Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vòng tròn đọc là một chiến lược hiệu quả để sử dụng không chỉ với những học sinh bị khuyết tật về đọc , mà còn với bất kỳ học sinh nào gặp khó khăn trong việc đọc. 

Vòng tròn đọc là một chiến lược hiệu quả để sử dụng không chỉ với những học sinh bị khuyết tật về đọc , mà còn với bất kỳ học sinh nào gặp khó khăn trong việc đọc. 

Tải bản đầy đủ - 0trang











Summarizer - tóm lại những điểm chính, những điểm nổi bật chính và ý

tưởng chung của văn bản

Travel Tracer - theo dõi hành động diễn ra trong văn bản và mô tả chi tiết

từng cài đặt

Word Wizard - xác định và định nghĩa các từ có ý nghĩa đặc biệt trong văn

bản

Nhà nghiên cứu - tìm thơng tin cơ bản về một chủ đề liên quan đến văn bản



Các nhà giáo dục sẽ cần phải mơ hình hóa từng vai trò vì sinh viên có thể khơng

quen với các nhiệm vụ của họ. Riêng đối với sinh viên có LD, hướng dẫn rõ

ràng có thể là điều cần thiết.

Bước 3: Phân cơng & hỗ trợ đọc

• Quyết định số lượng bài đọc phù hợp để phân công cho học sinh, và liệu

thời gian sẽ được đưa ra trong lớp để hồn thành bài đọc.

• Đảm bảo rằng tất cả các học sinh có thể truy cập các văn bản của họ theo

cách phù hợp với nhu cầu học tập của họ, cho dù đó là sử dụng một bản sao

cứng của một cuốn sách, sử dụng trình đọc màn hình hoặc nghe audiobook

(cho dù đây là do giáo viên tạo ra là có sẵn trên thị trường).

Bước 4: Học thêm

Tại thời điểm này, các nhà giáo dục cần quyết định cách họ sẽ khuyến khích sinh

viên tiếp tục học tập. Trong bài viết cụ thể này, các tác giả khuyên bạn nên sử

dụng bảng vai trò và các hoạt động mở rộng vai trò để phân cơng nhiệm vụ cụ thể

cho sinh viên.

Dưới đây là một số ví dụ về cách điều này có thể xảy ra cho mỗi vai trò:













Connector - đối với một cảnh thể hiện cách nhân vật chính phải thể hiện sự

dũng cảm để vượt qua nỗi sợ hãi của họ, Người kết nối có thể được yêu

cầu dẫn dắt một cuộc thảo luận về cách các học sinh trong nhóm phải dũng

cảm trong một tình huống cụ thể

Questioner - có thể được yêu cầu đặt câu hỏi về một thực tiễn cụ thể được

nêu trong cuốn sách,

Luminary Luminary - Thảo luận trong đó tất cả các học sinh phản ánh về

tầm quan trọng của nó.

Illustrator - sau khi đọc một đoạn cụ thể cho nhóm, minh họa một hình ảnh

trực quan mà họ đã tạo để phản ánh những gì được đọc. Sau đó, họ nên giải

thích với nhóm lý do tại sao họ chọn đưa ra một số thiếu sót nhất định và

minh họa cho thảo luận nhóm



Các nhà giáo dục sau đó có thể yêu cầu học sinh mở rộng các hoạt động này để

bao gồm các phản ánh cá nhân có thể được đánh giá hoặc họ có thể tóm tắt những

suy nghĩ của họ trong việc đọc.

Bước 5: Đánh giá

Các nhà giáo dục có thể kết hợp các loại đánh giá khác nhau vào vòng tròn đọc

hiểu.

17 | P a g e



5/ Những nội dung cơ bản sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục

tại đơn vị:

Lựa chọn truyện đọc “I love you mother” Khối 4

Phân công thực hiện nhiệm vụ của từng thành viên.

+ Discussion Leader: gọi từng thành viên trong nhóm lên trình bày những

việc mà họ được giao, hướng dẫn và giữ cho cuộc thảo luận diễn ra liên tục.

+ Summarizer: kể tóm tắt câu chuyện theo ngơn ngữ riêng của mình.

+ Word Master: tìm từ hoặc nhóm từ mới, khó hiểu có vai trò quan trọng

trong truyện trình bày trong nhóm, giải thích cho nhóm hiểu vì sao chúng quan

trọng

+ Passage Person: tìm ra một hoặc nhiều đoạn văn mang ý chính quyết định nội

dung câu chuyện

+ Culture Collector: tìm kiếm những điểm giống và khác nhau giữa văn hóa

Việt Nam và nền văn hóa có trong câu chuyện

+ Connector: tìm kiếm những kết nối liên quan giữa câu chuyện với cuộc sống

thực tế bên ngoài.

