Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các cấp rất quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, Quyết định, Chương trình, Kế hoạch, văn bản hướng dẫn ... nhằm đẩy mạn

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các cấp rất quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, Quyết định, Chương trình, Kế hoạch, văn bản hướng dẫn ... nhằm đẩy mạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, Quyết định, Chương trình, Kế

hoạch, văn bản hướng dẫn ... nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông

dân , nông thôn. Dưới đây là những văn bản làm căn cứ để xây dựng đề án:

1- Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ

sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020.

2- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;

3- Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) của Đảng “Về đổi mới, kiện toàn

tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mớ tổ chức bộ máy nhà

nước, MTTQ và các đồn thể chính trị - xã hội”;

3- Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) của Đảng “Về tiếp tục đổi mới

phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”;

4- Nghị quyết số 26 – NQ/TW, ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương

Đảng “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;

5- Chỉ thị số 59 – CT/TW, ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về “Tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân

Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn”;

6- Kết luận số 61, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về

Đề án”Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nơng dân Việt Nam trong phát

triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân

Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020”;

7- Kết luận số 62 – KL/TW, ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị về “Tiếp

tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đồn thể

chính trị - xã hội”;

8- Quyết định số 673/QĐ – TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính

phủ về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực

hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nơng

thơn, giai đoạn 2011 – 2020;

9- Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khóa VI, Nghị quyết Đại hội đại biểu

Hội Nơng dân Việt Nam lần thứ VI;

10- Nghị quyết số 06-NQ/HNDTW, ngày 19/7/2010 của Ban Chấp hành

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (Khóa V) về tiếp tục xây dựng tổ chức

Hội nông dân các cấp vững mạnh;



11- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI;

16- Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nơng dân tỉnh Thanh Hóa lần thứ

VIII, nhiệm kỳ 2013 – 2018; Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân

huyện Nga Sơn lần thứ IX, nhiệm kỳ 2012 – 2017;

18- Hướng dẫn số 413-HD/HNDTW ngày 29/5/2012 của Trung ương

Hội Nông dân Việt Nam về đánh giá chất lượng cơ sở Hội.

1.3. Cơ sở thực tiễn

Hội Nông dân huyện Nga Sơn đã trải qua IX kỳ Đại hội, mỗi nhiệm kỳ

của Đại hội đều đề ra nhiệm vụ xây dựng tổ chức Hội và phong trào nông

dân trong huyện là khâu then chốt. Cùng với việc tập trung xây dựng tổ

chức Hội vững mạnh, các cấp Hội Nông dân trong huyện đã tuyên truyền

vận động cán bộ, hội viên tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

phù hợp với từng địa phương; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào

sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập; tham gia thực

hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu

dân cư”, xây dựng gia đình nơng dân văn hóa. Năm 1995, các cấp Hội nông

dân trong huyện đã triển khai thực hiện “Phong trào nông dân thi đua sản

xuất kinh doanh giỏi, đồn kết giúp nhau xố đói giảm nghèo và làm giàu

chính đáng” trong hội viên, nơng dân. Sau 20 năm triển khai thực hiện, đã

có hàng trăm ngàn lượt hộ nông dân đăng ký phấn đấu và đạt danh hiệu hộ

sản xuất kinh doanh giỏi các cấp.

Hội Nông dân các cấp đã chủ động phối hợp triển khai các chương

trình, dự án về khuyến nơng, khuyến ngư; phát triển ngành nghề nông thôn;

nước sạch, vệ sinh môi trường…, xây dựng các mơ hình trình diễn, tập

huấn chuyển giao Khoa học kỹ thuật cho hội viên, nông dân. Liên kết với

các doanh nghiệp hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất thông qua việc tổ

chức các hoạt động dịch vụ như cung ứng thức ăn chăn nuôi, phát triển

chăn nuôi xây dựng hầm Bioga để đảm bảo vệ sinh môi trường.

Hỗ trợ nông dân vay vốn và hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả

trong phát triển sản xuất, kinh doanh. Năm 2003, các cấp Hội phối hợp với

Ngân hàng Chính sách xã hội ủy thác cho hộ nghèo và các đối tượng chính



sách khác vay vốn, đến nay dư nợ đạt trên 35 tỷ đồng cho gần 2 ngàn lượt

hộ vay.

