Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN TÀI LIỆU



1.1. Vốn tài liệu

1.1.1. Khái niệm vốn tài liệu

1.1.1.1. Tài liệu

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm

hiểu một vấn đề gì đó”.

Từ điển Robert (Pháp) lại giải thích: “Tài liệu là tất cả những gì

được viết ra để làm chứng cứ hoặc cung cấp thơng tin”.

Hai định nghĩa trên đã giải thích đúng bản chất của tài liệu trong

quá khứ. Nhưng mấy thập kỷ gần đây, nhân loại đã tiếp nhận nhiều

loại hình tài liệu mới mà không dùng văn tự để ghi nhận thơng tin.

Những định nghĩ trên khơng còn thích hợp, khơng bao hàm được

khái niệm tài liệu trong thờ đại thông tin. Cần có định nghĩa mới.

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhà thư viện học người Nga là

Xtaliarop có đưa ra định nghĩa mới về tài liệu: “Tài liệu là bất kỳ

thơng tin nào (được hình thành bởi bộ óc con người) được ghi trên

những vật thể với mục đính sử dụng, lưu truyền và bảo quản những

thơng tin đó”.

Năm 2000, trong “Pháp lẹnh thư viện Việt Nam” có định nghĩa về

tài liệu ở mục 2 của Điều 2: “Tài liệu là một dạng vật chất đã ghi

nhận những thơng tin ở dạng thành văn, âm thanh, hình ảnh nhằm

mục đích bảo quản và sử dụng.

Hai định nghĩa mới về tài liệu tuy diễn đạt khác nhau nhưng nội

dung khơng khác nhau và có thể bao hàm được khái niệm về tài liệu;

có thể đúng với quá khứ, hiện tại và tương lai.[1, tr.5]

1.1.1.2. Vốn tài liệu

Trong “Từ điển thuật ngữ thư viện” của Liên Xô đã giải thích:



22



“Vốn tài liệu là bộ sưu tập các xuất bản phẩm và các

vật mang tin, được hình thành phù hợp với chức năng

của thư viện, được dử dụng có tính xã hội, được giới

thiệu về nhiều phương diện với sự giúp đỡ của hệ

thống mục lục”.

Trong “Pháp lệnh thư viện Việt Nam” ban hành năm 2000

cũng đưa ra định nghĩa về vốn tài liệu (Mục 3, điều 2):

“Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu

tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định,

được xử lý theo nguyên tắc, quy trình khoa học của

nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt

hiệu quả cao và được bảo quản”.

Như vậy, vốn tài liệu chỉ là một bộ phận cấu thành thư viện;

nhưng đó là bộ phận quan trong, đảm bảo cho sự tồn tại và phát

triển của thư viện.[1, tr.42]

1.1.2. Đặc trưng của vốn tài liệu

- Phản ánh những thành tựu trí tuệ của nhân loại

Tài liệu trong thư viện ghi lại tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết mà

con người đã tích lũy được trong tiến trình lịch sử. Những tri thức,

kinh nghiệm, hiểu biết ấy chính là thơng tin được chắt lọc, những

thành quả lao động trí tuệ của cả lồi người trên các lĩnh vực khác

nhau. Việc khai thác thơng tin có giá trị trong vốn tài liệu thư viện

giúp người đọc có khả năng nâng cao trình độ văn hóa, chun môn,

phục vụ nghiên cứu khoa học,.... Trong thư viện các trường đại học,

vốn tài liệu phản ánh các thành tựu về các lĩnh vực khoa học tự

nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn mà các thế hệ các

nhà khoa học đi trước đã đúc kết sáng tạo nên.

- Là bộ sưu tập với một khối lượng tài liệu nhất định

Ở Việt Nam, Thư viện Quốc gia có 1,2 triệu đơn vị tài liệu, các

thư viện tỉnh – thành phố có tới hàng trăm ngàn, các thư viện quận,

23



huyện có tới hàng chục ngàn. Những con số này khơng ngừng tăng

trưởng hàng năm.

Với đặc tính này, Vốn tài liệu chứa đựng một nội dung thông tin

lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng. Tuy nhiên,

vốn tài liệu lớn cũng đặt ra cho thư viện nhiệm vụ tổ chức cũng như

bảo quản để có thể sử dụng thuận lợi và lâu dài.