- Kiểm tra đánh giá kết quả nhiệm vụ của người thực hiện các vai trò.

Reading Circles được tiến hành qua các giai đoạn: chọn truyện, đọc truyện, tóm

tắt ý, phân cơng nhiệm vụ cho từng học sinh, nhóm học sinh theo cùng nhiệm vụ,

nhóm học sinh theo 6 vai trò trong một nhóm; thảo luận, nhận xét.

6/ Những nội dung khó khăn và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi

dưỡng nhằm giải quyết những nội dung khó này:

• Đề xuất thực hiện vòng tròn đọc hiểu hiệu quã trong môn tiếng

Anh:

Đối với việc dạy ngoại ngữ cho trẻ, Reading là một kỹ năng mà người

giáo viên ln phải đầu tư để học sinh có cảm giác thích thú, hấp dẫn nếu giờ

học đó chủ yếu rèn về kỹ năng này.





Để hoạt động Reading Circles đạt hiệu quả giáo viên phải chọn đúng

truyện đọc phù hợp với năng lực của học sinh.

- Tùy thuộc vào tình hình học sinh mà giáo viên tiến hành các bước hoạt

động nhanh hay chậm hơn kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó vì tính chất mở

rộng hoạt động Reading Circles nên mỗi giáo viên cần sáng tạo, hướng học

sinh đến sự thay đổi cách trình bày vai trò của từng nhóm như games, xem

phim, vẽ tranh, … để học sinh cảm thấy Reading Circles thú vị và hấp dẫn

hơn nhưng vẫn đảm bảo tinh thần “vừa học vừa chơi”.

- Đây là nội dung khó và ít tài liệu tham khảo nên giáo viên cần đầu tư thời

gian tìm hiểu thêm để thực hiện một cách thuần thục và hiệu quả.

- PGD tổ chức cho giáo viên tham gia tập huấn nội dung này nhiều hơn.

7. Tự đánh giá

- Bản thân bồi dưỡng nội dung này trong việc thực hiện giảng dạy cho học sinh

có trình độ lớp 4 từ khá trở lên tại nhà trường.

- Bản thân đã tham gia tập huán và chia sẻ nội dung cho giáo viên tiếng Anh

trong trường và thực hiện bồi dưỡng theo đúng kế hoạch đã đề ra.

-



C. Phương pháp giảng dạy Tiếng Anh theo hướng giao tiếp trong hoạt động

nhóm. (10 tiết).

18 | P a g e



1/ Nội dung bồi dưỡng:

- Thực trạng việc học tiếng Anh của học sinh tại trường

- Nắm bắt đối tượng và phân loại học sinh.

- Chọn nội dung phù hợp để giao cho từng đối tượng HS.

- Phương pháp triển khai.

2/ Thời gian điểm bồi dưỡng:

Thời gian :

Tháng 12/2018.

Địa điểm :

Trường TH An Nghĩa.

3/ Hình thức bồi dưỡng : Tự học của giáo viên kết hợp với các sinh hoạt tập thể

về chuyên môn, nghiệp vụ tại khối chuyên môn của nhà trường.

- Học tập, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp.

4/ Kết quả đạt được:

Hình thức làm việc theo cặp hoặc nhóm gần đây trở nên phổ biến trong các

lớp học ngoại ngữ theo quan điểm giao tiếp. Hình thức hoạt động theo cặp hoặc

nhóm có thể hỗ trợ các hình thức làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân. Những

hoạt động luyện tập theo cặp hay nhóm mang tính chất hai chiều, tăng cường

được việc trao đổi thông tin qua lại của học sinh hoặc tạo cho các hoạt động

luyện tập giao tiếp trên lớp để học sinh có thể tự tin giao tiếp bằng tiếng Anh.

Qua một số năm dạy Tiếng Anh theo quan điểm giao tiếp tôi nhận thấy việc dạy

học theo hình thức luyện tập cặp nhóm thực sự có hiệu quả.

Việc dạy học theo hình thức luyện tập cặp nhóm có những ưu điểm và hạn chế

sau :

1. Ưu điểm:

- Tăng cường cơ hội tham gia đóng góp xây dựng bài của học sinh.

- Tăng thêm tần số luyện tập, tiết kiệm được thời gian.

- Tăng thêm cơ hội cho nhiều học sinh được làm việc trong cùng một lúc.

- Tăng cường sự giao tiếp, trao đổi, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau của học sinh.

- Tạo điều kiện cho giáo viên làm việc với tư cách là người hướng dẫn, tư

vấn cho học sinh.

2. Hạn chế:

- Dễ gây ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh.

- Học sinh có thể hay mắc lỗi khi làm việc với nhau.

- Giáo viên khó kiểm sốt được mọi hoạt động của học sinh trong cùng một

lúc.