Tổ chức các hoạt động xóa đói giảm nghèo vận động nông dân tương

trợ, giúp đỡ nhau tại cộng đồng về vật tư, giống, vốn… để phát triển sản

xuất, kinh doanh, giảm nghèo bền vững, tham gia thực hiện có hiệu quả

chương trình quốc gia về xóa đói, giảm nghèo. Thông qua các hoạt động

giúp đỡ ngày công lao động, cho vay con giống, vốn không lấy lãi; hội viên

trong toàn huyện đã giúp đỡ 213 hộ hội viên nghèo, khó khăn với 1.153

ngày cơng lao động, cùng với lương thực và nhiều loại cây, con giống, cho

vay không lấy lãi số tiền 135 triệu đồng để phát triển sản xuất.

Thông qua các phong trào thi đua của Hội, hội viên nơng dân tích cực

lao động sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, đời sống vật chất, tinh thần của

nông dân được cải thiện rõ rệt, an ninh lương thực được đảm bảo; khẳng

định vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong công tác tuyên truyền vận

động cán bộ, hội viên tích cực tham gia nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội,

bảo đảm quốc phòng, an ninh địa phương.

2. Nội dung thực hiện đề án

2.1. Bối cảnh thực hiện đề án

Nga Sơn là huyện ven biển nằm ở phía Đơng Bắc của tỉnh Thanh Hố,

thuộc vùng Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý: Từ 19 056’23” đến 200 04’10” độ vĩ

Bắc; Từ 1050 54’45” đến 200 04’30” độ kinh Đơng; Phía Bắc giáp huyện Kim

Sơn và n Mơ, tỉnh Ninh Bình, Phía Nam giáp huyện Hậu Lộc, Phía Đơng

giáp biển Đơng, Phía Tây giáp với huyện Hà Trung và Thị xã Bỉm Sơn.

Thị trấn Nga Sơn là trung tâm kinh tế, chính trị của huyện cách thành

phố Thanh Hố 40 km về phía Đơng Bắc, cách thị xã Bỉm Sơn khoảng 10 km

về phía Đơng Nam, cách thị trấn Kim Sơn tỉnh Ninh Bình khoảng 17 km về

phía Nam.

Tồn huyện có 27 đơn vị hành chính bao gồm 26 xã và một thị trấn

huyện lỵ. Nga Sơn ở vị trí chuyển tiếp giữa các huyện đồng bằng với các

huyện ven biển, có đường quốc lộ, hệ thống đường tỉnh lộ chạy qua và được

bao quanh bởi hai con sông Lèn và sông Hoạt nên rất thuận lợi cho giao lưu



kinh tế, văn hoá với các huyện trong và ngoài tỉnh cũng như các địa phương

trong cả nước.

Dân số trung bình của huyện năm 2011 là 136.040 người, năm 2013 là

136.341 người, tốc độ tăng dân số tự nhiên bình qn là 0,755%/năm. Q

trình đơ thị hóa diễn ra chậm, tỷ lệ dân cư đô thị chiếm khoảng 2,0% dân số

và ổn định trong những năm gần đây. Tỷ lệ nam, nữ trong cơ cấu dân số của

huyện hiện khá cân bằng, nữ chiếm 48,8% tổng dân số, tuy nhiên tỷ lệ nam

giới có chiều hướng tăng dần mỗi năm tăng 1,1%. Mật độ dân số năm 2013 là

859 người/km2 gấp 2,8 lần mật độ dân số trung bình của tỉnh (mật độ dân số

của tỉnh là 306 người/km2). Hầu hết các xã, thị trấn đều có mật độ dân số cao

hơn mức trung bình, trong đó đáng chú ý là xã Nga Bạch mật độ cao hơn 2,9

lần, tương tự thị trấn Nga Sơn 2,8 lần, xã Nga Liên 2 lần, Nga Thanh 1,8 lần.

- Về kinh tế: Trong những năm gần đây bên cạnh những thuận lợi là cơ

bản song cũng gặp khơng ít những khó khăn như: tình hình kinh tế thế giới

khơi phục chậm, thời tiết diễn biến phức tạp, nước mặn xâm nhập trên diện

rộng. Giá vật tư, nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, giá cói và các mặt hàng xuất

khẩu từ cói giảm mạnh, thị trường xuất khẩu hàng cói khơng ổn định. Mặc dù

từ năm 2010 trở lại đây, kinh tế của địa phương có tốc độ tăng trưởng khá,

song do xuất phát điểm thấp nên hiện tại quy mô nền kinh tế chưa tương xứng

với tiềm năng phát triển của huyện; thu nhập dân cư thấp, đời sống của các

tầng lớp dân cư còn nhiều khó khăn, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất

kinh doanh và đời sống nhân dân.

