Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
=> Cách nói năng của hắn đã bộc lộ một phần về con người của hắn. Hắn chẳng có chút gì nho nhã, lịch sử của chàng “Giám Sinh”, hạng người có học.

=> Cách nói năng của hắn đã bộc lộ một phần về con người của hắn. Hắn chẳng có chút gì nho nhã, lịch sử của chàng “Giám Sinh”, hạng người có học.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hai câu thơ có sự tương phản: Câu lục hồn tồn là từ Hán Việt, còn câu bát hồn

tồn là từ thuần Việt. Câu lục có sắc thái trang trọng. Câu bát có sắc thái bình dị. Ở đây,

Nguyễn Du chủ ý tô đậm sự tương phản giữa tuổi tác của Mã Giám Sinh (trạc ngoài bốn

mươi) và vẻ bề ngồi khơng phù hợp với độ tuổi ấy của Mã Giám Sinh.

Đây cũng chính là thủ pháp nâng và hạ của trào phúng: Dùng cái trang trọng để nói

về độ tuổi: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Như chúng ta biết, mày râu là một

chuẩn mực thẩm mỹ của người xưa khi đánh giá một người đàn ông. Không phải tự nhiên

mà người đàn ông được gọi là “đấng mài râu”, hay “tu mi nam tử”. Ca dao: “Đàn ơng

khơng có râu bất nghì”.Theo chuẩn mực thẩm mỹ người xưa, mày râu của người đàn ơng

chính là biểu tượng cho nhân, nghĩa, là dấu hiệu của bậc đại trượng phu. Nguyễn Du tả Từ

Hải, một đấng anh hùng là “Râu hùm, hàm én, mày ngài”. Mã Giám Sinh đối lập hoàn toàn

với tất cả chuẩn mực ấy, mày râu nhẵn nhụi (trong quan niệm của người xưa) là dung mạo

của kẻ tiểu nhân, khơng đàng hồng.

Hành động của Mã Giám Sinh, đã cho chúng ta thấy rõ hơn về bản chất lố lăng của

hắn. Đầu tiên Nguyễn Du tả cái tư thế tỏ ra làm chủ của Mã: “Trước thầy sau tớ lao xao”.

Từ láy “lao xao” tạo một cảm giác nhốn nháo, mất trât tự, vô kỷ luật, không phù hợp với sự

trang nghiêm, lịch sử của một buổi vấn danh. Cái kiểu bầu đoàn của hắn ập vào nhà Kiều

gợi ta nhớ đến bọn sai nha trước đây vu oan cho cha Kiều. Tác giả đã miêu tả cách ngồi của

tên họ Mã “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, phó từ “tót” đặc tả tư thế ngồi của Mã Giám Sinh,

cộc cằn, xấc xược, ngang ngược. Nguyễn Du đã nhận xét rất xác đáng về hành động này:

“sỗ sàng”. Đây là sự thiếu lịch sự, vô phép tắc của một kẻ vơ học hay cũng có thể đó là thói

quen của nghề nghiệp.

Sau khi gã bán ổn định, hắn trở mặt là một con người phàm tục:

“Khi về bỏ vắng trong nhà

Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng

Khi ăn khi nói lỡ làng

Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh”

Hắn không lôi thôi, cốt chỉ muốn được việc. Nhưng khi thấy tài sắc của Kiều, cái

thói phàm của hắn bừng dậy, đối với hắn, chuyện trinh tiết cũng chỉ cần “nước vỏ lựu máu

mào gà” là sẽ xong. Nếu Tú Bà có hỏi, thì cùng lắm là mất “một buổi quỳ mà thơi”. Đó là

cái ti tiện nhầy nhụa mà Kiều đã khinh bỉ gọi là “giống hôi tanh”.

b. Mã Giám Sinh: một kẻ buôn người

Từ việc lột trần cái mác Giám Sinh, Nguyễn Du còn tiến đến một bước cao hơn

trong việc xây dựng nhân vật: làm bật lên bản chất con buôn của Mã Giám Sinh. Mã Giám



Sinh chính là hạng người đồi bại trong xã hội xưa, sống bám vào các kĩ viện, lừa các cô gái

lương thiện vào chốn thanh lâu để chúng chuộc lợi của bọn “buôn thịt bán người”.

