Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

Tải bản đầy đủ - 0trang

cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các

chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức.

Còn theo I.F.Kharlamop: TTC trong học tập có nghĩa là hồn thành một

cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có mục đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào

hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ

xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn của HS là trạng thái hoạt động của

HS đặc trưng bởi khát vọng học tập – huy động trí tuệ và nghị lực trong q trình

nắm kiến thức.

Vậy ta có thể hiểu TTC trong học tập là sự tự giác, ý thức trong việc học

được thể hiện qua khát vọng hăng say học tập và khả năng độc lập trong tư duy,

trong hoạt động. Kết quả học tập của HS phụ thuộc nhiều vào TTC của hoạt động

nhận thức. Vì vậy để phát huy tính tích cực của HS, GV cần phải có PPDH học

phù hợp, giúp các em tìm thấy sự say mê, hứng thú trong học tập.

1.1.2. Biểu hiện của tính tích cực trong học tập

TTC trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng cho khát vọng

học tập, trí tuệ và nghị lực cao trên hành trình chiếm lĩnh tri thức. TTC của HS có

cả mặt tự giác và tự phát. Mặt tự giác của TTC thể hiện trạng thái tâm lí có mục

đích, đối tượng rõ ràng, do đó các hoạt động nảy sinh đều nhằm chiếm lĩnh đối

tượng đó. Còn đối với những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh bên trong thì đơi khi TTC

được tự phát từ tính tò mò, hiếu kì và sơi nổi ở từng mức độ khác nhau.

Không những vậy, TTC còn được thể hiện trong các hoạt động trí tuệ và

kết quả học tập: HS có nhớ tốt những điều đã học khơng? Có hiểu bài học khơng?

Có thể trình bày lại nội dung bài học theo cách riêng không? Có vận dụng được

các kiến thức đã học vào thực tiễn khơng? Tốc độ học tập có nhanh khơng?

Có nhiều trường hợp TTC trong học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ

bắp nhưng quan trọng hơn hết là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình

thức biểu hiện này thường đi liền với nhau.

Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu

hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc

nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi



8



tìm ra lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng

cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên.

Bên cạnh đó kết quả học tập cũng là một dấu hiệu quan trọng và có tính

chất khái qt của TTC nhận thức. Chỉ có TTC nhận thức một cách thường

xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả nhận thức tốt .

1.1.3. Những yếu tớ ảnh hưởng đến tính tích cực

TTC trong học tập của HS tuy nảy sinh trong q trình học tập nhưng nó

lại là kết quả của nhiều nguyên nhân. Có những nguyên nhân chỉ tự phát trong

q trình học tập, nhưng cũng có những ngun nhân đã được hình thành lâu dài

trong nhân cách. Nhìn chung TTC phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

- Bản thân HS:

+ Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo...)

+ Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự

trải nghiệm cuộc sống...)

+ Tình trạng sức khỏe

+ Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí...)

+ Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, khơng khí đạo đức)

+ Mơi trường tự nhiên, xã hội

- Nhà trường:

+ Chất lượng quá trình dạy học, GD (nội dung, phương pháp, phương

tiện, hình thức kiểm tra đánh giá...).

+ Quan hệ thầy trò

+ Khơng khí đạo đức nhà trường

- Gia đình

- Xã hội

Từ đó, việc phát huy TTC của HS đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và tồn

diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội.

1.1.4. Những biện pháp huy tính tích cực của HS trong học tập

Muốn cho HS cố gắng, đem hết sức mình để học tập, cần tạo ra ở họ hứng

thú và động cơ học tập. Những yếu tố này có thể xuất phát từ những ngun nhân

bên ngồi của quá trình học tập như: nhu cầu xã hội đòi hỏi phải hoạt động có

hiệu quả trong lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội, quyền lợi của xã hội dành

cho người có trình độ học vấn cao, khả năng có được một cơng việc ổn định cao



9



hơn nếu học giỏi, sự ngưỡng mộ của mọi người, vinh dự cho gia đình... Có

những ngun nhân bên trong xuất hiện trong quá trình học tập, tác động thường

xuyên đến HS đó là mâu thẫu nhận thức, là khó khăn, trở ngại của HS cần có một

sự cố gắng vươn lên, tự hồn thiện bản thân mình. Những yếu tố đó kích thích

tình tò mò vốn có ở lứa tuổi HS, muốn đáp ứng nhu cầu hoạt động của lứa tuổi,

đem lại niềm vinh dự, tự hào nếu giải quyết thành cơng những trở ngại. Hoạt

động càng có kết quả thì động cơ càng được củng cố.