- Là bộ sưu tập tài liệu có cơ cấu hợp lý

Mặc dù được nhập vào thư viện trong những thời điểm khác

nhau, nhưng mọi tài liệu trong thư viện đều phản ánh mối liên hệ

cũng như sự phát triển của các lĩnh vực tri thức như khoa học tự

nhiên và công nghệ, khoa học xã hội nhân văn. Tùy thuộc vào từng

loại hình thư viện và nhu cầu tin của người đọc mà vốn tài liệu sẽ

hình thành mối tương quan hợp lý về nội dung, ngơn ngữ, loại hình

tài liệu.

- Tập trung những thông tin được tinh lọc qua thời gian

Qua thực tiễn phát triển vốn tài liệu đã cho thấy những thông tin

được tập trung từ hai hướng:

 Thứ nhất: Đó là sự lựa chọn, thu thập những tài liệu có giá trị,

phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện, cũng như hướng

phát triển của khoa học – kỹ thuật, văn hóa – xã hội. Việc lựa

chọn giúp cho vốn tài liệu có khối lượng tối thiểu về phương

diện vật lý, nhưng lại lưu giữ được một lượng thông tin cần

thiết tối ưu.

 Thứ hai: Với thời gian, kết cấu vốn tài liệu hình thành hai bộ

phận:

Bộ phận hạt nhân: Gồm khối lượng tối thiểu những tài liệu

cần thiết phù hợp với chức năng, đặc điểm của thư viện. Ở đây

tập trung những tài liệu quan trọng, thường xuyên có nhu cầu

sử dụng, bao gồm: các tác phẩm kinh điển về khoa học – kỹ



24



thuật, văn học – nghệ thuật, sách tra cứu... Đay là bộ phận cốt

lõi, tương đối ổn định trong thành phần vốn tài liệu.

Vùng mơi trường: Gồm những tài liệu có ý nghĩa nhưng

chỉ sử dụng trong những khoảng thời gian nhất định. Đối với

những tài liệu qua thời gian vẫn giữ được nhu cầu sẽ được

tăng cường cho bộ phận hạt nhân. Những tài liệu bị lỗi thời,

không đúng diện sẽ định kỳ giải phóng khỏi thư viện. Vùng

mơi trường ln ở trạng thái động, không được ổn định như

bộ phận hạt nhân.

- Phản ánh chức năng của xã hội và diện bổ sung của thư viện

Đây là hai yếu tố xác định việc lựa chọn tài lieju, các đề tài, lọai

hình tài liệu cũng như mức độ tăng cường tài liệu; là cơ sở cho sự

hình hành vốn tài liệu của thư viện.

Chức năng xã hội của thư viện là đóng góp nâng cao nhận thức,

trình độ cho các thành viên trong xã hội, tạo điều kiện cho việc

nghiên cứu, phát triển các lĩnh vực khoa học, sản xuất, văn hóa, nghệ

thuật,… Đây là chức năng chung đối với tất cả các thư viện, tuy

nhiên đối với từng loại hình thư viện, sự thể hiện có khác nhau.

Diện bổ sung của thư viện được xác định bởi chức năng xã hội,

trong đó phản ánh đề tài, cơ cấu của nhu cầu cũng như đặc điểm kinh

tế - xã hội của khu vực mà thư viện phải đảm nhiệm. Để phù hợp với

chức năng, diện bổ sung của thư viện, vốn tài liệu của từng thư viện

cụ thể được hình thành gồm hai bộ phận: Phần chung bao gồm tài

liệu có trong tất cả các thư viện cùng một loại hình; phần riêng bao

gồm tài liệu gắn với từng địa phương, từng lĩnh vực. Với cơ cấu như

vậy vốn tài liệu giúp thư viện hoàn thành chức năng cũng như diện

phục vụ của mình. Tuy nhiên, chức năng diện bổ sung của thư viện

cũng có thể thay đổi theo thời gian và khi đó vốn tài liệu cũng có

những thay đổi mới về cơ cấu đáp ứng nhu cầu.

