằng (Quảng Hồ), Bắc Kạn (Ba Bể, Na Rì), Thái Nguyên (Tam Đảo),

Lạng Sơn (Tràng Định, Bắc Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì), Hồ

Bình (Mai Châu), Ninh Bình (Cúc Phương).

Thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Lào.

Giá trị:



Thân rễ (củ) chế biến thành "thục", là vị thuốc quý dùng nhiều trong y học

cổ truyền, có tác dụng bổ trung ích khí, mạnh gân xương, chữa phong thấp; làm

đẹp da, đen tóc...

Tình trạng:

Thường xun bị khai thác trong vòng vài chục năm trở lại đây; trữ lượng

giảm mạnh; nhiều vùng chỉ còn cây nhỏ hoặc đ• trở nên hiếm rõ rệt. Hiện chỉ còn ở

khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung (Nà Hang - Tuyên Quang) và Vườn

Quốc gia Ba Bể thỉnh thoảng gặp cây lớn. Nạn phá rừng làm nương rẫy cũng trực

tiếp làm thu hẹp vùng phân bố (Văn Bàn và Mường Khương - Lào Cai; Tràng Định

- Lạng Sơn).

Phân hạng: VU A1c,d

Biện pháp bảo vệ:

Loài đang được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “sẽ

nguy cấp” (Bậc V) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý

hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ

để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ các quần thể hiện có

trong các Vườn quốc gia (Ba Vì, Tam Đảo, Ba Bể, Cúc Phương). Chỉ nên khai thác

những cây lớn, có thân rễ (củ) khoảng 100 gam trở lên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 385.

4. SÂM CAU

Tên khoa học: Peliosanthes teta Andr. 1810.

Họ: Tóc tiên -Convallariaceae

Bộ: Măng tây -Asparagales

Đặc điểm nhận dạng:

Cỏ nhiều năm, thân rễ nằm ngang dưới đất, dài 2 - 10 cm, nhiều đốt. Lá 2 5, mọc tụm ở đầu thân rễ, cuống lá dài 15 - 30 cm; phiến lá hình mũi giáo, thn,

cỡ 25 - 35 x 2,5 - 5,5 cm. Cụm hoa chùm, dài 20 - 30 cm, có 10 - 20 hoa, ở phía

trên trục cụm hoa, trong mỗi lá bắc có 2 - 6 hoa. Hoa màu xanh nhạt, mép tím

hồng, đều, lưỡng tính. Bao hoa 6 mảnh, hình bánh xe, dính nhau ít nhiều ở phía

dưới, phía trên 6 thuỳ, xếp thành 2 vòng; có vòng tràng phụ. Nhị 6, đính ở mép

trong của có vòng tràng phụ, chỉ nhị gần như khơng có. Bầu trung, 3 ơ, mỗi ô 2 - 3

non. Quả mọng, màu đỏ tươi, hình trứng dài 0,8 - 1 cm, một số nứt ra trước khi quả

chín, hạt 2 hoặc ít hơn

Sinh học và sinh thái:

Mùa ra hoa tháng 1 - 11, quả tháng 7 - 12. Mọc tự nhiên nơi đất ẩm nhiều

mùn, râm mát, dưới rừng, trong rừng mưa mùa, rừng lá rộng thường xanh, hốc cây,

hốc đá.

Phân bố:

Trong nước: Lai Châu (Phong Thổ), Sơn La (Mộc Châu), Lạng Sơn, Quảng

Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Thanh Hoá, Lâm Đồng, Ninh Thuận.

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaixia.

Giá trị:

Thân rễ dùng làm thuốc có vị ngọt, tính mát, có tác dụng khử đờm chỉ khái,

thư can, chỉ thống dùng làm thuốc bổ, chữa ho, di tinh, đau ngực, ngực bị tổn

thương.



Tình trạng:

Là cây thuốc được nhân dân miền núi khai thác nhiều để làm thuốc sẽ dẫn

dến cạn kiệt, thêm nữa nạn phá rừng làm nương rẫy ở miền núi cho nên nơi cư trú

bị xâm hại và thu hẹp.

Phân hạng: VU A1c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Bảo vệ triệt để ở Vườn quốc gia Tam Đảo. Có biện pháp khai thác hợp lí,

đồng thời đưa vào trồng trọt để bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 387.

