Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần 1. MỞ ĐẦU

Phần 1. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

2

chung, Đồn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa nói riêng, chưa thực sự làm tốt công tác

tham mưu, tư vấn, phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực được phân cơng,

khả năng và hiệu quả đóng góp sức mình vào cơng cuộc xây dựng và phát triển phát

triển kinh tế, xã hội của đất nước còn nhiều hạn chế, yếu kém.

Xuất phát từ những thực tại nêu trên, tôi lựa chọn đề án: “Nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ, viên chức Đoàn Mỏ- Địa chất Thanh Hóa đến năm 2020”.

Nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức Đồn mỏ- Địa chất có đủ năng

lực, giỏi về chuyên môn và tốt về phẩm chất chính trị, phát huy nội lực của bản thân

để tạo sức mạnh cho tập thể đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước.

1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

1.2.1. Mục tiêu chung

Đánh giá tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ, viên chức của Đoàn Mỏ - Địa

chất Thanh Hóa, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp quy hoạch, đào tạo nguồn nhân

lực tại các ĐVSNCL, đáp ứng yêu phát triển thời kỳ CNH- HĐH đất nước.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở khoa học lý luận, cơ sở thực tiễn về công tác quản lý, đào

tạo nguồn lực con người đáp ứng yêu phát triển thời kỳ CNH- HĐH đất nước.

- Đánh giá làm rõ thực trạng công tác quản lý, đào tạo nguồn lực con người tại

Đoàn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.

- Đánh giá làm rõ những thuận lợi và khó khăn của cơng tác quản lý, đào tạo

nguồn lực con người tại Đoàn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.

- Đưa ra biện pháp, giải pháp hữu ích nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đào

tạo nguồn lực con người tại Đồn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa, đáp ứng yêu phát triển

thời kỳ CNH- HĐH đất nước..

1.3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN

- Nghiên cứu, thống kê và hệ thống hóa cơ sở khoa học lý luận, cơ sở thực tiễn

về công tác quản lý, đào tạo nguồn lực con người đáp ứng yêu phát triển thời kỳ

CNH- HĐH đất nước.

- Điều tra, thống kê tổng hợp, số liệu về công tác quản lý, đào tạo nguồn lực

con người tại Đồn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của cơng tác quản lý, đào tạo nguồn

lực con người tại Đoàn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu

quả công tác quản lý, đào tạo nguồn lực con người tại Đồn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.



3

1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của đề án là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn

lực con người tại các cơ quan, đơn vị, địa phương đang công tác.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về khơng gian: Thực hiện tại Đồn Mỏ - Địa chất trực thuộc Sở Tài nguyên

và Môi trường Thanh Hóa.

- Về Thời gian:

+ Số liệu điều tra trong thời gian 5 năm (2012- 2016).

+ Thời gian thực hiện đề án: 4 năm ( 2017-2020).



4

Phần 2. NỘI DUNG

2.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

2.1.1. Căn cứ khoa học, lý luận.

Phát triển con người là một trong những mục tiêu quan trọng nhất để phát triển

kinh tế- xã hội và đó cũng là phương tiện tốt nhất để thúc đẩy sự phát triển, không

chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn cả trên tồn thế giới. Trong mỗi tổ chức đều

nhận thấy được công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là rất quan trọng nhằm

thúc đẩy sự phát triển, khả năng cạnh tranh của đơn vị. Bên cạnh đó cơng tác đào

tạo phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khơng chỉ đem lại lợi ích cho tổ

chức mà còn giúp cho người lao động cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng

thành công các thay đồi về cơng nghệ, kỹ thuật. Nhờ có đào tạo và phát triển mà

người lao động tránh được sự đào thải trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội.

Trong những năm gần đây, vấn đề về văn hóa- giáo dục, đào tạo nguồn nhân

lực được Đảng và Nhà nước đặt ở vị trí cực kỳ quan trọng. Đảng ta nêu lại một câu

nói rất nổi tiếng trước đây nhưng hầu như suốt mấy thế kỷ đã bị coi nhẹ, đó là câu

nói của Thân Nhân Trung, trong bài văn bia khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ

3 (1442): “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, được dựng vào năm Hồng Đức thứ 15

(1484). Nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế

nước yếu mà càng xuống thấp.

Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai

là mẹ của mọi của cải vật chất; C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của lao

động sản xuất. Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri

thức, theo ông ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ

của con người thì khi sử dụng khơng những khơng mất đi mà còn lớn lên" (Power

Shift-Thăng trầm quyền lực- Avill Toffer).