- Vốn tài liệu luôn ở trạng thái động

25



Sự chuyển động, thay đổi của vốn tài liệu do các nguyên nhân

sau:

 Thứ nhất:

Thư viện thường xun phải nhập những tài liệu có giá trị

thơng tin, đáp ứng nhu cầu sử dụng; đồng thời giải phóng khi

khơng có nhu cầu (lỗi thời, hư hỏng...). Sự chuyển động do

kết quả của dòng tài liệu nhập vào và xuất ra khỏi thư viện gọi

là chuyển động xuyên (tài liệu không trở lại).

 Thứ hai:

Do hoạt động phục vụ của thư viện, để dáp ứng nhu cầu,

thư viện thường xuyên trao tài liệu phục vụ độc giả và thu

nhận trở lại sau thời gian sử dụng. Sự luân chuyển tài liệu chủ

yếu để đáng giá hoạt động của thư viện. Việc trao – nhận tài

liệu trong quá trình luân chuyển đã gây ra sự chuyển động –

chuyển động vòng (tài liệu đưa ra phục vụ lại trở về thư viện).

Cả hai dạng chuyển động đều ảnh hướng tới tốc độ đổi mới

trong thành phần vốn tài liệu. Chuyển động xuyên thường

diễn ra mạnh mẽ ở các thư viện đại chúng, nhưng yếu và chậm

hơn các thư viện chuyên ngành, đặc biệt đối với các thư viện

có chức năng tàng trữ thì diễn ra rất chậm. Trong chuyển động

vòng, do tác động của nhu cầu, vốn tài liệu cũng phải thường

xuyên đổi mới để dòng tài liệu đưa ra phục vụ ln phù hợp

với nhu cầu.

- Tính lỗi thời của thông tin

Là quy luật phát riển của tài liệu trong xã hội. Vì vây, sau một

thời gian nhất định, vốn tài liệu sẽ bị lỗi thời và nhu cầu sử dụng

giảm dần nếu không được đổi mới. Điều kiện quan trọng đảm bảo

cho vốn tài liệu luôn trong trạng thái hoạt động, không bị lạc hậu với

thời gian là phải thường xuyên tăng cường những tài liệu mới, phản

ánh những thành tựu mới trên các lĩnh vực mà con người vươn tới.

26



Mặt khác phải thường xuyên giải phóng những tài liệu bị lạc hậu, lỗi

thời. Công việc này cần tiến được tiến hành thường xuyên để tăng

cường chất lượng cho vốn tài liệu.[1, tr.42-51]

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn tài liệu

Bởi sự phát triển của vốn tài liệu chịu sự tác động của nhiều yếu tố

như: các xuất bản điện tử, chính sách phát triển nguồn tin, kinh phí,…

Các yếu tố này có ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phát triển vốn tài

liệu tại các thư vện nói chung.

1.2.1. Sự tác động khách quan của các quy luật khách quan đối vớ công tác

phát triển vốn tài liệu

- Quy luật gia tăng số lượng tài liệu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, các

nguồn lực thông tin cũng gia tăng một cách mạnh mẽ do đội ngũ

những người làm công tác khoa học – những chủ thể sản sinh ra tri

thức tăng lên và sản phẩm của họ là tài liệu khoa học – kỹ thuật cũng

tăng lên nhanh chóng, nó ảnh hưởng khơng nhỏ tới thành phần vốn

tài liệu của mỗi thư viện. Điều này dẫn tới một hiện tượng mà các

nhà khoa học gọi là hiện tượng “bùng nổ thông tin”, thể hiện sự gia

tăng mạnh mẽ của các sản phẩm thông tin tư liệu trên thế giới mấy

chục năm gần đây.

Khoa học kỹ thuật phát triển đã làm khối lượng tri thức khoa học

trong xã hội tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh

những tài liệu đã xuất bản theo phương thức truyền thống như sách,

báo, tạp chí,…là những tài liệu điện tử như đĩa từ, đĩa quang, băng

từ, CSDL trực tuyến,… Và điều này có ảnh hưởng lớn tới thành

phần, cơ cấu kho tài liệu. Tuy nhiên, bên cạnh đó số lượng tài liệu

tăng lên nhanh chóng cũng gây những tác động tiêu cực tới cơng tác

phát triển vốn tài liệu, khó khăn trong việc lựa chọn tài liêu để tránh

bị trùng và nhiễu tin, khơng có một tư viện hay cơ quan trong tin nào

có đủ kinh phí để bổ sung đầy đủ tài liệu mới xuất bản để phục vụ

cho nhu cầu tin tại thư viện mình, do đó lượng tài liệu được mua sẽ

bị giảm.