Thơng qua nghiên cứu, các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận

thức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh và tổng hợp, có thể tóm tắt như sau:

- Nội dung dạy học phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS. Cái mới

phải liên hệ, phát triển từ cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai. Kiến

thức phải có tính thực tiễn, gần gũi, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận

thức của HS.

- GV nên sử dụng các PPDH đa dạng: nêu vấn đề, TN, tổ chức thảo luận

và phối hợp chúng với nhau. Trong q trình dạy học để kích thích được sự hứng

thú của HS, phát huy TTC của HS, GV cần phải lựa chọn, tìm tòi những PPDH

phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất.

- Chế biến mỗi bài học, mỗi sự kiện thành một tình huống để HS tham gia

giải quyết, khơng biến bài học lý thuyết thành một chuỗi câu thuyết giảng, trừu

tượng. Đặc biệt cần phải chú ý đến việc tạo tình huống có vần đề để khởi động tư

duy, tạo hứng thú học tập cho HS.

- GV cần sử dụng các phương tiện dạy học: mơ hình, sơ đồ, thí nghiệm,

multimedia… Việc sử dụng các thiết bị DH, phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ góp

phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, tạo trực quan sinh động cho HS,

kích thích hứng thú của HS, phát huy TTC của HS trong học tập.

- GV sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, dạy học

theo nhóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm TN, thực hành trong phòng thí

nghiệm… tránh sự nhàm chán cho người học.

- GV cần tổ chức cho HS luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

trong các tình huống mới hoặc trong thực tế cuộc sống. Không những vậy mà GV

cũng cần phải thường xuyên tổ chức cho HS luyện tập dưới nhiều hình thức khác

10



nhau, góp phần củng cố kiến thức cho HS, tăng cường vận dụng các kiến thức đã

học vào các tình huống nhận thức mới.

- GV thường xun biểu dương những HS có thành tích học tập tốt, động

viên khen thưởng kịp thời những HS có thành tích học tập tốt, khuyến khích sự

tham gia các hoạt động học tập của HS và kỉ luật đúng lúc, đúng mức đối với

từng HS vi phạm.

- GV tăng cường kiểm tra, đánh giá và từng bước đổi mới phương pháp

kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.

- GV có thể kích thích TTC của HS thông qua thái độ, cách ứng xử giữa

GV và HS.

- GV nên phát triển kinh nghiệm sống cho HS trong học tập qua các

phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.

- GV cần tạo và duy trì khơng khí lớp học cởi mở giữa thầy và trò, giữa

các HS , trong trường, cần có thái độ thân thiện với HS.

Trong công tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận

thức của HS còn đề ra một số hướng cơ bản sau:

- Nghiên cứu phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức sáng

tạo chứ không dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay.

- Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí

tuệ, tâm hồn và ý chí. Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm...) là

điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức.

- Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thầy giáo, các nhà quản

lí, phụ huynh HS để động viên, khích lệ các em HS.

1.2. Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập

1.2.1. Khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo

1.2.1.1. Khái niệm sáng tạo

Khái niệm ST đã được định nghĩa ở những cấp độ, mức độ và góc độ khác

nhau bởi các nhà chuyên môn của nhân loại.

Theo Phan Dũng: “sáng tạo nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,

khơng bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn.”[1]

Theo từ điển Tiếng Việt thơng dụng thì: “sáng tạo là nghĩ ra và làm ra

những giá trị vật chất hoặc tinh thần.”



11



Mặc dù, có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất, nguồn gốc của ST nhưng

vì nó rất cần cho cuộc sống nên các nhà tâm lí học đã tìm cách đo lường, đánh

giá khả năng ST của mỗi cá nhân. Người ta đưa ra một tình huống với một số

điều kiện, xuất phát từ yêu cầu đó đề xuất càng nhiều phương pháp càng tốt,

trong thời gian càng ngắn càng hay. Việc đánh giá được căn cứ vào số lượng, tính

mới mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất. Những nghiên cứu theo

hướng như vậy cùng với thực nghiệm khác đã cho biết:

- ST là một tiềm năng vốn có trong mỗi con người, khi gặp một trường

hợp nào đó thì sẽ bộc lộ.