Theo lý luận kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân

số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu

hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm

việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ;

về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chun mơn, kiến thức và trình độ lành

nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao

động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Nguồn nhân

lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát



5

triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh:

Thứ nhất là “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc

thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “Bất cứ chính sách, cơng tác gì nếu có cán bộ

tốt thì thành cơng, tức là có lãi. Khơng có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.

Thứ hai là làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đây là nhiệm

vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ,

phức tạp. Để hồn thành nhiệm vụ đó đòi hỏi Đảng phải xây dựng được một đội

ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài, trong đó đức là quan trọng hàng đầu. Người chỉ rõ,

đạo đức là “gốc”, nền tảng của người cách mạng. Người nhấn mạnh: “Cũng như

sơng thì phải có nguồn mới có nước, khơng có nguồn thì sơng cạn. Cây phải có gốc,

khơng có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, khơng có đạo đức thì

tài giỏi mấy cũng khơng lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức của người cán bộ cách

mạng được thể hiện trước hết ở chỗ: Ln đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên

hết, trước hết, biết giải quyết đúng đắn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của giai cấp,

của dân tộc. Đạo đức cách mạng là sống lành mạnh, trong sạch, khơng xa hoa, lãng

phí, khơng hủ hố, tham ơ, khơng đặc quyền đặc lợi. “Đạo đức cách mạng là bất kì

ở cương vị nào, bất kì làm cơng việc gì, đều khơng sợ khó, khơng sợ khổ, đều một

lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích

xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Thứ ba là cán bộ phải có đức nhưng cũng phải có tài. Tài của người cán bộ thể

hiện ở năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn, trong đó đặc biệt là năng lực

nắm bắt, tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Cùng với đức và tài, người cán bộ còn phải có phong cách công tác quần chúng,

thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, biết lắng nghe ý kiến, tôn trọng quyền

làm chủ của nhân dân, khéo tổ chức và lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi đường

lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm

quyền, Người yêu cầu cán bộ càng phải: “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và

luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và

nhờ đó mà Đảng thắng lợi..., cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân

chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”.

Để hoàn thành nhiệm vụ, cán bộ dù ở cương vị nào cũng phải tích cực học tập,

khơng ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt. Học tập càng khá, thì giải quyết các vấn

đề càng dễ dàng, công việc càng trôi chảy. Để học tập tiến bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu



6

người cán bộ phải “ Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân,

không học ở nhân dân là một khuyết điểm rất lớn”.

Từ những cơ sở lý luận nêu ở trên có thể thấy rằng:

Tiếp cận dưới góc độ của kinh tế chính trị có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng

hồ thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc

gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân

tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ

cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.

Tiếp cận dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh thấy rằng: Cán bộ là một trong

những viên ngọc quý, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Để xây dựng đội ngũ

cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, cần

quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người. “Phải trọng nhân tài, trọng cán

bộ, trọng mỗi người có ích cho cơng việc chung của chúng ta”.

Để phát triển một đất nước nói chung, một cơ quan đơn vị nói riêng rất cần

đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong thời đại ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức

và trong xu thế tồn cầu hố, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL đặc biệt là NNL CLC

ngày càng thể hiện tính quyết định của nó. Lý luận về sự tăng trưởng trong giai

đoạn hiện nay chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao

phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: Áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng

cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng NNL. Trong đó động lực quan trọng nhất của

sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNL CLC,

tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh

nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân

lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần

thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL CLC, có mơi trường pháp lý thuận lợi

cho đầu tư, có mơi trường chính trị- xã hội ổn định.

Nước ta đã và đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN, bước vào giai đoạn CNH- HĐH, do đó cần chú trọng bốn nội dung sau đây:

Thứ nhất là, Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định q

trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lao động là

nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.

Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật,

khoa học cơng nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó NNL



7

được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi

quốc gia. So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám

có ưu thế nổi bật ở chỗ nó khơng bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử

dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và

chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả. Vì vậy, con

người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản

xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định q trình phát triển

kinh tế - xã hội. Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện

thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và

phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện :

- Đường lối kinh tế đúng đắn.

- Biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.

- Có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo.

- Có các nhà doanh nghiệp tài ba.

Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết

định sự thành công của sự nghiệp CNH- HĐH; là q trình chuyển đổi căn bản,

tồn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công

là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với

công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra

năng suất lao động xã hội cao. Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát

triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khi đất nước ta đang bước vào giai

đoạn CNH- HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế

- xã hội còn thấp, do đó u cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa

quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước và phát triển bền

vững. Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm

yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách

tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước

nhằm phát triển bền vững.

Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là

nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn.

Từ những cơ sở khoa học, lý luận nêu trên có thấy rằng việc: Nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ, viên chức Đoàn mỏ- Địa chất Thanh Hóa là cần thiết và cấp bách.



8

2.1.2. Căn cứ chính trị, pháp lý

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã

từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trong Nghị

quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây khơng chỉ là quốc

sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà

còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống.

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013 của Hội nghị Trung ương 8 khoá

XI và Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09-6-2014 của Chính phủ ban hành Chương

trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ,về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Điểm mới trong tư duy của Đại hội Đảng lần thứ XI là, một mặt, khẳng định vai trò

chủ thể của con người. Mặt khác, chỉ rõ để con người có điều kiện phát triển tồn

diện và thực sự là chủ thể, cần phải có cơ chế thích hợp. Cơ chế đó là mở rộng dân

chủ, tạo mơi trường và điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát huy tối đa quyền làm

chủ của mình. Bởi lẽ, dân chủ là một trong những điều kiện căn bản nhất để phát

huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người. Đồng thời, một khi dân chủ được bảo

đảm đầy đủ sẽ tạo ra sự đồng thuận xã hội cao, đó là yếu tố không thể thiếu để tạo

động lực phát triển đất nước.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là

khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2020. Đại hội

Đảng lần thứ X (2006) đã chỉ rõ, để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNHHĐH gắn với kinh tế tri thức phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tức là,

chuyển hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo chiều rộng sang chiều sâu,

coi trọng và gia tăng chất lượng của nguồn nhân lực. Song, Đại hội Đảng lần thứ X

cũng như các kỳ đại hội trước chưa xác định đó là khâu đột phá, là những khâu

trọng yếu của sự phát triển. Lựa chọn đúng khâu đột phá sẽ tạo ra những tiền đề,

những điều kiện và môi trường thuận lợi để giải phóng mọi tiềm năng và khai thác

có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Trong ba khâu đột phá chiến lược mà

Đảng ta xác định thì “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất

lượng cao” được xem là khâu đột phá thứ hai.

“Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng

khoa học, công nghệ”. Trong điều kiện khoa học công nghệ và kinh tế tri thức phát

triển nhanh chóng, những nước có trình độ phát triển thấp vẫn có thể tận dụng thời



9

cơ, ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại để vươn lên tránh

nguy cơ tụt hậu và tạo ra sự phát triển nhanh, bền vững. Điều đó chỉ trở thành hiện

thực nếu có sự gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư gia tăng nhanh chóng chất lượng nguồn

nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến. Đối với Việt

Nam, một nước có xuất phát điểm thấp thì sự gắn kết này là yêu cầu nghiêm ngặt và

càng phải được coi trọng, thậm chí là vấn đề sống còn của sự nghiệp đổi mới ở

nước ta. Do vậy, “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và

ứng dụng khoa học, công nghệ” là một nội dung mới thể hiện tính hướng đích của

Đảng ta trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững.

Trong Văn kiện đại hội XII (2016) kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ

trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát

triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm

của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực

Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục

nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.

Đại hội Đảng lần thứ XII đặc biệt chú trọng các nhiệm vụ, giải pháp gắn kết

giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ với phát triển nguồn nhân lực, nhất là

nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ hiệu quả quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH,

đổi mới mơ hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến

lược: Với giáo dục, đào tạo: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất

nước nói chung và cho từng ngành, từng lĩnh vực nói riêng, với những giải pháp

đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong

nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quy hoạch lại mạng lưới

cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Tăng cường quản lý nhà nước về

nguồn nhân lực, gắn kết cung - cầu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo điều

kiện hỗ trợ dịch chuyển lao động và phân bố lao động hợp lý, hiệu quả.

Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ,

doanh nghiệp khoa học, công nghệ trong nhà trường; thí điểm chuyển mơ hình

trường cơng lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý, đầu tư.

Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, chú trọng giáo dục

hướng nghiệp, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đã khẳng định: Thu hút, phát huy mạnh

mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật



10

chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển

xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng

cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,

phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy nhân tố con người trong

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân

cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng mơi trường văn hố lành

mạnh.