- Quy luật tập trung và phân án thông tin

27



Khi tiến hành thống kê số lượng các bài viết được đăng trên các

tạp chí nhưng lại đăng một số lượng đáng kể các bài viết về một

chuyên ngành nào đó; số bài viết thuộc chuyên ngành ấy được đăng

rải rác trên nhiều tạp chí khác nhau, thậm chí có tạp chí khơng liên

quan đến chun ngành ấy. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng

tập trung và phân tán thông tin.

Quy luật này cũng cho thấy trong mỗi lĩnh vực khoa học hay

trong mỗi chủ đề luôn tồn tại một số lượng không nhiều các tạp chí

quan trọng, các tạp chí này chứa một lượng đáng kể các bài viết về

các lĩnh vực khoa học hay chủ đề đã cho và có ảnh hưởng rộng rãi

trong giới chun mơn và thường được gọi tạp chí hạt nhân. Nhờ xác

định tạp chí hạt nhân các thư viện sẽ xây dựng được danh mục các

tạp chí cần mua một cách hợp lý và tránh được lãng phí.

- Quy luật lỗi thời của thông tin

Khi nghiên cứu tần suất sử dụng tài liệu, người ta nhận thấy rằng

ngay sau khi xuất bản tài liệu được tìm đọc khá nhiều nhưng sau đó

theo thời gian, số lượng người tìm đọc tài liệu này ngày càng giảm đi

do thông tin của tài liệu đó khơng còn tính mới, khơng hấp dẫn

người đọc. Ở những ngành có tốc độ phát triển nhanh thì tốc độ lỗi

thời của thơng tin cành nhanh. Tuy nhiên, ở mt số lĩnh vực như: Văn

hóa, lịch sử, khảo cổ,… thì tài liệu càng cũ càng có giá trị do tính

hiếm tính đọc nhất của tài liệu mang lại chứ khơng phải do tính mới

của thơng tin.

Vì vậy, ý nghĩa của quy luật này là giúp các cơ quan thông tin,

thư viện trong việc thanh lọc tài liệu khơng còn giá trị, khơng đáp

ứng được nhu cầu tin của người dùng tin, để tiết kiệm điện tích kho,

cơng sức của cán bộ, kinh phí bảo quản và lưu trữ kho sách.

- Quy luật giá cả tài liệu tăng liên tục

Giá cả của tài liệu được hình thành bởi giá cả thông tin chứa

trong tài liệu và giá phàn vật chất mang thơng tin cùng với chi phí

28



phân phối tài liệu đến tay người tiêu dùng (chi phí quảng cáo, phát

hành, vận chuyển).

Do vậy, để làm tốt công tác phát triển vốn tài liệu và mang hiệu

quả cao thì phải chú ý tới sự chi phối của các quy luật trên và tìm ra

các hướng giải pháp hưu hiệu để giảm thiểu sự chi phối đó.

1.2.2. Sự tác động của các yếu tố chủ quan của tư viện tới việc phát triển

vốn tài liệu

- Chính sách phát triển nguồn tin

Bất kỳ một cơ quan thông tin, thư viện nào muốn hồn thành tốt

chức năng, nhiệm vụ của mình, muốn đạt được hiệu quả phục vụ tốt

nhất, điều quan tâm trước tiên phải xây dựng và phát triển cho được

vốn tài liệu đủ lớn về số lượng với chất lượng tốt, phong phú về

chủng loại, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của người dùng tin.

Tuy nhiên, để xây dựng vốn tài liệu vừa lớn về số lượng vừa

mạnh về chất lượng, các cơ quan thông tin thư viện khơng thể bổ

sung ồ ạt các loại tài liệu có trên thị trường (do khơng đủ kinh phí để

mua và sử lý, cũng như không đủ kho tàng, giá kệ để lưu trữ tài liệu)

mà phải tiến hành lựa chọn, cân nhắc kỹ từng loại tạp chí, từng cuốn

sách. Cơ sở của việc lựa chọn đó là các nguyên tắc, quy tắc lựa chọn

tài liệu. Những nguyên tắc này được xây dựng dựa trên chức năng,

nhiệm vụ mà thư viện hay tên cơ quan thơng tin được phó.