- Mỗi người thường có thói quen ST trong một vài lĩnh vực nào đó và có

thể luyện tập để có thể phát huy khả năng của mình.

Như vậy, ST trước hết là kết quả của sự lao động bền bỉ, có cảm hứng.

Khơng có lao động, khơng có q trình nhận thức để tích lũy các dữ kiện thì

khơng thể có ST và nó cần cho bất cứ lĩnh vực nào trong hoạt động xã hội loài

người và cho mọi người. Bởi vì trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường gặp

rất nhiều tính huống nảy sinh cần phải giải quyết, nhưng giải quyết như thế nào

để nhanh nhất và đạt kết quả tốt nhất mới là quan trọng. Từ thực tế cuộc sống

chúng ta cũng đã nhìn thấy rõ rằng: ST đem lại cho mỗi người cũng như cộng

đồng lợi ích khá to lớn. Cũng chính vì vậy mà tài liệu khoa học quốc tế cho biết:

“Tương lai của cả thế giới phần lớn tùy thuộc vào chất lượng của tư tưởng và cả

ý tưởng sáng tạo do nhân loại khám phá và đề nghị trong tất cả với mọi lĩnh vực

cuộc sống”.

1.2.1.2. Năng lực sáng tạo

NLST là khả năng tạo ra cái mới đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của cuộc

sống mà bằng những kinh nghiệm, những cái đã biết khơng thể giải quyết được.

Nói cách khác, NLST thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra.

NLST thường biểu hiện qua những đặc trưng sau:

- Tự nhận thấy vấn đề nảy sinh trong những điều kiện quen biết, “đúng

cách” .



12



- Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng nghiên cứu như các bộ phận, các yếu tố

và các mối quan hệ giữa chúng.

- Biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống. Khả

năng huy động các kiến thức cần thiết đưa ra giả thuyết hay các dự đốn khác

nhau khi phải lí giải một hiện tượng.

- Xác nhận bằng lý thuyết và thực hành các giả thuyết hoặc phủ nhận nó;

đồng thời biết đề xuất các phương án kiểm tra giả thuyết.

- Có cách nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét

đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đơi khi mâu thuẫn nhau.

- Kỹ năng biết phối hợp các phương thức giải quyết vấn đề đã biết thành

một phương thức mới.

- Tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác

nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau.

- Biết kiểm tra, đánh giá hiệu quả cách giải quyết vấn đề của bản thân và

của người khác.

- Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng

cho phù hợp với điều kiện thực tiễn

- Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của bản thân, không

nản chí trước một vấn đề khó.

1.2.2. Biểu hiện của năng lực sáng tạo trong học tập

Trong quá trình học tập của HS, ST là cấp độ cao nhất trong bốn cấp độ

nhận thức: biết, hiểu, vận dụng và sáng tạo. Tuy nhiên ngay từ buổi đầu đến lớp

mỗi HS đã có thể có những biểu hiện NLST của mình. Những biểu hiện đó cụ thể

như:

- Biết trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện vấn đề mấu

chốt, tìm ra ẩn ý trong những câu hỏi, bài tập.

- Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, giải quyết đúng với những bài tập

mới.

- Biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phán đốn, đưa ra

kết luận chính xác, ngắn gọn nhất.



13



- Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phương án giải quyết.

- Biết học thầy, học bạn, biết kết hợp với các phương tiện thông tin khoa

học kĩ thuật hiện đại trong khi tự học, vận dụng được và cải tiến những điều đã

được học.

- Có năng lực liên tưởng - tưởng tượng.

Những biểu hiện trên có điểm chung là không thể lĩnh hội sáng tạo nhờ

thu nhận thông tin truyền miệng hay xem biểu diễn phương thức hành động. Đối

với quy trình ST khơng thể lập được thuật tốn, khơng thể xây dựng hệ thống

hành động để HS xem và để sáng tạo HS bắt buộc phải hoạt động. Tuy nhiên,

những biểu hiện này có được thể hiện hay khơng, nhiều hay ít còn tùy thuộc vào

các kiểm tra- đánh giá của GV.

1.2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo

Theo tác giả Đức Uy, động lực ST là khuynh hướng con người muốn thể

hiện chính mình muốn trở thành tiềm năng của mình.