5. NẦN NGHỆ

Tên khoa học: Dioscorea collettii Hook. f. 1892.

Họ: Củ nâu - Dioscoreaceae

Bộ: Củ nâu - Dioscoreales

Đặc điểm nhận dạng:

Dây leo quấn, sống nhiều năm, dài 5 - 10 m. Thân rễ màu vàng, phân nhiều

nhánh ngắn tạo thành một khối có đường kính đạt tới 20 cm. Lá đơn, mọc cách;

phiến lá hình tim, cỡ 6 - 10 x 5 - 9 cm; có 7 gân, trong đó 3 gân gốc vươn tới chóp

lá; ở gốc cuống lá có 2 gai nhỏ cong (lá kèm biến dạng). Cụm hoa đực là những

xim dài 10 - 30 cm, mỗi xim có 3 - 4 hoa. Hoa đực không cuống; bao hoa gồm 6

mảnh dính nhau ở gốc, với 6 thuỳ hình tam giác ở đỉnh. Nhị hữu thụ 3 có chỉ nhị

chia đơi thành hình nạng và mỗi nhánh mang 1 bao phấn; nhị lép 3, hình dùi. Cụm

hoa cái hình chùm, dài 15 - 30 cm. Hoa cái có 2 lá bắc; bao hoa 6 thuỳ, khơng có

nhị lép; núm nhụy 3 thuỳ. Quả nang quặt lại, có 3 cánh, 3 ơ, mỗi ơ chứa 2 hạt. Hạt

có cánh tròn.

Sinh học và sinh thái:

Thân rễ nằm dưới đất, đến tháng 2 - 3 mới mọc thân khi sinh, tháng 5 - 6 ra

hoa và kết quả, cây tàn lụi vào tháng 11 - 12. Mọc rải rác ven rừng, trong rừng Tre

nứa, trảng cây bụi, ven suối, sườn núi.

Phân bố:

Trong nước: Sơn La (Mộc Châu).

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma.

Giá trị:

Trong thân rễ chứa diosgenin, là nguyên liệu bán tổng hợp thuốc chữa đau

khớp, đau lưng gối, viêm đường tiết niệu, bạch đới, giảm cholesteron, chữa rắn độc

cắn.

Tình trạng:

Phân bố rất hẹp, mọc rất rải rác, nơi sống bị xâm hại do tàn phá rừng.

Phân hạng: EN A1a,b,c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Loài đang được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "hiếm"

(Bậc R). Bảo vệ những cây còn sót lại ở Mộc Châu. Điều tra bổ sung về khu phân

bố và Tình trạng. Thu thập cây giống trồng bảo tồn tại các vườn thực vật.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 398.

6.NẦN ĐEN

Tên khoa học: Dioscorea membranacea Pierre ex Prain & Burk. 1914.



Họ: Củ nâu Dioscoreaceae

Bộ: Củ nâu Dioscoreales

Đặc điểm nhận dạng:

Thân rễ phân nhánh nhiều, đường kính có thể đạt tới 5 cm, thịt màu trắng

xanh, chứa nhiều nước, vỏ màu đen. Thân khí sinh quấn trái, có khía dọc. Lá mọc

so le, đơn nguyên hoặc 3 - 5 thuỳ; gốc cuống lá có 2 gai nhỏ cong. Hoa đơn tính,

khác gốc. Hoa đực có bao hoa hình ống, 6 thuỳ, 6 nhị. Hoa cái có bao hoa giống

hoa đực. Bầu dưới. Quả nang 3 cánh. Hạt có cánh tròn.

Sinh học và sinh thái:

Thân rễ dưới đất, tháng 2 - 3 mọc thân khí sinh, tháng 5 - 6 ra hoa kết quả,

tàn lụi vào tháng 10 - 11.

Phân bố:

Trong nước: Sơn La (Mộc Châu), Gia Lai (Krông Pa), Bà Rịa - Vũng Tàu

(núi Dinh), Kiên Giang (Hà Tiên).

Thế giới: Mianma, Thái Lan.

Giá trị:

Nguồn gen hiếm. Thân rễ có saponin, dùng để thuốc cá, độc.

Tình trạng:

Vùng phân bố hạn chế, nhưng nơi cư trú rất hẹp, số lượng ít, bị đe doạ do tác

động của môi trường.

Phân hạng: EN A1a, b.