- Tâm lý con buôn

“Đắn đo cân sắc cân tài

Ép cung cầm nguyệt, thử tài quạt thơ

Mặn nồng một vẻ một ưa,

Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu”

Vẻ ngồi, việc người con gái trình diễn tài nghệ của mình cho người đến xem mắt là

rất bình thường. Nhưng Nguyễn Du đã khéo léo chỉ ra cho người đọc, đây thực chất là một

cuộc buôn bán, thông qua từ chỉ hành động của con buôn: “cân”, “ép”, “thử”. Tâm lý con

buôn cũng được thể hiện rất sắc sảo: “Đắn đo”-“bằng lòng” – “tùy cơ dặt dìu” cho thấy

bọn bn người có sự chọn lựa kĩ càng, suy tính về lợi nhuận.

- Lời nói con bn

Mã Giám Sinh học đòi nói những lời lẽ rất hoa mỹ, bỏng bảy:

“Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”

Sinh nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”

Câu nói lịch sự duy nhất thốt ra từ miệng cũng chứa tiềm thức của một con buôn.

Chữ “mua” và “bao nhiêu” đã tố cáo hắn. Lời lẽ hoa mỹ của hắn thực chất chỉ là một lời

hỏi giá.

- Hành động con buôn:

Và cuối cùng hắn đã vứt cái mặt nạ ấy ra bằng việc mặc cả:

“Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá vâng ngồi bốn trăm”

Từ láy “cò kè” đã cho thấy bản tình bần tiện, chuộc lợi của Mã Giám Sinh. Nhịp thơ

ngắn: 2/2/2 tạo cảm giác thời gian kéo dài, mệt mỏi, chán chường. Cuộc ngã giá càng kéo

dài, nhân phẩm của Kiều càng bị chà đạp, giá trị của Kiều càng bị xúc phạm. Thị trường

của gã có nhiều diễn biến hồi hộp, gã đâu thể ngồi nhà ra oai như Tú Bà, gã phải tìm người

để mua khắp nơi với những thú vui mới đang chờ.

 Bằng bút pháp hiện thực với những tương phản, nghịch lý, Nguyễn Du đã xây

dựng buổi lễ vấn danh của Mã Giám Sinh như một sấn khấu bi- hài kịch. Hài vì: Mã Giám

Sinh xuất hiện như một tên hề,một kẻ vơ lại dưới lớp mặt nạ người có học thức, hành động,

cử chỉ, lời nói đều nghịch ngạo, lố lăng, nực cười. Nguyễn Du đã bóc trần khơng khoan

nhượng bản chất xấu xa, tiểu nhân của Mã Giám Sinh, đồng thời cho người đọc thấy được

bản chất con bn của hắn. Bi vì: Lễ vấn danh thực chất chính là một cuộc mua bán, mà

món hàng ở đây chính là Thúy Kiều. Người tới dạm hỏi thực chất là con buôn, được thế

nên vô phép, lấn lướt chủ nhà. Gia đình Vương viên ngoại, chính là người bán, phải nhún



nhường, chịu thiệt. Ở đây thể hiện giá trị nhân đạo xót thương và phẫn nộ: giá trị sắc, tài

của con người nay bị chà đạp đến tận cùng.

4. Sở Khanh

Tuy chỉ xuất hiện trong vài trang sách, nhưng cái tên Sở Khanh được Hoài Thanh

gọi là “lưu danh thiên cổ”, bởi là kiểu thông dụng nhất trong các nhân vật truyện Kiều.

Sở Khanh được Nguyễn Du cho xuất hiện trong khi Kiều đang bị nhốt ở lầu Ngưng Bích.

Lúc này Kiều đang cần một người giải thốt cho mình khỏi chốn lầu xanh, Sở Khanh

xuất hiện đúng vào lúc nàng cần hắn nhất, vì thế mới có thể thấy rõ được con người của

Sở Khanh. Bề ngoài cũng là chàng trai ngoại hình ưa nhìn, được Nguyễn Du khắc hoạ:

“Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng

Bóng nga thấp thống dưới mành

Trơng nàng chàng cũng ra tình đeo đai

Nhưng cái ngoại hình ấy chưa hấp dẫn được Kiều, cũng chưa có gì đáng ngờ vực.

Tuy nhiên, tiếp xúc Kiều một cách sổ sàng, đường đột và lời nói của hắn đáng lí Kiều

phải chú ý hơn:

Than ôi! sắc nước hương trời,

Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?

Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa sao hoa đến thế này hỡi hoa

Tức gan riêng giận trời già

Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng”

Hắn cũng biết cách ăn nói khéo léo, vừa thương xót, thơng hiểu cho Kiều bao

nhiêu điều, nhưng nói như thế cũng là tự hắn nhận rằng thiên hạ không ai hiểu mình.

Thương hoa tiếc ngọc rồi, hắn mới lên tiếng rằng sẽ cứu nàng ra khỏi chốn này như trở

bằng tay.

Thuyền quyên ví biết anh hùng

Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi.



Hắn nói có vẻ như rất dễ dàng trong khi đây là chuyện vận mệnh của một con

người, sao lại là như chơi? Hắn tỏ ra là một anh hùng hào kiệt, gặp hoạn nạn không thể

không ra tay tương trợ, cứu vớt. Lúc đầu nói năng từ tốn nhỏ nhẹ, lại viết thư qua lại với

Kiều để thể hiện sự cảm mến của mình và chứng minh rằng bản thân hắn sẽ là chỗ dựa

cho Kiều lúc này, để nàng có thể tin tưởng hắn mà đem hết tâm tư của mình để giải bày,

Kiều cũng khơng kịp nghĩ ngợi điều gì, vì hắn đã đánh trúng mong muốn tìm một tri kỉ

và một trang hiệp khách. Lúc đầu là thế, nhưng nếu là một người chính nhân qn tử thì

sẽ khơng lẻn vào phòng nàng trong lúc đêm khuya như thế. Kiều cũng có phần ngại

ngùng nhưng nghĩ rằng hắn là ân nhân của mình nên ra chào và nói chuyện với hắn. Lúc

này, mặt đối mặt, nghe chuyện của Kiều lại tiếp tục tỏ vẻ bản thân hơn trước. Nếu lúc

trước chỉ nói sng một câu là “ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi” thì lúc này hắn như

quyết tâm hơn, hỏi Kiều rằng “thế nào xin quyết một bài cho xong”, rồi hắn còn nói

khốc lác hơn:

Rằng: “ta có ngựa truy phong,

Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi.

Thừa cơ lẻn bước ra đi,

Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn.

Dù khi gió kép mưa đơn,

Có ta đây cũng chẳng ca cớ gì!”

Hắn nói bản thân mình có ngựa chạy nhanh, có hạ thủ tức là tay sai của mình lại

còn là người khoẻ mạnh có sức lực, Sở Khanh vừa khoe khoan thân thế của mình lại vừa

khuyên nhủ Kiều rằng hãy yên tâm vì với những thứ hắn có sẽ khơng cần phải lo lắng.

Hơn nữa, trong “thập tam lục kế” thì chạy là thượng sách. Đến đây, chúng ta sẽ cảm thấy

được con người Sở Khanh có phần khơng giống với một quân tử. Người quân tử thì ắt

đầu đội trời chân đạp đất, khơng có điều gì phải sợ mà phải chạy thoát thân. Nếu hắn là

một người quân tử thì chắc chắn sẽ dùng tiền của mình để chuộc Kiều ra, nhưng hắn

không như thế mà làm một chuyện mờ ám sau lưng người khác.

Kiều nghe những lời nói đó cũng có hồi nghi nhưng trong lúc cấp bách làm liều

nhắm mắt đưa chân “mà xem con tạo xoay vần đến đâu”, thế là sập bẫy của Sở Khanh,

mục đích của hắn đã đạt được. Lúc này thì con người hắn mới được vạch trần khi đưa

Kiều đi vào lúc trời gần sáng, đang đi thì nghe tiếng người ồn ào, Kiều “thổn thức gan

vàng” thì mới hay Sở Khanh đã “rẽ dây cương lối nào”. Chuyện đó do Tú Bà và Sở

Khanh thông đồng với nhau. Sở Khanh đã gạt nàng để cho Tú Bà có cớ để đánh đập, quát



mắng nàng, để nàng xin chừa và không nghĩ đến việc rời khỏi lầu xanh nữa mà sẽ tiếp

khách cho bà ta. Lúc ả Mã Kiều đưa nàng vào nhà kho nghỉ ngơi thì mới nói cho Kiều

hay về con người Sở Khanh và sự thật đằng sau:

Bạc tình nỏi tiếng lầu xanh

Một tay chơn biết mấy cành phù dung!

Đà đao, lập sẵn chước dùng,

Lạ gì một cốt, một đồng xưa nay!

Có ba mươi lạng trao tay,

Khơng dung chi có chuyện này, trò kia!