- Học sinh có thể khơng làm việc, dựa dẫm, ỷ lại khơng tự giác làm việc

hoặc khi mình phải đương đầu với những vấn đề không thể tự giải quyết

được.

Để phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế trên, tôi mạnh dạn đưa

ra một số phương pháp luyện tập theo cặp nhóm với quan điểm giao tiếp và cách

khắc phục những hạn chế của hoạt động cặp nhóm.

I. Thời điểm làm việc theo cặp hoặc nhóm.

Hình thức làm việc theo cặp thích hợp với hoạt động hội thoại giữa hai người

với nhau, do vậy sẽ phù hợp với các loại bài tập:

1- Luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ liệu mới và sau một vài phút luyện tập

với cả lớp ( Giáo viên-cả lớp; nửa lớp-nửa lớp, cặp mở, cặp đóng ).

19 | P a g e



2- Luyện các bài hội thoại ngắn: đóng lại bài hội thoại, làm các bài hội thoại

tương tự với gợi ý cho sẵn.

3- Các bài tập luyện giao tiếp.

4- Đọc bài khố, sau đó hỏi và trả lời các câu hỏi về nội dung bài khố, phương

pháp này có mấy cách thực hiện như sau :

+ Học sinh thảo luận các câu hỏi trong cặp hoặc nhóm, sau đó đọc bài khố

để tìm câu trả lời.

+ Học sinh tự đọc thầm bài khố sau đó hỏi và trả lời về nội dung trong cặp

hoặc nhóm.

5- Các bài tập viết ngắn : học sinh làm nhóm, chọn thư ký viết những gì mà nhóm

thảo luận, hoạt động này có thể khó tổ chức ở những lớp đơng nhưng có thuận lợi

là học sinh chữa được lỗi cho nhau và giáo viên chỉ việc cho điểm các bài viết

của nhóm sau khi kết thúc hoạt động.

6- Thảo luận : Giáo viên nêu nhiệm vụ thảo luận một cách rõ ràng. sau khi thảo

luận giáo viên gọi các nhóm báo cáo.

7- Các hoạt động giao tiếp khác như: Information gap, warm up, role play,

interview, questionaire, survey, problem solving, communication games...

II. Phương pháp chia cặp nhóm.

Có nhiều cách tổ chức làm việc theo cặp, nhóm.

1- Cặp :

a- Giữa thầy và một trò

b- Cặp mở : Giữa hai học sinh khơng ngồi gần nhau.

c- Cặp đóng : Giữa hai học sinh ngồi kề nhau.

Để tránh sự nhàm chán khi làm việc theo cặp, giáo viên có thể sử dụng linh hoạt

các hình thức tổ chức cặp như trên, khơng nhất thiết chỉ theo một hình thức nào,

sao cho luôn tạo được sự mới mẻ, một môi trường và nhu cầu giao tiếp tự nhiên

giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên.

2- Nhóm:

Trong trường hợp tổ chức làm việc theo nhóm nếu lớp chật, thì có thể tổ chức cho

hai học sinh ngồi ở hai hàng ghế sát nhau ngồi quay đầu lại với nhau tạo thành

nhóm 4 người mà khơng cần học sinh di chuyển nhiều trong lớp, khơng làm lãng

phí thời gian. ở Trường tiểu học Đông Đô số lượng học sinh trong lớp ít (15-20

HS) nên việc tổ chức học nhóm rất thuận lợi.

- Khi chia nhóm phải đảm bảo phù hợp về số lượng.

- Cần phân đều số lượng học sinh cho mỗi nhóm (giỏi, khá, trung bình)

- Một nhóm có bao nhiêu học sinh là tuỳ ở sĩ số của lớp.

- Yếu tố ảnh hưởng đến chia nhóm là vị trỗ ngồi của học sinh trong nhóm.

- Có thể đặt tên cho các nhóm bằng tiếng Anh như theo chữ số, màu sắc, loài

hoa, con vật hay những tính từ mà các em thích ...

III. Biện pháp tổ chức cặp, nhóm.

Hình thức làm việc theo cặp nhóm có nhiều ưu điểm, đặc biệt trong việc

luyện tập các chức năng lời nói song trong thực tế, khi học sinh làm việc theo cặp

hoặc nhóm, giáo viên khơng thể kiểm sốt hết được lời nói của học sinh và cũng

khơng nhất thiết phải kiểm soát hết. Tuy nhiên, khi tiến hành các hoạt động cặp

hoặc nhóm, cần lưu ý những điểm sau :

1- Chỉ dẫn bài tập hoặc đề ra yêu cầu một cách rõ ràng.

- Trước khi làm việc theo nhóm hoặc cặp phải có sự chuẩn bị tốt : Có mẫu

hoặc ví dụ cho trước, cung cấp đủ ngữ liệu cần thiết cho bài tập.