+ Những điều kiện nội tâm cho sự sáng tạo là:

- Sự cởi mở đón nhận kinh nghiệm (có nghĩa là sự uyển chuyển và dễ

dàng qua lại giữa những quan điểm, niềm tin, nhận định, giả thuyết)

- Khả năng lượng giá từ bên trong (giá trị của sản phẩm sáng tạo khơng

chỉ vì sự khen ngợi của những người bên ngồi mà bởi chính người sáng tạo)

- Khả năng đùa giỡn với những yếu tố và những quan điểm (tung ném

những yếu tố vào những vị trí xem như khơng thể có được, hình thành những giả

thiết hoang dại)

+ Những điều kiện về mặt tâm lí ni dưỡng sự sáng tạo là:

- Có kiến thức vững chắc

- Hứng thú nảy sinh sáng tạo, sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú

- Chấp nhận cá nhân như một giá trị vô điều kiện

- Tạo ra bầu khơng khí vắng mặt sự đánh giá từ bên ngồi

- Sự cảm thơng và hiểu biết triệt để cá nhân sáng tạo, tạo sự tự do tâm lí

cho cá nhân sáng tạo.



14



- Có tính “nghi ngờ khoa học”: cách làm này hay phương án này có tối ưu

chưa ? Có cách giải quyết nào khác hay khơng ?

- Khả năng tư duy độc lập, tự xác định phương hướng hoạt động của mình

trong tình huống mới, tự phát hiện, tự tìm ra con đường giải quyết vấn đề

Vai trò của trực giác và tưởng tượng trong sáng tạo là rất quan trọng. Theo

Lui do Broile: “Nhờ có bước nhảy vọt phi lí, ta có thể bẻ gãy cái vòng cứng nhắc

mà trong đó lối suy luận diễn dịch vẫn giam hãm chúng ta, phép quy nạp dựa trên

tưởng tượng và trực giác cho phép ta thực hiện những chinh phục vĩ đại của tư

duy, nó là cơ sở của những thành tựu thực sự của khoa học”

1.2.4. Các biện pháp hình thành và phát triển NLST của HS trong học tập

Sáng tạo không phải là sản phẩm đồng đều, đại trà của hoạt động DH.

Mức độ ST quy định bởi nhiều phẩm chất, đặc điểm tâm sinh lí của cá nhân. Một

số biện pháp chính trong DHVL nhằm phát triển tư duy sáng tạo của HS:

- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức

mới.

- Cho HS luyện tập sáng tạo trong những giai đoạn của tiến trình xây dựng

kiến thức Vật lý.

- Tạo điều kiện thuận lợi để HS hoạt động nhiều hơn

- Làm cho HS hứng thú, yêu thích mơn học

1.3. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo

Muốn phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS thì người GV phải có PPDH

phù hợp. Không thể dạy theo cách thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”,

GV làm trung tâm mà phải lấy HS làm trung tâm. Chúng ta cần chú ý đến đặc

điểm tâm sinh lí lứa tuổi, trình độ tư duy của của người học. Trong dạy học

khơng nên ép buộc, gò bó lối suy nghĩ chung cho mọi HS.

Trong q trình dạy học, người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt

động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thơng qua đó tự lực khám phá, tìm tòi

kiến thức không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của GV. Người học được

hoạt động, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề,

vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng nhận thức, khả năng ST



15



của mỗi cá nhân. Để làm được như vậy, người GV cần thực hiện một số biện

pháp như sau:

- Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho HS hứng thú và nhu cầu học tập, giúp HS

thấy đó như là một trong các nhu cầu cần thiết của bản thân.

- Biện pháp 2: Hướng dẫn và tập luyện cho HS khả năng vận dụng các

kiến thức, kỹ năng vào giải quyết tình huống, đặc biệt là những tình huống mới.

- Biện pháp 3: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích nội dung, cách

giải để từ đó tìm ra các cách giải quyết khác nhau và biết nhận xét, đánh giá để

chỉ ra được cách giải quyết hay nhất.

- Biện pháp 4: Hướng dẫn và tập cho HS cách nhìn nhận tình huống học

tập dưới các khía cạnh khác nhau để từ đó lựa chọn cách giải quyết thích hợp.

- Biện pháp 5: Hướng dẫn và tập luyện cho HS phân tích, phát hiện, đề

xuất tình huống mới từ tình huống đã cho.

- Biện pháp 6: Hướng dẫn HS phân tích các yếu tố của tình huống để chỉ

ra cách giải quyết độc đáo, sáng tạo đối với tình huống đề ra.

