Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I: MỞ ĐẦU

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

cần thiết. Do bài học nhiều kiến thức, thiếu thời gian nên GV ngại TN; số lượng

thiết bị không đủ nên HS chỉ được quan sát trong khi sĩ số HS quá đông làm khả

năng quan sát bị hạn chế. Cũng có thể do thiết bị TN được cung cấp nhiều nhưng

không đồng bộ, các thiết kém chất lượng dễ bị hư hỏng trong vận chuyển, bảo

quản mà khơng có các thiết bị dự trữ để thay thế nên khi tiến hành TN thường

cho kết quả khơng chính xác. Để khắc phục thực trạng đó nhiều GV đã tự thiết kế

và chế tạo một số thiết bị TNVL nhằm phục vụ tiết dạy, khiến giờ học trở nên

sinh động, quan trọng hơn đó là giúp HS có thể kiểm nghiệm lại và khắc sâu

những kiến thức đã học. Đó có thể là những TN rất đơn giản từ những vật liệu

gần gũi trong cuộc sống hằng ngày và được vận dụng rất nhiều thực tế nhưng

cũng không kém phần thuyết phục. Khơng những vậy, GV có thể đưa ra u cầu

về thí nghiệm tự tạo như một bài tập về nhà cho các nhóm hay cá nhân từng HS,

bắt buộc hoàn thành và sẽ giới thiệu thành phẩm vào một tiết học sau đó, điều

này là một tín hiệu rất tốt đối với việc phát triển tư duy, tính tích cực và sáng tạo,

đặc biệt hơn là rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp của HS…

Chính những ưu điểm của việc sử dụng TN nói chung và thí nghiệm tự tạo

trong dạy học VL nói riêng mà trong quá trình học tập và rèn luyện ở mái trường

Đại học Quảng Nam, những sinh viên sư phạm chun ngành VL như tơi đã tìm

tòi, nghiên cứu, thiết kế và chế tạo những dụng cụ TN đơn giản, rẻ tiền để sử

dụng trong quá trình dạy học VL ở trường THPT nhằm rèn luyện và trao dồi kiến

thức, kỹ năng sử dụng TN trong dạy học VL của bản thân.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài "Thiết kế, chế

tạo và sử dụng mợt sớ thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng

phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS" làm khố luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu của đề tài

Làm rõ cơ sở lý luận và vai trò của việc sử dụng TN trong dạy học VL.

Đề xuất được phương án thiết kế và chế tạo một số TNTT trong dạy học

VL ở THPT.

Thiết kế giáo án một số bài học cụ thể có sử dụng các TNTT được vào

trong giảng dạy để đánh giá hiệu quả của các sản phẩm tự tạo.



4



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TN nói chung và TNTT nói

riêng trong dạy học VL.

Quy trình thiết kế và chế tạo một số TN đơn giản trong chương trình VL

phổ thơng.

Q trình dạy học có sử dụng TNTT tại trường THPT Trần Cao Vân, TP

Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Luật GD, các chỉ thị của Bộ Giáo Dục

và Đào Tạo về đổi mới giáo dục phổ thông.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng TNTT vào việc

dạy học VL ở trường THPT.

- Nghiên cứu nội dung, chương trình VL phổ thơng.

4.2. Phương pháp thí nghiệm

- Tiến hành nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và sử dụng TN

4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành triển khai giảng dạy có sử dụng TNTT tại trường THPT để

kiểm định đánh giá kết quả.

- Điều tra, quan sát.

4.4. Phương pháp thống kê toán học

Dựa vào số liệu thu thập được sử dụng phương pháp thống kê thơng dụng

để phân tích, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm cả về mặt định tính và định

lượng.

5. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Liên quan đến vấn đề chế tạo và sử dụng TNTT trong dạy học VL phổ

thơng đã có rất nhiều đề tài, bài báo và cơng trình nghiên cứu như đề tài “Thiết

kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lý ở

trường THPT” của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng đăng trên tạp chí thông báo khoa

học của các trường ĐH xuất bản năm 1998; đề tài “ Nghiên cứu xây dựng và sử



5



dụng thí nghiệm theo hướng tích cực hố hoạt động nhận thức của học sinh trong

dạy học Vật lý ở trường trung học cơ sở”, của tác giả Huỳnh Trọng Dương - luận

văn tiến sĩ giáo dục học, ĐH Huế năm 2007; đề tài “Đề xuất phương án và xây

dựng thí nghiệm tự tạo hỗ trợ dạy học Vật lý”, của tác giả Nguyễn Văn Quang luận văn thạc sĩ giáo dục học ĐH Huế năm 2010. Tuy nhiên chưa có đề tài “Thiết

kế, chế tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lý THPT theo hướng phát

huy tính tích cực và sáng tạo của HS".