20 | P a g e



2- Cần phân cặp hay nhóm hợp lý, có thể chọn học sinh có cùng trình độ, hoặc

khác trình độ nhận thức để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của

bài tập.

3- Tạo sự gắn kết thực sự trong nhóm, đề cử nhóm trưởng và cần phân rõ nhiệm

vụ của nhóm trưởng.

4 - Cần quy định thời gian làm bài tập, tuỳ vào mức độ câu hỏi hay bài tập mà để

thời gian dài hay ngắn. Đề ra quy ước bắt đầu và kết thúc hoạt động ( gõ thước,

vỗ tay ).

5- Có sự theo dõi, bao quát chung của giáo viên.

6- Có sự hỗ trợ kịp thời của giáo viên khi học sinh trong nhóm gặp khó

khăn ( giáo viên đi quanh lớp lắng nghe và giúp đỡ, ghi lại lỗi phổ

biến.......).

7- Không cần chờ cho học sinh làm hết thời gian, giáo viên chủ động ngừng hoạt

động nhóm khi thấy cần thiết.

8- Sau khi học sinh hoàn thành bài tập trong cặp hoặc nhóm, cần có sự kiểm tra

và phản hồi kịp thời như nhận xét, góp ý kiến, chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.

9- Khi hoạt động nhóm giáo viên có thể kết hợp nhiều phương pháp giúp học

sinh luyện tập như : repetition, substitution, change into form và kết hợp các đồ

dùng dạy học như máy chiếu, tranh ảnh, phiếu học tập, bảng phụ để hướng dẫn...

IV. Tiến hành tổ chức cặp nhóm.

1. Giới thiệu mẫu câu mới: Giáo viên gợi mở và làm mẫu rõ ràng. Cho học sinh

nhắc lại đồng thanh, cá nhân. Chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh .

2. Thay thế câu theo gợi ý. Gợi ý có thể viết lên bảng hoặc bảng phụ.

3. Yêu cầu cả lớp thực hành với giáo viên và ngược lại để học sinh biết chắc chắn

phải làm gì. Chọn hai học sinh khơng ngồi gần nhau nói to cho cả lớp cùng nghe.

4. Giáo viên đánh số học sinh theo hàng dọc hoặc hàng ngang và yêu cầu học

sinh luyện tập đồng loạt . Yêu cầu học sinh đổi vai khi kết thúc. Giáo viên đi

quanh lớp điều khiển hoạt động, lưu ý không chữa lỗi khi học sinh đang thực

hành mà giáo viên nên ghi lại những lỗi này để chữa sau khi đó thực hành xong.

5. Ngừng hoạt động sau khi hầu hết cả lớp đó hồn thành. Chọn 2-3 cặp khơng

báo trước nói trước lớp.

6. Giáo viên chữa những lỗi phổ biến trong quá trình thực hành, tập trung chữa

lỗi phát âm và ngữ pháp.

V. Tiến trình tổ chức làm việc nhóm.

- Giáo viên đưa ra lời chỉ dẫn nhiệm vụ một cách cụ thể, rõ ràng.( Có thể

chọn học sinh cùng trình độ hoặc khác trình độ để làm việc với nhau tuỳ

theo từng ý đồ và tính chất của bài tập )

- Giáo viên cung cấp mẫu, ví dụ và những ngữ liệu cần thiết cho bài tập.

- Quy định thời gian luyện tập.

- Giáo viên đi quanh lớp để theo dõi các em luyện tập để giúp đỡ những học

sinh yếu và giải đáp thắc mắc của học sinh.

- Sau khi học sinh hồn thành bài tập trong nhóm, cần có sự kiểm tra phản

hồi kịp thời như nhận xét, góp ý kiến, chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.

VI. Điều kiện áp dụng.

1- Đối với học sinh



21 | P a g e



Để hoạt động cặp, nhóm đạt hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp thì giáo viên

cần tạo cho học sinh thói quen tuân theo một số quy định cần thiết để có thể đảm

bảo được yêu cầu của bài tập như :

- Cần nghe kỹ các yêu cầu của bài tập.

- Cần phải làm theo yêu cầu chỉ dẫn.

- Cần phải bắt đầu và dừng ngay khi có yêu cầu .

- Cần phải nhanh chóng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác khi

giáo viên yêu cầu, khơng cố hồn thành việc đang làm dở.

- Cần tự giác làm việc, không quá gây ồn ào.

2- Đối với giáo viên cần thực hiện tốt một số điểm sau :

- Lựa chọn thủ thuật, phương pháp phù hợp với từng loại bài.

- Luôn hướng dẫn và ra nhiệm vụ một cách rõ ràng để học sinh hiểu rõ cơng

việc phải làm .