Biện pháp bảo vệ:

Loài đang được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "hiếm"

(Bậc R). Khoanh vùng bảo vệ hoặc trồng trọt tại nguyên thổ.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 400.

7. NẦN GỪNG

Tên khoa học: Dioscorea dissmulans Prain & Burk. 1933.

Họ: Củ nâu Dioscoreaceae

Bộ: Củ nâu Dioscoreales

Đặc điểm nhận dạng:

Dây leo bằng thân quấn về bên trái; dài 1,5 - 3m; đường kính thân leo 0,25 0,35 cm. Thân rễ nạc, nằm ngang, phân nhánh, màu vàng nhạt. Rễ chùm nhiều,

cứng. Lá có cuống, mọc so le, cuống dài 2,5 - 4 cm, gốc cuống lá có 2 u nhỏ giống

như gai. Phiến lá gồm 3 lá chét, hình thn hay elíp nhọn đầu, 6 - 9 x 2 - 3 cm, lá

chét giữa lớn hơn 2 lá bên, gốc 2 lá chét bên gần tròn và hơi lệch; 5 gân chính, gân

phụ hơi rõ ở mặt dưới. Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa dạng bông, mọc ở kẽ lá.

Hoa đực không cuống, dạng chuông, trên miệng xẻ 6 răng; 6 nhị, dẹt. Hoa cái có

cuống ngắn, 2mm; lá bắc nhỏ; bao hoa 6 cánh; bầu 3 ngăn. Quả nang gồm 3 cánh,

dài 25 - 28mm; rộng 18m. Hạt hình ơ van, hơi dẹt, 5 x 8mm, có cánh mỏng.

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 6 - 7, quả tháng 7 - 9. Nhân giống tự nhiên chủ yếu từ hạt.

Phần thân leo lụi hàng năm vào mùa đông và mọc lại vào đầu năm sau. Cây ưa

sáng hoặc hơi chịu bóng. Thường leo lên cây bụi nhỏ hay cỏ ở ven rừng, nhất là

hành lang ven suối ở cửa rừng, hay bờ các nương rẫy, ở độ cao 400 - 600 m.

Phân bố:



Trong nước: Quảng Nam (Trà My: Trà Giác, Duy Xuyên), Quảng Ngãi,

Bình Định, Khánh Hồ (Khánh Sơn: Trung Hạp; Khánh Vĩnh).

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị:

Thân rễ có diosgenin, làm nguyên liệu bán tổng hợp thuốc chống viêm, hc

mơn sinh dục, thuốc tránh thụ thai... (chú ý độc khơng ăn được).

Tình trạng:

Mơi trường sống bị xâm hại do nạn phá rừng (Duy Xuyên - Quảng Nam)

hay mở rộng khu dân cư (thị trấn Trung Hạp, huyện Khánh Sơn - Khánh Hồ).

Diện tích nơi phân bố ước tính khơng q 2000km2.

Phân hạng: VU B1+2b,c

Biện pháp bảo vệ:

Cần có kế hoạch điều tra lại để khoanh vùng bảo vệ. Thu thập về nghiên cứu

trồng - bảo tồn ngoại vi (Ex situ).

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 399.

8. LAN KIM TUYẾN

Tên khoa học: Anoectochilus setaceus Blume, 1825.

Họ: Phong lan Orchidaceae

Bộ: Phong lan Orchidales

Đặc điểm nhận dạng:

Cây thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước và có

nhiều lơng mềm, mang 2 - 4 lá mọc xòe sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc,

chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3 - 4 x 2 - 3 cm, có màu khác nhau với mạng

gân thường nhạt hơn (màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu - đỏ

với mạng gân màu vàng - lục hay hồng); cuống lá dài 2 - 3 cm. Cụm hoa dài 10 15 cm, mang 4 - 10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, chóp thót nhọn đột ngột, dài

8 - 10 mm, màu hồng. Hoa thường màu trắng, dài 2,5 - 3 cm; các mảnh bao hoa dài

khoảng 6 mm; môi dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 - 8 dải hẹp, chóp phiến

rộng, chẻ hai sâu, hốc chứa mật dài 7 mm, bầu dài 1,3 cm, màu lục, có nhiều lơng

mềm.