Rồi ra trở mặt tức thì

Bớt lời, liệu chớ sân si thiệt đời”

Lúc sau, Sở Khanh đã trở mặt đi vào, biết trước là Kiều nhưng vẫn làm nghơ muốn

xem mặt nàng và quát mắng nàng, lại còn định đánh đập nàng. Ta thấy được con người

Sở Khanh là một người hai mặt, trước nói một đằng sau làm một nẻo, lại còn xem như

chưa có chuyện gì, làm ra nhưng lại khơng thừa nhận,. Đến đây thì Kiều đã dùng “tích

việt” để vạch trần bộ mặt thật của Sở Khanh. Trước bao nhiêu người, lời ra tiếng vào,

cười chê khôn thấu, nên hắn lật lọng:

“Sở Khanh lên tiếng rêu rao:

Rằng nghe nói có con nào ở đây

Phao cho quyến gió rũ mây

Hãy xem cho biết mặt này là ai?”

Cái tốt đẹp ban đầu của Sở Khanh còn có thể ngờ vực, nhưng sự độc ác của hắn thì

khơng còn gì phải bàn cãi cả. Hắn xấu mặt nên muốn đẩy nàng xuống giếng khơi, cái trở

mặt man rợ ấy khiến người ta sửng sốt và kinh ngạc.

Sở Khanh là con người chuyên đi lừa lọc người khác, vì tiền mà sẵn sàng hãm hại

Kiều, bản chất lưu manh, giả dối, nguỵ biện cho mình, là một tên đàn ông xấu xa. Con

người của Sở Khanh đã trở thành đại diện cho loại người hay lừa gạt, dối trá, trở mặt với

người khác.



“Phụ tình án đã rõ ràng

Nhơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.”

Có thể thấy, Nguyễn Du đã bày tỏ mọi sự khinh bỉ và căm giận của mình vào tên

vơ lại ấy. Trong cuộc đời Kiều, chẳng biết nàng còn phải rơi đau đớn đến đâu nữa, nhưng

thi nhân họ Nguyễn liệu rằng đã rất trân trọng nàng khi đã gạt bỏ chi tiết trong Kim Vân

Kiều truyện là nàng phải ăn nằm với Sở Khanh. Nguyễn Du sẽ lại một lần im lặng trước

những phũ phàng của đời Kiều khi nàng rơi xuống vực sâu của một tai họa khác, một tai

họa mang tên Hồ Tơn Hiến.

5. Nhân vật Thúc Sinh

Nói như GS.Lê Đình Kỵ “trong ba người đàn ơng đã giữ vai trò quan trọng trong

đời Kiều, Thúc Sinh là vơ tích sự nhất, nhưng cũng là nhân vật hiện thực hơn cả”. Con

người của Thúc Sinh đã được Nguyễn Du miêu tả một cách tài tình, tính cách ham mê

“của lạ”, trụy lạc, nhu nhược, hèn nhát và giả dối, tất cả đều được thể hiện qua những

hành động lời nói của chàng ta.

Sau chuyện bị Sở Khanh lừa thì nàng đã yên phận cho đến khi Thúc Sinh xuất

hiện. Thúc Sinh là người có dòng dõi văn chương, có ăn học. Dù thế, nhưng cũng khơng

qua được ải mĩ nhân, chàng cũng thích đến lầu xanh để ngắm nhìn, uống rượu, ngâm thơ

với các hoa khơi, càng mê mẫn, thêm cái tính tiêu tiền hoang phí nên càng “say” trong

khơng khí của lầu xanh. Nếu chỉ như thế, ta thấy được Thúc Sinh cũng chỉ là một người

tầm thường. Cho đến một hôm trông thấy Kiều đang tắm thì chàng đã mê mẩn dáng hình

của nàng:

Rõ màu trơng ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên

Quan hệ giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều âu cũng đượm màu ăn chơi, vẫn là đồng

tiền của chốn lầu xanh chen vào cả. Quyến luyến không sao rời đi, muốn cưới nàng làm

vợ nên hỏi rõ đầu đuôi ngọn ngành. Kiều sau khi giải bày cho Thúc Sinh thì đã có ý

khơng dám trèo cao. Thúc Sinh vẫn một mực muốn cưới nàng về làm vợ lẽ và hứa rằng

sẽ che chở cho nàng:

Sinh rằng: “hãy nói dè chừng,

Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao?