- Ln khuyến khích học sinh mạnh dạn hỏi giáo viên khi có vướng mắc.

- Kiểm tra sát sao để học sinh luôn thực hiện bài theo đúng yêu cầu.

- Luôn ghi chép lại những lỗi phổ biến hoặc những điểm cần lưu ý để có thể

chỉ ra cho học sinh và giúp học sinh sửa chữa sau đó.

5/ Những nội dung cơ bản sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục

tại đơn vị:

- Nắm bắt đối tượng và phân loại học sinh.

- Chọn nội dung phù hợp để giao cho từng đối tượng HS.

- Lựa chọn các phương pháp dạy học.

1. Vai trò của giáo viên.

Giáo viên là người quản lý tất cả mọi hoạt động của lớp học. Do vậy giáo

viên phải đặt kế hoạch cho học sinh, tổ chức, theo dõi, canh chừng thời gian bắt

đầu và kết thúc. Giáo viên không được làm việc riêng mà phải quản lý, đôn đốc,

giúp đỡ học sinh luyện tập, có thể đi từ nhóm nọ sang nhóm kia kiểm tra xem học

sinh có thực hiện đúng u cầu bài tập khơng, có nói chuyện gẫu khơng, hay có

điều gì cần giúp đỡ khơng. Nếu nhận thấy đa số học sinh gặp khó khăn trong việc

thực hiện nhiệm vụ của bài tập, nên dừng tất cả các nhóm lại để giải thích thêm

về u cầu bài tập, về cấu trúc hay vấn đề ngữ pháp sau đó mới lại tiếp tục làm

việc theo nhóm.

2. Thực hành uyện tập theo nhóm.

a. Trò chơi:

Các trò chơi đồn thơng tin để luyện câu hỏi yes/no. Đơn giản nhất là trò

đốn: Who am I thinking of? Hoặc Guess what I did (last night / during the

weekend). Giáo viên viết đề tiêu đề trò chơi lên bảng, cung cấp một số từ gợi ý,

từ vựng, kiến thức nền, sau đó làm mẫu rồi mới cho học sinh tự chơi.

b. Đặt câu hỏi:

u cầu các nhóm đọc bài khố, sau đó đặt câu hỏi về bài đó. Sau đó vài phút

các nhúm gấp sách lại, lần lượt các trưởng nhóm hoặc thư ký đứng lên đặt một

vài câu hỏi, các thành viên các nhóm khác có nhiệm vụ trả lời. Để học sinh có

hứng thú hơn trong hoạt động thì các câu trả lời có thể được chấm điểm dựa vào

độ chính xác về ngơn ngữ cũng như thơng tin.

c. Thực hành có hướng dẫn.

Sau khi dùng bài luyện thay thế để học sinh làm quen với cấu trúc và chức

năng của nó, tổ chức thêm bài luyện tập có ý nghĩa giao tiếp hơn bằng các hoạt

động theo nhóm mang tính chất trò chơi và sáng tạo hơn.

22 | P a g e



Ví dụ: Sau khi dạy cấu trúc: Should / shouldn't với nghĩa khuyên bảo:

You should / shouldn't + verb

(You should eat more fruit)

Giáo viên cho một số từ gợi ý để học sinh làm việc theo nhóm. Một người nêu

ra các vấn đề của mình và những người khác trong nhóm đưa ra lời khuyên. Một

vấn đề có thể có nhiều lời khuyên khác nhau. Để học sinh tích cực hơn nên biến

hoạt động này thành một cuộc thi xem nhóm nào đưa ra được nhiều lời khuyên

nhất và có những lời khuyên sáng suốt nhất.

Các gợi ý có thể là:

a. He / fat

c. I / failed / English / test

b. I / late

d. My tooth / aches.

Với tình huống:

a. Student 1: He is fat.

Student 2: He should eat more vegetable and fruit.

b. Student 1: I’m late for school.

Student 2: You should get up early.

c. Student 1: I failed my English test.

Student 2: You should study harder.

Student 3: You should study do more grammar exercises.

d. Trò chơi đóng vai (Role- play)

Sau khi cả lớp đã luyện tập một cấu trúc với một chức năng nào đó, trò chơi

đóng vai củng cố những hiểu biết của học sinh về chức năng của cấu trúc đó

trong những hồn cảnh tự nhiên hơn. Trong khi nhóm hoạt động, thư ký nhóm ghi

chép vắn tắt các lời thoại để sau đó duyệt lại rồi cả nhóm trình bày trước lớp.

Ví dụ: phần Lesson 6 Speaking – Unit 10 – Water sports

Một học sinh đóng vai nhà báo phỏng vấn 3 vận động viên thể thao mới đạt

Huy chương vàng tại Sea games.