Sinh học và sinh thái:

Mùa hoa tháng 2 - 4. Tái sinh bằng chồi từ thân rễ và hạt, ít và sinh trưởng

rất chậm. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh, hầu hết là nguyên thủy, rậm thường

xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên sườn núi đá granit, riôlit, phiến sét, ở độ

cao 500 - 1600 m, rải rác thành từng nhóm vài ba cây trên đất ẩm, rất giàu mùn và

lá cây rụng.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa: Phăng Xi Păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh

(Hương Sơn: Rào àn), Quảng Trị, Kontum (Đắk Glei: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi

Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Krông Bông: núi Chư Yang Sinh), Lâm Đồng (Lạc

Dương: núi Bì Đúp).

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào,

Campuchia, Malaixia, Inđơnêxia.

Giá trị:

Cây có giá trị về mặt bảo tồn lồi



Tình trạng:

Lồi có khu phân bố rộng nhưng với số lượng cá thể không nhiều, tái sinh

chậm và đòi hỏi điều kiện sống ngặt nghèo ngày càng hiếm. Đã bị khai thác liên

tục trong nhiều năm, hiện đã trở nên giảm sút rõ rệt, có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Phân hạng: EN A1a,c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Lồi có trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm

(nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ

để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Cần bảo tồn các phần

quần thể nhỏ còn sót lại ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Bên cạnh

đó cần nghiên cứu nhân giống để gieo trồng tạo hàng hóa xuất khẩu đồng thời bảo

vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 409.

9. KIM CANG NHIỀU TÁN

Tên khoa học: Smilax elegantissima Gagnep. 1934.

Họ: Khúc khắc -Smilacaceae

Bộ: Khúc khắc -Smilacales

Đặc điểm nhận dạng:

Dây leo, dài 4 - 5 m. Thân, cành hình vng, rộng 0,4 - 0,7 cm, lóng dài 7 12 cm, cạnh có cánh rộng 1 mm. Lá mọc cách, phiến lá hình thn - trứng, cỡ 10 32 x 3 - 17 cm, chóp nhọn thành mũi, gốc tròn hoặc tim nơng; cuống lá dài 3 - 4

cm, tua cuốn dài 15 - 30 cm. Hoa đơn tính, khác gốc. Cụm hoa dạng bơng tán, dài

20 - 40 cm, nhiều nhánh, gồm nhiều tán. Cụm hoa tán đực có 25 - 40 hoa. Cụm hoa

tán cái có 16 - 25 hoa. Hoa đực: bao hoa 6 mảnh, rời nhau, xếp 2 vòng; nhị 6, rời

nhau. Hoa cái: bao hoa 6 mảnh, màu đỏ đậm, xếp 2 vòng; nhị lép 3. Bầu thượng,

hình trứng, dài 3,5 mm; vòi nhuỵ gần như khơng có; đầu nhuỵ 3, cong ra ngoài.

Quả chưa thấy.

Sinh học và sinh thái:

Mùa ra hoa tháng 5 - 7, quả tháng 8 - 11. Mọc ven rừng cây bụi, rừng lá rộng

thường xanh, rừng mưa mùa, rừng thứ sinh, rừng nhiệt đới, á nhiệt đới, khe núi,

thung lũng, rừng họ Dẻ (Fagaceae), sườn đồi, sườn núi.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa), Ninh Bình (Cúc Phương), Khánh Hồ (Hòn

Bà).

Thế giới: Trung Quốc (Vân Nam).

Giá trị:

Nguồn gen hiếm.

Tình trạng:

Lồi có khu phân bố bị thu hẹp do nạn chặt phá rừng.

Phân hạng: VU B1 + 2b, c.

Biện pháp bảo vệ:

Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "hiếm"

(Bậc R). Đề nghị đưa vào trồng để bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 479.

10. HÀ THỦ Ô ĐỎ



Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson, 1978

Họ: Rau răm -Polygonaceae

Bộ: Rau răm -Polygonales

Đặc điểm nhận dạng:

Cỏ nhiều năm, thân leo quấn, dài 2 - 4 m, phân cành nhiều. Rễ phình to

thành dạng củ, vỏ màu nâu đen. Lá có cuống dài 2 - 4 cm, mọc cách, phiến lá hình

trứng, cỡ 3 - 7 x 2 - 5 cm, mép ngun, chóp nhọn, gốc hình tim. Bẹ chìa mỏng,

dài 3 - 5 mm. Cụm hoa dạng chuỳ, dài 20 - 40 cm, mọc ở đỉnh cành hoặc nách lá,

hoa nhiều. Hoa đều, lưỡng tính, màu trắng hoặc lục nhạt. Bao hoa 5 mảnh, không

bằng nhau, 3 mảnh phía ngồi to hơn và đồng trưởng cùng với quả. Nhị 8, ngắn

hơn bao hoa. Bầu thượng, hình trứng; vòi nhuỵ 3. Quả bế, màu nâu đen, hình chóp,

3 cạnh.