2.1.3. Căn cứ thực tiễn

Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng và nhận thức rõ hơn rằng phát triển

NNL, nâng cao chất lượng NNL là những khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự

phồn vinh của dân tộc. Sự thành công vượt trội của Nhật bản, Hàn quốc, Xingapo…

là minh chứng hùng hồn cho thắng lợi của họ khi đầu tư vào giáo dục. Có thể nói

rằng, sự cạnh tranh ngày nay giữa các quốc gia hay giữa các doanh nghiệp thực chất

là cạnh tranh về chất lượng của nguồn nhân lực. Mà chất lượng của nguồn nhân lực

liên hệ chặt chẽ với quá trình giáo dục, đào tạo và phát triển.

Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa có một số ĐVSNCL thành cơng mơ hình đào tạo,

bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức trong thời kỳ đổi mới.

Chúng tôi xin lựa chọn mơ hình thực tiễn tiêu biểu, xứng đáng để các Đơn vị trong

tỉnh học tập và noi gương đó là Bệnh viện Nhi Thanh Hóa.

Bệnh viện Nhi Thanh Hóa là đơn vị sự nghiêp cơng lập thuộc Sở Y tế Thanh

Hóa được thành lập theo Quyết định số 1348/QĐ- UB, ngày 01 tháng 06 năm 2001

của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hố. Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4/2007,

ban đầu là Bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế Thanh Hố, quy mơ 200 giường

bệnh; Với tổng số cán bộ, viên chức là 60. Cơ vật chất đang trong thời kỳ xây dựng

nên rất nghèo nàn. Bệnh viện đã quan tâm đầu tư trang trang thiết bị, đặc biệt công

tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức trong Đơn vị.

Trong đó quan hệ hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao( NNL CLC) được

coi trọng hàng đầu:

Thứ nhất quan hệ hợp tác trong nước: Bệnh viện đã thường xuyên quan tâm

hợp tác đào tạo với bệnh viện Nhi Trung ương- Hà Nội và Bệnh viện Việt Đức- Hà

Nội nâng cao kỹ năng chuyên môn, thực hành ứng dụng kỹ thuật cao, đặc biệt là

khả năng phục vụ và quản lý.

Thứ hai quan hệ hợp tác quốc tế: Hợp tác quốc tế là một trong những nhiệm vụ

quan trọng của Bệnh viện Nhi Thanh Hoá. Hoạt động này đã góp phần thúc đẩy sự



11

phát triển khoa học kỹ thuật và là cơ hội để giao lưu, hội nhập với các nước trong

khu vực cũng như quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế đã giúp Bệnh viện nâng cao

kỹ năng chuyên môn, khả năng phục vụ và quản lý. Sự hiệu quả của công tác đối

ngoại đã giúp cho Bệnh viện phát triển nhiều kỹ thuật chuyên khoa sâu như phẫu

thuật tim hở thường quy từ năm 2010, đặt dù bít ống thơng động mạch, ....phẫu

thuật nội soi ổ bụng (cắt đại tràng, cắt thực quản, gan....), phẫu thuật chỉnh hình trật

khớp háng bẩm sinh, các phẫu thuật tạo hình mơi, vòm họng (Sứt mơi hở vòm).

Các tổ chức đã, đang hợp tác với bệnh viện gồm: POF (Hoa Kỳ), Children Action

(Thuỵ Sỹ), Đại học quốc gia Singapore, Project Viet Nam (Uc), International

women’s Club (Đan Mạch), SmileTrain (Hoa Kỳ), Vinacapital, Đông Tây Hội Ngộ

(Hoa Kỳ), Hội phẫu thuật nụ cười Hàn Quốc. Bệnh viện cũng là cơ sở thực hành

cho các sinh viên y khoa. Trong thời gian qua, đã có 05 sinh viên của các trường đại

học y từ Anh đến thực tập. Phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức nhiều hội thảo

chuyên đề khoa học tại Thanh Hoá: Hội thảo chuyên đề về điều dưỡng, hội thảo về

chuyên đề thần kinh và hô hấp…được dự luận trong tỉnh đánh giá cao về mặt tổ

chức và chuyên môn; Riêng hợp tác với tổ chức Children Action (Thuỵ Sỹ) đã tổ

chức khám cho hàng nghìn bệnh nhân và phẫu thuật miễn phí cho hơn 300 bệnh

nhân/ năm, mắc các bệnh về dị tật vận động, di chứng bỏng. Bên cạnh đó, Bệnh

viện cũng tranh thủ viện trợ tài chính của các tổ chức Smile train (Hoa Kỳ) hỗ trợ

miễn phí về phẫu thuật, kinh phí đi lại cho các bệnh nhân bị sứt môi hở hàm ếch…

Từ năm 2012 đến nay, Bệnh viện tiếp tục được tổ chức Children Action (Thuỵ Sĩ)

chuyển giao đào tạo về chương trình phục hồi chức năng cho trẻ bại não.