Học sinh hoạt động rất tích cực, và hiệu quả.

e. Tiên đoán

Bài tập này thường dùng ở lớp khá. Trước khi đọc một bài khoá yêu cầu đoán

trước về nội dung của bài hoặc nghĩa từ vựng có thể gặp trong bài. Ví dụ: như

trước khi đọc về bài nạn ơ nhiễm mơi trường học sinh có thể đốn trước được

rằng bài đó sẽ nói đến vấn đề liên quan đến biển, rừng, tài nguyên…

f. Thảo luận

Dùng cho học sinh có kiến thức tương đối cao. Thảo luận cho phép học sinh

tự do diễn đạt các quan điểm, ý kiến của mình. Giáo viên đưa ra chủ đề rồi để cho

tất cả nhóm bàn bạc thảo luận, trao đổi quan điểm của mình trong vài phút. Sau

đó một thành viên trong nhóm nói về ý kiến của nhóm. Chẳng hạn, khi dạy phần

Speaking của Unit 4 – ( Lớp 4), giáo viên cho học sinh thảo luận theo nhóm để

tìm ra các hoạt động của tổ chức đoàn đội (Thanh thiếu niên tình nguyện). Sau 3

phút nhóm nào liệt kê được nhiều hoạt động nhất là nhóm chiến thắng.

Các hoạt động có thể là:

- What did you do after school ?

- What is your favorite color ?

- What did you do after animal?

- What is your favorite food ?



23 | P a g e



Đối với học sinh yếu kém hỏi đáp để ghi lại những thông tin liên quan tới

đời sống cá nhân như ngày sinh, địa chỉ, số điện thoại, sở thích…và điền vào

bảng thơng tin do giáo viên đưa ra. Đối với học sinh khá, giáo viên có thể giao

nhiệm vụ cho học viên thu thập thông tin theo nhóm về một chủ đề nào đó. Học

viên sẽ phân cơng nhau tìm các đặc điểm của nghề nghiệp đó như yêu cầu về

bằng cấp, điều kiện làm việc, mức lương… Đối với học sinh giỏi, giáo viên có

thể yêu cầu học viên phát biểu suy nghĩ của mình về thơng điệp của tác giả.

6/ Những nội dung khó khăn và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi

dưỡng nhằm giải quyết những nội dung khó này:

Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp, rèn

luyện các mẫu lời nói dưới dạng nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện được năng

lực giao tiếp thì học sinh cần phải có mơi trường và tình huống đa dạng, mơi

trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra, mà hoạt động cặp nhóm là hình thức giao

tiếp đặc trưng nhất của mơn tiếng Anh.

Vì vậy để làm tốt nội dung này giáo viên cần:

- Tìm ra các biện pháp tăng cường sự giao tiếp, trao đổi, hợp tác, giúp đỡ lẫn

nhau của học sinh.

- Người giáo viên cần làm tốt vai trò là người hướng dẫn, tư vấn cho học

sinh, đồng hành gần gũi học sinh để phát huy những điểm mạnh, khắc phục

điểm yếu cho từng em học sinh.

7. Tự đánh giá

Bản thân sau khi bồi dưỡng đã vận dụng vào tình hình thực tiễn công tác

theo đúng nội dung và kế hoạch đã đề ra.

Học sinh yêu thích các giờ học Tiếng Anh, tự tin giao tiếp tiếng Anh, sôi nổi, chủ

động hơn trong các hoạt động học tập.

E. KẾT QUẢ SAU KIHI KẾT THÚC PHẦN NỘI DUNG 2: ( GV, Tổ trưởng

chấm điểm thang điểm 10):

:

- Kết quả tự chấm của Giáo viên

:......

- Kết quả chấm của Tổ CM

Tổ trưởng CM



Giáo viên kí tên



Nguyễn Thị Phương Trang



24 | P a g e



TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CÁ NHÂN BDTX

Năm học 2018 - 2019

(Mẫu 3)

PHẦN NỘI DUNG 3 ( Số tiết: 60 tiết)

A.Mô đun TH24: Phương pháp kiểm tra đánh giá bằng nhận xét ( 15 tiết ).

1/ Nội dung bồi dưỡng:

Phương pháp kiểm tra đánh giá

Hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở tiểu học:

Cách đánh giá:

2/ Thời gian, địa điểm bồi dưỡng:

Thời gian

:

Tháng 2/2019.

Địa điểm

:

Trường TH An Nghĩa.

3/ Hình thức bồi dưỡng : Tự học của giáo viên kết hợp với các sinh hoạt tập thể

về chuyên môn, nghiệp vụ tại khối chuyên môn của nhà trường.