Sinh học và sinh thái:

Mùa ra hoa tháng 7 - 10, quả tháng 9 - 12. Mọc nơi ẩm,nhiều mùn, vùng

rừng núi đá vôi, ở độ cao 800 – 1600 m. Còn được trồng trong các vườn thuốc. Có

thể trồng bằng củ và dây.

Phân bố:

Trong nước: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, Thanh Hoá,

Nghệ An, Hà Tĩnh.

Thế giới: Trung Quốc, Nhật Bản.

Giá trị:

Rễ củ dùng làm thuốc có tác dụng bổ gan, thận, an thần chữa suy thận, thiểu

năng gan, thiếu máu, di mộng tinh, bạch đới, suy nhược thần kinh.

Tình trạng:

Tuy có khu phân bố rộng nhưng là cây thuốc quan trọng nên đã bị khai thác

liên tục trong nhiều năm nay hiện đã trở nên hiếm dần. Ngồi ra, mơi trường sống

bị thu hẹp do nạn phá rừng.

Phân hạng: VU A1c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "sẽ nguy

cấp" (Bậc V). Đề nghị có biện pháp khai thác hợp lí, đồng thời gây trồng để bảo vệ

nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 304.



PHẦN III

HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

CÂY GIẢO CỔ LAM (DẦN TÒONG)

1.Giới thiệu:

- Tên thường gọi: Giảo cổ lam

- Tên khoa học: Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino, 1902..



- Họ: Bầu bí - Cucurbitaceae

- Bộ: Bầu bí - Cucurbitales

- Tên khác: Cây Vạn trà, cây trường sinh, cây cỏ thần kỳ, sâm phương nam,

ngũ diệp sâm, mướp đắng rừng, cây Bố đắng, Dền tòng ( tiếng Thái).

Đặc điểm nhận dạng:

Cây dây leo, dài 80 - 120 cm, có tua cuốn, sống hằng năm. Lá mọc cách,

cuống lá dài 3 - 4 cm, lá kép chân vịt dạng pêđal, gồm 5 - 7 lá chét; phiến lá chét

cỡ 3 - 9 x 1,5 - 3 cm, mép lá có răng cưa. Cụm hoa dạng chuỳ thòng. Hoa nhỏ, mẫu

5, đơn tính khác gốc. ống bao hoa rất ngắn; cánh hoa rời nhau, dài 2,5 mm. Nhị 5,

bao phấn dính thành đĩa. Bầu có 3 vòi nhụy. Quả khơ, tròn, đường kính 5 - 9 mm,

màu đen. Hạt 2 - 3, treo.

Sinh học, sinh thái:

Mùa hoa tháng 7 - 8, có quả tháng 9 - 10. Mọc rải rác ở vùng núi đá vôi hoặc

trên đất núi lửa, ở độ cao đến 2000 m. Tái sinh bằng thân và hạt.

Phân bố:

Trong nước: Lào Cai (Sapa), Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh

(Móng Cái), Hồ Bình, Thừa Thiên - Huế, Kontum, Gia Lai.

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Malaixia, Philippin,

Inđơnêxia.

Giá trị:

Tồn cây băm nhỏ, phơi khơ, nấu nước uống, có tác dụng bổ dưỡng, cường

tráng; dùng làm thuốc chữa viêm khí quản, viêm gan, viêm thận, loét dạ dày và

hành tá tràng, giải độc, chữa ho và long đờm, chống bệnh béo phì.

Tình trạng:

Khu phân bố bị chia cắt (chủ yếu mọc trên núi đá vôi); thường xuyên bị khai

thác (cắt toàn dây) tràn lan và quá mức (nhất là ở Cao Bằng, Lạng Sơn) để lấy

nguyên liệu làm thuốc và bán qua biên giới Trung Quốc.

Phân hạng: EN A1a,c,d.