- Trình độ cán bộ phát triển nguồn tin

Ngày nay, trước sự phát triển và gia tăng mạnh mẽ của các nguồn

lực thông tin, đã đưa ra những đòi hỏi đối với người các bộ làm công

tác phát triển nguồn tin. Bởi đây là một cơng việc phức tạp, mang

tính trí tuệ cao, đòi hỏi người cán bộ bổ sung ngồi các kiến thức

chung về đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước, về chức năng nhiệm vụ của thư viện mình, các kiến thức về

nghiệp vụ thư viện, còn phải hiểu biết về cơng tác xuất bản tài liệu

và thị trường xuất bản phẩm, hiểu biết các khía cạnh pháp lý trong

kinh doanh, nhất là về luật thương mại, các thủ tục ký hợp đồng mua

tài liệu, các vấn đề liên quan đến bản quyền, sở hữu trí tuệ,… Hiện

29



nay, các thư viện đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào các

khâu công tác của thư viện.

Do đó, người cán bộ bổ sung cũng cần phải có kỹ năng về cơng

nghệ thơng tin và sử dụng thành thạo máy tính điện tử, cũng như

phần mềm quản trị và biết cách khai thác nguồn thông tin trên mạng

internet, có thể làm chủ được tình hình để đưa ra những quyết định

chính xác, phù hợp trong việc lựa chọn nguồn tin bổ sung. Ngoài ra

người các bộ còn phải biết thẩm định được chắt lượng nguồn tin để

công tác phát triển nguồn tin đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng bổ

sung tài liệu thiên lệch, khơng cân đói về nội dung và hình thức hoặc

bổ sung bị trùng lặp gây lãng phí.

- Kinh phí của thư viện

Do số lượng tài liệu tăng lên nhanh chóng và giá cả của tài liệu

cũng tăng lên liên tục nên không một thư viện hay cơ quan thơng tin

nào có đủ kinh phí để có thể bổ sung đầy đủ số tài liệu phục cho nhu

cầu của người đọc tại thư viện.

Thực tế cho thấy, những thư viện tiềm lực tài chính mạnh có thể

chọn chiến lược bổ sung đầy đủ tức là bổ sung tất cả các loại tài liệu

mà độc giả thư viện mình cần, còn các thư viện có tiềm lực tài chính

hạn chế thường chọn chiến lược bổ sung ở mức độ đầy đủ tối thiểu,

có nghĩa là chỉ bổ sung những tài liệu hạt nhân, những tài liệu tốt cần

thiết, có nhu cầu sử dụng cao, còn những tài liệu có nhu cầu đọc thấp

hơn sẽ tìm cách thỏa mãn độc giả bằng cách mượn giữa các thư viện.

Ngồi ra, do sự tiến bộ của cơng nghệ thông tin, nhiều nhà xuất

bản đã phát hành các tài liệu số, có thể truy cập trực tuyến từ xa, vì

thế các thư viện cũng có thể cân nhắc, lựa chọn giải pháp phù hợp

với điều kiện của thư viện mình, hoặc là thu thập tài liệu để phục vụ

người dùng tin hay chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật, cơng nghệ để có

thể truy cập trực tuyến tới các nguồn thơng tin từ xa, giúp tiết kiệm

kinh phí xây dựng kho tàng, mua giá kệ, hoặc thư viện phải căn cứ

vào kinh phí để đưa ra quyết định bổ sung cho phù hợp.[6]

1.3. Vai trò của vốn tài liệu trong hoạt động Thông tin – Thư viện

1.3.1. Vốn tài liệu đối với xã hội

Vốn tài liệu thư viện được coi là “bộ nhớ” của nhân loại. Việc phát

minh ra sách là một trong những kỳ công sáng tạo tuyệt vời của con

30



người. Nhờ có sách vở mà những kinh nghiệm, hiểu biết của thế hệ

trước có thể lưu truyền qua thời gian. Thế hệ nối tiếp không phải mò

mẫm làm lại từ đầu vì đã kế thừa những thành tựu đã có, trên cơ sở đó

tiếp tục phát triển nên đã đẩy nhanh tốc độ đi lên của xã hội. Những tri

thức ghi lại trong sách vở tập trung trong vốn tài liệu là kho tàng văn

hóa của nhân loại. Nhận thức được điều đó, neen từ xưa nhân loại đã

quan tâm đến việc sưu tầm, bảo quản sách vở và truyền lại cho thế hệ

sau.