Đường xa chớ ngại Ngơ Lào,



Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.

Đã gần chi có điều xa,

Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều!”

Đến đây, ta thấy Thúc Sinh tuy không phải là người quân tử, vẫn mê đắm mĩ nhân,

vẫn tiêu tiền phung phí nhưng là người biết thương hoa tiếc ngọc, một lời đã quyết thì sẽ

làm cho bằng được, có lòng và thể hiện sự chân thật của mình. Nhưng sao lời hứa hẹn lại

kết bằng chữ “liều”, Thúc Sinh không lừa dối Kiều, nhưng trong lời nói đã cho thấy trước

một cái gì bấp bênh, trống rỗng. Kiều đang ở thế tuyệt vọng của người chết đuối đang

kiếm tìm một mảnh nổi để bám víu, nên với Thúc Sinh, đó là người có thể giúp nàng ra

khỏi chốn lầu xanh, mặc mọi rủi may. Thúc Sinh nhân cơ hội Kiều đi “thừa lương” thì

đem giấu nàng ở một nơi và mách tin cho Tú Bà để bà ta chấp nhận Thúc Sinh chuộc

nàng ra khỏi lầu xanh. Thế nhưng, cái cương quyết ấy cũng chỉ là vì chàng “quen thói

bóc rời” và tung tiền ra “cậy tay thầy thợ”.

Nửa năm chung sống hạnh phúc thì cha của Thúc Sinh đã đến và ngăn cấm chàng

lập thiếp lại còn là một cô gái lầu xanh. Thúc Sinh đã lên tiếng bảo vệ Kiều bằng những

lời lẽ hết sức chân thật, nhưng là của một kẻ ăn vụng bị bắt phạt:

Rằng: “Con biết tội đã nhiều,

Dẫu rằng sâm sét búa rìu cũng cam.

Trót vì tay đã nhúng chàm

Dại rồi con biết khơn làm sao đây!

Cùng nhau vả tiếng một ngày,

Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành

Lượng trên quyết chẳng thương tình,

Bạc đen thơi có tiếc mình làm chi!”

Dù chàng có nói hết lời nhưng cha chàng vẫn đem lên quan xét xử, nhìn thấy Kiều

bị những trận đòn roi mà lòng đau xót khơn ngi, vừa khóc vừa trách là do bản thân nên

Kiều mới bị như thế. Giải bày với mọi người rằng là do mình cầu thân với nàng trước

nhưng khơng ngờ bây giờ lại khiến nàng khổ vì chàng. Thúc Sinh dễ dàng phạm lỗi

nhưng cũng dễ dàng nhận lỗi. Nếu lấy nước mắt mà đo tình cảm, thì Thúc Sinh quả có



tình với Kiều, nhưng trong cái tình ấy còn có sự hối lỗi về mình. Rồi Thúc Sinh nói rằng

Kiều có chút tài nghệ, Kiều đề vài câu thì cha chàng đã chấp nhận nàng.

Thúc Sinh nghe Kiều khuyên răn về nhà với vợ cả thì cũng nghe theo và trở về,

đến nhà thì tình nghĩa vợ chồng lại mặn nồng mà uống rượu vui vẻ, muốn giải bày:

“Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.

Mấy phen cười nói tỉnh say,

Tóc tơ bất động mảymay sự tình.

Nghĩ là bưng kín biệng bình,

Nào ai có khảo mà mình lại xưng!”

Tưởng rằng vợ mình tin tưởng nhưng khơng hề biết rằng khi trở về nơi ở của Kiều

thì mới hay nhà cửa bị đốt thành tro, trong nhà còn có bộ xương nên ngỡ rằng Kiều đã

chết. Thúc Sinh vô cùng đau khổ, nhưng thật ra cái nhớ tiếc ấy cho ta thấy cũng là của kẻ

hưởng thụ phàm tục, và cũng ngi ngoai nhanh chóng:

“Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân

Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên”

Nhìn cảnh nhớ người chàng bèn tìm về cố hương. Đến đây, Thúc Sinh mới hay

Hoạn Thư đã bắt Kiều về làm người ở, nếu biết trước sự việc thì chàng đã nói thẳng cho

vợ chàng biết có lẽ sẽ khơng xảy ra những chuyện đau lòng như thế này. Trơng thấy Kiều

mà khơng dám nhận mặt, trong lòng xót xa vơ bờ. Chàng khơng muốn uống thêm rượu

thì Hoạn Thư hăm rằng sẽ rót đòn roi vào Kiều, bắt Kiều gải đàn cho vợ chồng họ nghe,