Biện pháp bảo vệ:

Hạn chế việc khai thác kiểu diệt nguồn giống; nên tổ chức thu hạt gieo trồng

ở vùng núi đá vôi để tạo nguồn nguyên liệu dùng trong nước và xuất khẩu.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2007 – Phần thực vật – Trang 164.

Những năm trước đây, loài cây này mọc nhiều, nhưng do nhu cầu tiêu thụ

Giảo cổ lam lớn nên tình trạng người dân khai thác ồ ạt, khơng có ý thức bảo tồn

khiến lồi cây này đang có nguy cơ cạn kiệt. Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển lồi

cây này khơng chỉ giúp nhân dân cải thiện thu nhập mà còn góp phần bảo vệ nguồn

gen quý của thiên nhiên.

2. Công dụng và giá trị kinh tế.

2.1 Cơng dụng:

Giảo cổ lam có tác dụng điều chỉnh các rối loạn tiêu hóa cơ thể như mỡ máu,

đường huyết, huyết áp, tim mạch thành phần giảo cổ lam có nhiều Saponin giống

nhân sâm chống lại sự lão hóa và ngăn ngừa bệnh tật, làm tăng tính thích nghi của

cơ thể, nâng cao miễn dịch, giải độc mạnh. Ngồi ra giảo cổ lam có tác dụng tăng



cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của khối u. Giúp giấc

ngủ sâu, tăng cường máu lên não, ngăn ngừa chứng lú lẫn ở người già và có khả

năng chống ung thư. Các chế phẩm từ cây giảo cổ lam đã được dùng cho các vận

động viên làm tăng sức bền và khả năng vận động, dùng thường xuyên giúp mạnh

khỏe trẻ lâu.

2.2. Giá trị kinh tế.

Các sản phẩm từ cây giảo cổ lam trồng ở Việt Nam không những được tiêu

dùng nhiều trong nước mà còn mở ra triển vọng xuất khẩu tốt, nhất là các quốc gia

phát triển, nơi có tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường cao. Chính vì vậy giảo cổ lam trở thành

cây dược liệu có hiệu quả kinh tế cao, đem lại thu nhập cho người dân. Giá một

cân giảo cổ lam khô năm 2016 dao động từ 200.000 – 300.000đ/kg.

3. Đặc điểm hình thái



Giảo cổ lam có đến 10 loại những năm gần đây các nhà khoa học nghiên cứu

khai thác được 3 loại chính có mặt tại Việt Nam. Trong đó có 2 loại 5 lá và loại 7

lá có giá trị tốt.

Giảo cổ lam là loại cây thân thảo, có tua cuốn đơn để leo, thuộc loại hoa đơn

tính khác gốc. Lá của loại thảo mộc này có hình dáng giống lá kép hình chân vịt.

Mỗi cụm hoa mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, ở bầu có 3 vòi nhụy. Quả giảo cổ

lam có hình cầu, đường kính từ 5 – 9mm, khi chín có màu đen.

Phân biệt giữa cây Giảo cổ lam thật với cây khác

Trong các nghiên cứu khoa học, Giảo cổ lam có tên khoa học là

Gynostemma pentaphyllum có 5 lá chét (pentaphylla theo tiếng La tinh có

nghĩa là 5 lá), khác với các lồi cùng chi như cây G. laxum có 3 lá chét hay

cây G. pubescens có 7 lá chét (xem ảnh bên dưới). Cây Giảo cổ lam là cây leo

bằng tua cuốn mọc ở nách lá, đây là đặc điểm của họ bầu bí (Curcubitaceae)

phân biệt với các cây họ Nho (Vitaceae) leo bằng tua cuốn mọc đối diện với

lá. Đặc biệt, cây Giảo cổ lam khi thử nhấm một chút thân hoặc lá ở đầu lưỡi

sẽ có vị đắng sau chuyển sang vị ngọt, mát do có thành phần chính là saponin

tương tự như trong Nhân sâm. Giảo cổ lam khi phơi khơ hoặc sao lên thì rất

thơm và có mùi đặc trưng. Cũng cần lưu ý cây này chưa thấy mọc dưới đồng

bằng, chỉ mọc trên núi đá vơi. Tuy nhiên hiện nay có thể trồng được ở nhà

nhưng phải trong chỗ râm mát.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều 73. Tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x