Sau 5 năm (2007- 2012) xây dựng và trưởng thành, tháng 4/ 2012 bệnh viện đã

trở thành bệnh viện hạng I. Đến nay (12/2015) từ một Bệnh viện tuyến tỉnh đã phát

triển thành Bệnh viện hàng đầu khu vực Bắc Miền trung, với quy mô thực tế 800

gường bệnh, với tổng số cán bộ, viêc chức, lao động là 725 người, trong đó: Bác sĩ

CKII: 05 ; Dược sĩ CKII: 01; Thạc sĩ: 26; Bác sĩ CKI: 39; Bác sĩ sơ bộ nhi: 54;

Dược sĩ ĐH: 08 ; DSTH: 25; Tổng số ĐD/ KTV: 435 (Ths: 02 , ĐH: 51 , CĐ và

TC: 391); Lao động khác: 132. Với bộ máy tổ chức hùng hậu bao gồm: 8 phòng, 23

khoa. Thực hiện 34 kỹ thuật trong đó có nhiều kỹ thuật cao như: Bơm surpactant

điều trị bệnh màng trong; Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm theo dõi áp lực tĩnh

mạch trung tâm; Lọc máu liên tục, lọc màng bụng cấp cứu; Nội soi hô hấp can

thiệp; Nội soi tiêu hóa, cắt polip đại trực tràng nội soi; Điều trị tự kỷ, điều trị và

phục hồi chức năng cho trẻ bại não, tiêm toxin; Phẫu tim tim kín, tim hở: fallot 4,



12

VSD, TGA... Can thiệp tim mạch nong hẹp động mạch lớn, đặt dù coil: PDA, ASD..

Các phẫu thuật nội soi; Các phẫu thuật bụng cấp cứu; Cắt u nang ống mật chủ, nối

mật ruột; Cắt gan.. Phẫu thuật điều trị bệnh Megacolon 01 thì kết hợp nội soi; Các

phẫu thuật sơ sinh (teo thực quản, khe hở thành bụng, thốt vị cơ hồnh bẩm sinh,

VPM sơ sinh …); Phẫu thuật các loại chấn thương sọ não kín, hở; Phẫu thuật tạo;

Cắt Amidal gây mê, cắt A, nạo VA bằng dao Plasma...; Phẫu thuật tai xương chũm;

Sàng lọc điếc bẩm sinh.. Chụp Cắt lớp vi tính; Chụp mạch máu bằng hệ thống DSA.

Tóm lại có thể nói Bệnh viện Nhi Thanh Hóa là thực tế điển hình trong việc

đầu tư đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức để nâng

tầm bệnh viện từ tuyến tỉnh lên bệnh viện khu vực và rất có thể trong tương lai

ngang tầm với bệnh viện tuyến trung ương.

2.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN

2.2.1. Thực trạng công tác quản lý, đào tạo nguồn lực con người tại Đồn

Mỏ - Địa chất Thanh Hóa.

Đồn Mỏ - Địa chất Thanh Hóa là đơn vị sự nghiệp cơng lập (ĐVSNCL) trực

thuộc Sở tài ngun và Mơi Trường Thanh Hóa tự đảm bảo một phần kinh phí

thường xun, có tư cách pháp nhân cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà

nước trên các lãnh vực địa chất, khoáng sản và môi trường.

Hoạt động nghề nghiệp của cán bộ, viên chức trong Đoàn Mỏ - Địa chất là

việc thực hiện cơng việc hoặc nhiệm vụ có u cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng

chun mơn, nghiệp vụ trong đơn vị theo quy định của UBND tỉnh.

Chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được thực hiện theo Quyết định

số: 1559/QĐ-UB, ngày 28/5/2009 của chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, bao gồm:

- Tổ chức điều tra cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản;

- Khảo sát, điều tra và lập quy hoạch về địa chất khoáng sản;

- Khảo sát địa chất cơng trình, địa chất thủy văn; đo vẽ địa hình;

- Khảo sát và thiết kế khai thác, xây dựng mỏ;

- Phân tích cơ, lý, hóa các mẫu khống sản, các chỉ tiêu về mơi trường, lập báo

cáo đánh giá tác động môi trường, giám sát môi trường.

- Tư vấn, dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp tất cả các lãnh vực

trên.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, ngoài ban lãnh đạo đoàn (03 người: 01 Đoàn trưởng,

02 P. Đoàn trưởng) cơ quan biên chế thành 4 phòng có chức năng, nhiệm vụ như sau:

1. Phòng Hành chính - Tổng hợp:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần 1. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×