Thúc Sinh không dám làm trái lời vợ. Chàng tỏ ra khúm núm, than thầm, run sợ, bỏ mặc

Hoạn Thư làm gì Kiều thì làm. Trong cuộc rượu này, Thúc Sinh vừa là người ngoài cuộc,

vừa là người trong cuộc. Sau lại đúng lúc Hoạn Thư trở về nhà vấn an thì Thúc Sinh mới

dám lẻn ra ngoài gặp nàng:

Những là ngẩm thở, nuốt than

Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.

Thừa cơ, Sinh mới lẻn ra,

Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng

Sụt sùi giỡ nổi đoạn trường,



Giọt châu tầm tã, đẫm tràng áo xanh.

Cũng trò khóc lóc giở ra ngay khi bỏ mặc nàng trước sự cay độc của Hoạn Thư,

Thúc Sinh tỏ sự đau lòng khi thấy Kiều bị lâm vào cảnh này. Thế mà đến khi bị Hoạn

Thư phát hiện tra hỏi sự tình thì lại chối quanh chối co:

Dối quanh, Sinh mới liệu lời:

“Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh”.

Khen rằng: “Bút pháp đã tinh,

So nào với thiếp Lan đình nào thua!

Thúc Sinh đến nước này vẫn khơng dám thừa nhận, vẫn cho mình là kẻ vơ can khi

đứng trước vợ, và không chịu trách nhiệm khi đứng trước Kiều. Ta thấy Thúc Sinh không

phải là người quân tử, dù có tốt hơn Sở Khanh nhưng lại là người sợ vợ, sợ vợ nhưng vẫn

đến lầu xanh vẫn ăn chơi sa đoạ, cảm mến con gái khác đem về làm vợ nhưng cũng

không dám thừa nhận với người vợ cả.

Sau này, khi cùng Hoạn Thư bị giải đến chịu tội trước Kiều, Thúc Sinh lại tỏ ra

“mừng rỡ khơn cầm” trong lòng, Thúc Sinh run sợ trước Từ Hải, chứng tỏ chàng khơng

nghĩ là Kiều chịu ơn mình mà nghĩ mình phải đền tội, nhưng chàng mừng cho Kiều:

“Lòng riêng mừng sợ khơn cầm

Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.”

Đây cũng là một mặt tốt của Thúc, nhưng cũng chứng tỏ Thúc chưa bao giờ yêu

Kiều thực lòng của một người quân tử. Quan hệ giữa Kiều và Thúc chỉ có thế thơi, nên

Kiều cũng khơng ngần ngại mời chàng đến giáp mặt với Từ Hải. Vừa thua kém Hoạn

Thư, giờ đây Thúc cũng thua kém Kiều khi nàng chẳng qn lòng cố nhân, còn chàng thì

cuối cùng đã bỏ rơi Kiều.

 Thúc Sinh thuộc loại người trung gian trong truyện Kiều, có cái gì ngờ ngợ của

sự hỗn hợp Kim Trọng - Sở Khanh. Thúc Sinh muốn được như Kim Trọng và Từ Hải,

nhưng vì ươn hèn, bất lực và lại khơng có mối tình chân chính, nên hóa ra lại xử sự như

người dưng, khi lại như một Sở Khanh bất đắc dĩ. Giữa tốt - xấu, thật - giả, Nguyễn Du

đã xây dựng một Thúc Sinh mang ý nghĩa khách quan của một con người mang hai mặt

đen trắng.

6. Nhân vật Hồ Tôn Hiến



a. Lai lịch

Hồ Tơn Hiến được giới thiệu là:

“Có quan Tổng đốc trọng thần

Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài”

(câu 2451 và 2452)

Chức vụ: làm quan Tổng đốc, có tài kinh luân. Tổng đốc được coi là một vị quan

"trọng thần" của triều đình được nhà vua trọng vọng:

“Ðẩy xe vâng chỉ đặc sai

Tiện nghi bát tiễn việc ngoài đổng nhung”

(Câu 2453- 2454 )

Là người có chức cao quyền trọng, đi thì có kẻ sai người hầu, có người phục vụ

cho cuộc sống sang trọng, giàu có của một người quý tộc. Hồ Tôn Hiến đã được tác giả

giới thiệu một cách khái quát: chức quan to đứng đầu một tỉnh thời phong kiến, có tài cai

trị, được vua tin tưởng cử ra trận.

b. Tính cách:

- Thơng minh:

Hồ Tơn Hiến đã nghiên cứu kỹ đối phương, không đánh giá thấp Từ Hải, biết "Từ

là đấng anh hùng", lại biết người luôn sát cánh, cùng bàn bạc việc quân với Từ Hải là

Thúy Kiều. Là con người hành động, nhưng Hồ Tôn Hiến hành động như thế nào?