6. Đóng góp của đề tài

Nếu việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo một số TNTT sử dụng trong quá

trình dạy học VL ở trường THPT đạt hiệu quả sẽ cung cấp thêm được một số đồ

dùng dạy học bộ môn Vật lý góp phần tăng cường hứng thú, khả năng sáng tạo,

tạo dựng niềm tin vào khoa học từ đó sẽ nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn

khoa học này.

7. Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo khố luận gồm

có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy VL

theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS.

Chương 2: Thiết kế, chế tạo và sử dụng một số thí nghiệm tự tạo trong dạy học

VL phổ thông.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.



6



PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ

DỤNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ THEO HƯỚNG TÍCH PHÁT

HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

1.1. Phát huy tính tích cực của HS trong học tập

1.1.1. Khái niệm tính tích cực và tích cực trong học tập

1.1.1.1. Khái niệm tính tích cực

Khái niệm TTC rất quan trọng trong dạy học và đã được rất nhiều tác giả

đề cập:

Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, TTC là một phẩm chất vốn có của con

người trong đời sống xã hội, là một thuộc tính của nhân cách, nó phụ thuộc vào

các thuộc tính khá đặc biệt như thái độ, nhu cầu và động cơ của chủ thể. Nó ln

gắn với hoạt động của chủ thể nào đó và nằm trong hoạt động, biểu hiện qua

hành động và ảnh hướng lớn đến kết quả hoạt động.

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê – chủ biên), tích cực chính là có ý

nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ động, có những

hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển; hăng hái, nhiệt tình đối

với nhiệm vụ, với cơng việc.

Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, TTC là một phẩm

chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. TTC biểu hiện ở sự nỗ lực của

mỗi cá nhân (bằng thái độ, tình cảm, ý chí...), biến nhu cầu thành hiện thực. Nó

làm cho q trình học tập, lao động, tìm tòi, sáng tạo có định hướng, từ đó con

người dễ làm chủ và điều khiển các hoạt động của mình nhằm thu được kết quả

cao trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn. Có thể xem TTC như là điều

kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trẻ trong q trình GD.

1.1.1.2. Tích cực trong học tập

TCC của con người biểu hiện trong tất cả các hoạt động xã hội. Đặc biệt

đối với lứa tuổi đi học thì sự biểu hiện này chủ yếu ở hoạt động học tập. TTC

trong học tập chính là TTC trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố

gắng và nghị lực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Nói cách khác, đó là thái độ

7



cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các

chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập- nhận thức.

Còn theo I.F.Kharlamop: TTC trong học tập có nghĩa là hồn thành một

cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có mục đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào

hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ

xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn của HS là trạng thái hoạt động của

HS đặc trưng bởi khát vọng học tập – huy động trí tuệ và nghị lực trong q trình

nắm kiến thức.

Vậy ta có thể hiểu TTC trong học tập là sự tự giác, ý thức trong việc học

được thể hiện qua khát vọng hăng say học tập và khả năng độc lập trong tư duy,

trong hoạt động. Kết quả học tập của HS phụ thuộc nhiều vào TTC của hoạt động

nhận thức. Vì vậy để phát huy tính tích cực của HS, GV cần phải có PPDH học

phù hợp, giúp các em tìm thấy sự say mê, hứng thú trong học tập.

1.1.2. Biểu hiện của tính tích cực trong học tập

TTC trong học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng cho khát vọng

học tập, trí tuệ và nghị lực cao trên hành trình chiếm lĩnh tri thức. TTC của HS có

cả mặt tự giác và tự phát. Mặt tự giác của TTC thể hiện trạng thái tâm lí có mục

đích, đối tượng rõ ràng, do đó các hoạt động nảy sinh đều nhằm chiếm lĩnh đối

tượng đó. Còn đối với những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh bên trong thì đơi khi TTC

được tự phát từ tính tò mò, hiếu kì và sơi nổi ở từng mức độ khác nhau.

Khơng những vậy, TTC còn được thể hiện trong các hoạt động trí tuệ và

kết quả học tập: HS có nhớ tốt những điều đã học khơng? Có hiểu bài học khơng?

Có thể trình bày lại nội dung bài học theo cách riêng khơng? Có vận dụng được

các kiến thức đã học vào thực tiễn không? Tốc độ học tập có nhanh khơng?

Có nhiều trường hợp TTC trong học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ

bắp nhưng quan trọng hơn hết là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình

thức biểu hiện này thường đi liền với nhau.

Ngồi những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu

hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc

nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×