Như vậy, giữa tích cực và sáng tạo trong học tập có quan hệ chặt chẽ với

nhau. Tích cực học tập được biểu hiện ở sự hăng hái, chủ động, tự giác tham gia

các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên

những cái đã biết. Tích cực gắn liền với chủ động, với hứng thú và phương thức

tự phát triển để làm biến đổi nhận thức. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc

lập và đó chính là mầm mống của sáng tạo và ngược lại.

1.4. Thí nghiệm Vật lý

1.4.1. Khái niệm TNVL

“Thí nghiệm Vật lý là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người

vào các đối tượng của hiện thực khách quan. Thơng qua sự phân tích các điều

kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động, ta có thể thu được tri thức mới.”[3]

1.4.2. Đặc điểm của TNVL

- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và thiết lập có chủ định sao

cho thơng qua TN có thể trả lời được các yêu cầu đặt ra, đồng thời cũng có thể

kiểm tra được các giả thuyết hoặc hệ quả được suy ra từ lý thuyết. Bên cạnh đó,



16



các điều kiện của TN có thể kiểm sốt, biến đổi được để có thể nghiên cứu sự

phụ thuộc giữa các đại lượng.

- Đặc điểm quan trọng nhất là tính có thể quan sát được các biến đổi của

đại lượng nào đó, do sự biến đổi của đại lượng khác. Điều này đạt được nhờ các

giác quan của con người và sự hỗ trợ của phương tiện quan sát, đo đạc.

- Có thể lặp lại được TN. Điều này có nghĩa là: với các thiết bị TN, các

điều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quá

trình VL phải diễn ra trong TN giống như các TN trước đó.

1.4.3. Vai trò của TNVL trong dạy học Vật lý

1.4.3.1. Vai trò của TN theo quan điểm lý luận nhận thức

- TN là phương tiện thu nhận tri thức, thơng qua TN con người có thể thu

nhận được những tri thức khoa học cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bản

thân để có thể tác động và cải tạo thực tiễn.

- TN là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của những tri thức đã thu nhận.

- TN là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn.

- TN là một bộ phận của các phương pháp nhận thức. TN ln đóng một vai

trò rất quan trọng trong các phương pháp nhận thức khoa học.

1.4.3.2. Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm lý luận dạy học

Trong DH Vật lý, TN đóng vai trò cực kì quan trọng, dưới quan điểm lý

luận DH vai trò đó được thể hiện như sau:

- TN là phương tiện kích thích hứng thú học tập, tổ chức q trình học tập

tích cực và sáng tạo của HS.

- TN là phương tiện góp phần quan trọng vào việc GD kĩ thuật tổng hợp

cho HS.

- TN là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động và bồi dưỡng các

phẩm chất đạo đức của HS.

- TN góp phần làm đơn giản hóa các hiện tượng và các q trình.

- TN làm bộc lộ quan niệm sai lệch của HS, kiểm chứng kiến thức đã được

học đồng thời có thể tiếp thu nhiều kiến thức mới.

1.5. Phân loại thí nghiệm



17

Hình 1.1 : Sơ đờ phân loại thí



1.5.1. Thí nghiệm biểu diễn

- Khái niệm: TN biểu diễn là TN do GV tiến hành trên lớp, trong các giờ

học nghiên cứu kiến thức mới và các giờ ôn tập, củng cố kiến thức, kỹ năng của

HS. [3]

- Thí nghiệm biểu diễn có thể phân ra thành 3 loại.

+ Thí nghiệm mở đầu: TN nhằm tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thú

học tập cho HS. TN mở đầu đòi hỏi phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.

+ Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng: nhằm mục đích xây dựng hoặc kiểm

chứng kiến thức mới, nên được sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới. Thí

nghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:

 TN khảo sát: TN nhằm thu thập số liệu thực nghiệm, trên cơ sở đó khái

quát hóa, quy nạp nhằm rút ra kiến thức mới.

 TN minh họa: TN kiểm chứng lại kiến thức đã được xây dựng bằng con

đường lý thuyết dựa trên những phép suy luận logic chặt chẽ.

+ Thí nghiệm cũng cố: những TN dùng để củng cố bài học. Cũng như TN

mở đầu, TN củng cố cũng phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay.

- Yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm biểu diễn:

+ TN phải xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH và cho kết quả hợp lí,

phù hợp với mục đích dạy học, khơng gượng ép.

+ TN biểu diễn phải ngắn gọn.

+ TN phải đủ sức thuyết phục.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×