“Hồ công quyết kế thừa cơ

Lễ tiên sinh hậu khắc cờ lập công”

Hành động của Hồ Tôn Hiến được Nguyễn Du miêu tả với tồn chữ Hán, bật lên

cái khí thế tàn bạo, phản trắc của nhân vật. Không động binh vội mà thực hiện mưu kế để

làm tan rã ý chí chống đối của đối phương. Mưu kế đó là "Chiêu an".

Dù mưu kế "chiêu an", dù lễ vật hậu hĩnh, dù lời "thuyết hàng" ngon ngọt cũng

khơng có tác dụng gì, cũng không lay chuyển được người anh hùng chống bất công, ưa tự

do, không chịu khuất phục. Hồ Tôn Hiến đã rất hiểu đối phương nên ra ngón đòn "chiêu

an", "lễ vật", "thuyết hàng" tuy bước đầu không làm Từ Hải mắc mưu nhưng cũng đã làm

cho vợ của Từ Hải thấy xiêu lòng, đi theo chiều hướng có lợi cho triều đình.

- Gian xảo



Hồ Tơn Hiến là một quan Tổng đốc được mang danh trọng thần của triều đình,

nhiều tài kinh luân nhưng cái tài ấy nằm gọn trong một mưu mẹo rẻ mạt, khơng tín nghĩa.

Biết Từ “là đấng anh hùng” nên xử sự một cách hèn nhát.Hắn mượn tay Kiều thuyết

phục, chiêu an Từ Hải. Nhưng khi Hải bỏ võ khí về với triều đình, thì Hồ Tơn Hiến lại

âm mưu, bố trí phục binh đánh úp Từ Hải. Có thể thấy, Hồ Tơn Hiến là mẫu người đã

phản bội tất cả những ai mà hắn có thể phản bội được, từ kẻ địch đã nhận lời quy thuận,

đến một người phụ nữ mà mình đã nhờ vả để lập công.

- Đê hèn

Giết Từ Hải xong, hắn gặp lại Kiều như thế nào?

“Đem vào đến trước trung quân

Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han

Rằng: “Nàng chút phận hồng nhan

Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương?...”

Giết chồng nàng, còn tỏ ra ân cần, đó chẳng khác nào là một lời thương hại đầy

lăng nhục. Mà sự thương hại ở đây liệu có thật khơng, khi nó vẫn không ngăn cản hắn mở

tiệc mở tiệc mừng thắng trận, một bữa tiệc còn tanh máu của chồng nàng và mừng trên

cái tan nát của cuộc đời nàng. Những tưởng như thế đã quá sức độc ác, ngờ đâu hắn lại

bắt Kiều hầu rượu bên bàn tiệc, lại dở say bắt nàng đánh đàn...

"Nghe càng đắm, ngắm càng say

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình"

Tiếng đàn “chau mày rơi châu” đầy xa xót cho thân phận Kiều, ấy vậy hắn vẫn có

thể bng lời ve vãn làm nhục Kiều, nỗi nhục này còn hơn cả nỗi nhục phải đánh đàn hầu

rượu cho Hoạn Thư và Thúc Sinh. Con người được xem là một trọng thần, trong tiệc hạ

cơng, còn bày tỏ đểu giả. Trong bữa tiệc này, Hồ Tôn Hiến lại tẩn mẩn tán tỉnh hỏi Kiều

sẽ tái giá với ai?

Dạy rằng: "Hương lửa ba sinh

Dây loan xin nối cầm lành cho ai?"

Thưa rằng: "Chút phận lạc lồi

Trong mình nghĩ đã có người thác oan

Còn chi nữa cánh hoa tàn

Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

=> Cách nói năng của hắn đã bộc lộ một phần về con người của hắn. Hắn chẳng có chút gì nho nhã, lịch sử của chàng “Giám Sinh”, hạng người có học.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×