4/ Kết quả đạt được:

1. Phương pháp kiểm tra đánh

giá a. Kiểm tra theo hướng

định tính:

Là phương thức thu thập thông tin kết quả học tập và rèn luyện của học sinh

bằng cách quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chí giáo dục đã định.

b. Kiểm tra theo hướng định lượng:

Là phương thức thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh bằng điểm số

hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó. Cách và phương tiện ghi nhận

kết quả học tập của học sinh bằng điểm số theo những qui tắc đã tính trong lần

kiểm tra là mang tính định lượng. Điểm số chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản

ánh học lực của mỗi học sinh mang ý nghĩa định tính. Như vậy, bản thân điểm số

khơng có ý nghĩa về mặt định lượng.

2. Hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở tiểu

học: a. Hình thức kiểm tra: có thể chia thành hai loại:

- Kiểm tra thường xuyên:

- Kiểm tra định kỳ:

- Ngoài ra còn có kiểm tra đột xuất và kiểm tra tổng kết.

b. Hình thức đánh giá:

* Đánh giá bằng nhận xét:

- Tác dụng của nhận xét đối với học sinh:

Động viên học sinh phấn đấu học tập thành công hơn.

Hướng dẫn học sinh điều chỉnh việc học tập.

A.

Cách ghi nhận xét các mơn học:

+ Loại hồn thành (A): đạt u cầu cơ bản về KTKN của mơn học; mức hồn

thành khi có 50% số nhận xét trở lên trong từng học kì hay cả năm học.

Hồn thành (A+): khi đạt 100% nhận xét hoặc hoàn thành…

+ Loại chưa hoàn thanh (B): học sinh chưa thực hiện được những yêu cầu cơ

bản về KTKN.

Đánh giá bằng điểm số:

Là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra mức độ về

KTKN mà học sinh đã thể hịên được qua một hđg hoặc sản phẩm.

Thang điểm là một tập hợp các mức điểm liền nhau theo trật tự số từ cao đến

thấp…





Ý nghĩa của điểm số:

Để diễn giải được ý nghĩa của điểm số giáo viên cần lưu ý:

Xác định mục đích của đánh giá: Xác định được kiến thức, kỹ năng, thái độ, hay

năng lực nào cần đánh giá.

Chuẩn bị kỹ các bài kiểm tra ở lớp để có thể có một sản phẩm giá trị làm căn cứ

cho điểm số và qua điểm số đó đánh giá được trình độ về năng lực học sinh:

+ Phải bao quát được nhiều mặt kiến thức hay kỹ năng đã học trong nội dung

đề bài kiểm tra.

+ Đề cập trong bài kiểm tra những mục tiêu kế hoạch đã nêu ra trong tháng

hay trong học kỳ.

+ Xây dựng thang điểm…

+ Điều chỉnh các câu hỏi khi phát hiện thấy có sự khơng rõ

ràng

+ Xác định ngưỡng đạt u cầu của bài kiểm tra.

+ Tập hợp nhiều loại thông tin…để làm chững cứ hỗ trợ cho việc giải thích

điểm số.

* Đánh giá kĩ năng trong học tập.

- Kỹ năng về trí tuệ: Còn gọi là kỹ năng nhận thưc bao gồm hiểu, vận dung,

giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo.

B. Hiểu: Người học có thể hiện các hành động trí tuệnhư: giải thích mối

quan hệ, tóm tắt, cho ví dụ minh hoạ, sosánh, diễn đạt theo cách riêng

của mình

- Vận dụng: Người học có thể thể hiện các hành động trí tuệ như tính tốn, vẽ sơ

đồ biểu diễn sơ đồ thông tin, đưa ra cách làm.

-Kỹ năng thể chất.

C.Kỹ năng xã hội:

+ Kỹ năng hợp tác nhóm.

+ Kỹ năng tự khẳng định mình.

+ Kỹ năng đồng cảm.

+ Kỹ năng tự kiểm soát.

D.

Kỹ năng học tập:

Đánh giá và xếp loại hạnh kiểm (theo TT 32/2009/TT-BGD-ĐT)

3. Cách đánh giá:

Là hoạt động thường xuyên của giáo viên; cần chú ý sự tiến bộ của học sinh;

đánh giá cuối năm là quan trọng nhất; phối hợp với cha mẹ học sinh để có biện

pháp giáo dục. Xếp loại học kỳ vào cuối kỳ I và cuối năm học theo 2 loại là thực

hiện đầy đủ (Đ); thực hiện chưa đầy đủ (CĐ).

a . Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ:

Đánh giá thường xuyên:

- Thực hiện ở tất cả các tiết học; mục đích theo dõi, động viên, khuyến

khích hay nhắc nhở học sinh học tập…

Hình thức kiểm tra thường xuyên: kiểm tra miệng, viết (< 20 phút), quan sát học

sinh qua hoạt động học tập, tình hình vận dụng kiến thức kỹ năng.