Ngày nay, những nước công nghiệp hàng đầu thế giới G7+1 (Hoa

Kỳ, Anh, Pháp, Ơxtraylia, Đức, Italia, Canada và Nga) cũng chính là

những nước có thư viện nổi tiếng với vốn tài liệu đồ sộ. Trong thư viện

của các quốc gia kể trên đã tập trung một số lượng lớn các xuất bản

phẩm cũng như các dạng tài liệu khác, phản ánh tiềm năng khoa học –

kỹ thuật của quốc gia đó cũng như nhân loại nói chung. Do có ý nghĩa

với xã hội nên vốn tài liệu trường tồn với thời gian và hiện diện trong

nhiều trường phái kinh tế - xã hội.

1.3.2. Vốn tài liệu đối với thư viện

Là một trong bốn bộ phận tạo thành thư viện (vốn tài liệu, cơ sở vật

chất, đội ngũ cán bộ và độc giả). Giữa các bộ phận có mối liên hệ và tác

động lẫn nhau, nhưng vốn tài liệu có vị trí quan trọng đặc biệt.

- Thứ nhất: Vốn tài liệu là tiền đề, là điều kiện tiên quyết cho sự

xuất hiện của thư viện.

Muốn xây dựng thư viện, công việc đầu tiên là phải tiến hành

thu thập được một khối lượng lớn tài liệu nhất định – đó là cơ sở

quan trọng để đảm bảo cho thư viện có thể mở cửa đón tiếp độc

giả. Lịch sử phát triển thư viện thế giới cũng như Việt Nam đã xác

nhận tầm quan trọng của vốn tài liệu đối với sự hình thành thư

viện.

- Thứ hai: Vốn tài liệu là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện.

31



Trong công tác thư viện mọi hoạt động đều có liên quan đến

vốn tài liệu: nội dung của các cuộc triễn lãm sách, chất lược của

những bản thư mục, số lượng biểu ghi trong các cơ sở dữ liệu...

Đặc diểm trong công tác phục vụ độc giả, sự giàu có và phong phú

của vốn tài liệu có ảnh hưởng rất lớn tới việc thu hút độc giả tới

thư viện.

- Thứ ba: Vốn tài liệu giúp thư viện hồn thành chức năng nhiệm

vụ của mình.

Tàng trữ vận chuyển tài liệu là những chức năng quan trọng

của thư viện. Nếu vốn tài liệu không đầy đủ, khiếm khuyến sẽ

không đảm bảo là “bộ nhớ” của nhân loại, không thể coi là kho

tàng văn hóa của một quốc gia, một dân tộc và sẽ khơng có khả

năng thu hút độc giả tới khai thác, sử dụng, ảnh hưởng rất lớn đến

việc luân chuyển tài liệu, phục vụ độc giả của thư viện.

Ngồi ra, thư viện còn gánh vác nhiệm vụ quan trọng là phải

góp phần vào việc nghiên cứu, phát triển khoa học – sản xuất, phát

triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các khu vực. Nhiệm vụ

đó chỉ hồn thành nếu vốn tài liệu có khả năng thỏa mãn nhu cầu

của các cán bộ, chuyên gia trên các lĩnh vực, giúp họ giải quyết

các vướng mắc trong nghề nghiệp chuyên môn cũng như tiếp cận

với những thành tựu của thế giới.[1, tr.51-58]

Tiểu kết

Trong chương 1 chúng ta đã khái quát cũng như hiểu được phần nào về khái

niệm tài liệu, vốn tài liệu; đặc trưng, ảnh hưởng cũng như vai trò của vốn tài liệu

trong hoạt động thơng tin – thư viện nói chung và ở chương 2 sẽ tìm hiểu rõ hơn

về thực trạng vốn tài liệu Thư viện Trường đại học Thương mại.



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×