Đánh giá định kỳ:

- Được tiến hành sau từng giai đoạn học tập nhằm thu thập thông tin cho

giáo viên và cán bộ quản lý để chỉ đạo, điều chỉnh dạy học…

- Đối với các môn đánh giá bằng điểm số kết hợp với nhận xét: bài kiểm tra dưới

hình thức tự luận hoặc tự luận và trắc nghiệm trong thời gian 1 tiết

-



Đối với môn đánh giá bằng nhận xét: căn cứ vào các nhận xét trong q

trình học tập, khơng có bài kiểm tra.

b . Đánh giá bằng điểm kết hợp nhận x t:

- Số lần kiểm tra tối thiểu trong một tháng của các mônTiếng Việt: 4 lần;

Tốn: 2 lần; còn các mơn Khoa Học; Lịch Sử và Địa Lý; Ngoại Ngữ; Tiếng

Dân tộc; Tin học: 1 lần/môn.

c . Đánh giá bằng nhận x t: Các môn đánh giá bằng nhận xét: Đạo Đức, Tự

Nhiên – Xã Hội(lớp 1, 2, 3), Kỹ Thuật – Thủ Công, Mỹ Thuật, Thể Dục; ghi nhận

xét và các dấu (tick).Sử dụng kết quả để đánh giá, xếp loại.

5/ Những nội dung cơ bản sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục

tại đơn vị:

- Đánh giá thường xuyên quá trình học tập, rèn luyện được thực hiện trên

lớp học theo tiến trình các bài học, các hoạt động giáo dục ở nhà trường và

trong cuộc sống hàng ngày của học sinh ở gia đình và ở cộng đồng.

- Đánh giá định kì kết quả học tập mơn Tiếng Anh theo đúng qui định tiến

hành vào cuối học kì I và cuối năm học bằng bài kiểm tra định kì. Kết quả

kiểm tra định kì phản ánh mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng và năng lực

môn học của học sinh, được đánh giá thơng qua hình thức cho điểm (thang

điểm 10) kết hợp với sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm, hạn chế và góp ý

cho học sinh.

-



Tổng hợp một số lời nhận xét theo tháng và cuối năm học môn

Tiếng Anh.

2. Nhận xét về kiến thức, kĩ năng Môn học và hoạt động giáo dục: Ghi nội dung

học sinh vượt trội hoặc điểm yếu cần khắc phục:

Hoàn thành rất tốt nội dung bài học.

Kỹ năng nghe nói tốt, giọng đọc to, rõ, trơi chảy.

Nắm được nội dung bài học.

Nắm vững cấu trúc câu, nhớ và hiểu các từ vựng. Các

kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tốt.

Đọc to, rõ, trơi chảy, hồn thành bài tập tốt.

Hồn thành khá tốt nội dung các bài học. Biết

vận dụng các mẫu câu đã học.

Các kỹ năng có tiến bộ.

Tăng cường luyện tập thêm về trọng âm và ngữ điệu.

Kỹ năng giao tiếp tương đối tốt, chú ý thêm về cử chỉ, điệu bộ, nét mặt. Kỹ

năng nghe, nói tốt, cần luyện tập thêm về kỹ năng đọc.

Kỹ năng nói sẽ hoàn thiện hơn nếu em biết kết hợp với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ

và ánh mắt.

Cố gắng luyện tập thêm về cách phát âm các từ có đi "s/es", "ed". Chú ý các

âm khó( "r", "s", "j", "z", "t", "k", "c") trong khi nói hoặc đọc. Tiếp thu kiến thức

tốt nhưng sử dụng cấu trúc câu còn chậm.

Đọc to, rõ, trơi chảy nhưng học từ vựng còn hạn chế. Cẩn thận

khi viết các chữ cái khó ("f", "z", "w", "p", "j").

Khả năng sử dụng ngơn ngữ còn hạn chế.

Cần luyện tập thêm về kỹ năng viết.

Sử dụng từ vựng còn chưa tốt, tiếp thu kiến thức còn chậm. Cần

rèn luyện thêm về kỹ năng nghe, nói.

Sử dụng mẫu câu còn hạn chế.

Tiếp thu kiến thức chưa tốt, kỹ năng sử dụng ngơn ngữ yếu.

Có tinh thần học tập tích cực nhưng cần rèn thêm về kỹ năng đọc. Sử

dụng cấu trúc câu chưa tốt cần chú ý luyện tập thêm.

Giọng đọc còn nhỏ, hồn thành rất tốt các nội dung bài học. Biết

vận dụng các mẫu câu nhưng còn chậm.

*



Còn lúng túng khi áp dụng cấu trúc mới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vòng tròn đọc là một chiến lược hiệu quả để sử dụng không chỉ với những học sinh bị khuyết tật về đọc , mà còn với bất kỳ học sinh nào gặp khó khăn trong việc đọc. 

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×