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2013 là

15,15%/năm. Cơ cấu giữa các ngành chuyển biến tích cực năm 2013: Nơng Lâm - Thuỷ sản 37,7% (giảm 3,4%); Công nghiệp - Xây dựng 29,2% (tăng

3,3%); Dịch vụ 33,1 % (tăng 0,1% so với năm 2010). Thu nhập bình quân đầu

người năm 2013 đạt 1,66 triệu đồng tăng 7,1 triệu đồng so năm 2010. Thu

ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2013 đạt 131 tỷ đồng, tăng 34,9 tỷ đồng

so năm 2010.



Cơ cấu thành phần kinh tế của huyện chuyển dịch theo đúng quy luật,

kinh tế ngoài quốc doanh với 142 doanh nghiệp. Toàn huyện hiện có 912

trang trại, trong đó có 74 trang trại đạt tiêu chí theo Thơng tư 27 của Bộ Nơng

nghiệp và PTNT và 1.250 hộ nơng dân có thu nhập trên 50 triệu đồng/hộ/năm.

Các hợp tác xã không ngừng được củng cố về tổ chức và phương thức hoạt

động, có 23/27 hợp tác xã hoạt động ở mức trung bình và khá.

Hội Nơng dân huyện Nga Sơn hiện có 27 tổ chức cơ sở Hội (26 xã,

01thị trấn) và 235 chi hội theo địa bàn thơn, xóm với 19.000 hội viên/=

95,4% hộ nơng thơn có hội viên. Tổng số cán bộ chuyên trách cấp huyện là

5 đồng chí (5/5 đồng chí là đảng viên), 4 đồng chí có trình độ đại học,1

đồng chí là thạc sỹ, trình độ lý luận chính trị, Trung cấp là 2 đồng chí, 2

đồng chí cao cấp; tổng số cán bộ chuyên trách cấp cơ sở (Chủ tịch Hội

Nông dân xã, thị trấn) là 27 đồng chí, trong đó 13 đồng chí có trình độ đại

học, có 13/27 đồng chí có trình độ lý luận chính trị: trung cấp; Chủ tịch Hội

nơng dân cơ sở tham gia cấp ủy là 27/27 đồng chí = 100 %, là đại biểu

HĐND 20/27 đồng chí = 74%. Đội ngũ cán bộ của Hội đảm bảo tiêu chuẩn

theo quy định, có ý thức trách nhiệm, tinh thần đồn kết, năng động, sáng

tạo trong hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân.

Thực tiễn hoạt động của Hội Nông dân huyện cho thấy: Công tác xây

dựng tổ chức Hội vững mạnh luôn gắn với việc nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ Hội Nông dân các cấp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức

Hội trong tình hình mới. Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động công tác

tuyên truyền, vận động nông dân tham gia thực hiện có hiệu quả các mơ

hình phát triển sản xuất và các mơ hình thi đua u nước, nhằm chăm lo,

bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nơng dân cũng

chính là cơng tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Chính vì vậy, để xác

định được thực trạng trình độ, năng lực, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, điều

hành, lãnh đạo tổ chức Hội cơ sở và chất lượng đội ngũ cán bộ Hội thì phải

đi sâu vào việc tổng hợp, phân tích kết quả công tác Hội và phong trào

nông dân của các cấp Hội Nông dân huyện Nga Sơn từ năm 2010 đến nay,

để làm cơ sở cho giai đoạn 2017 - 2020.

2.2. Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án



Trong những năm qua các cấp Hội Nông dân huyện Nga Sơn đã phát

huy tốt truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù chịu khó, tiết kiệm, tự lực,

tự cường, sáng tạo trong lao động, sản xuất. Người nơng dân có gắn kết

chặt chẽ nhiều đời trong cộng đồng dân cư; nông dân, nông thôn là nơi lưu

giữ các bản sắc văn hóa dân tộc, nơng dân chiếm gần 85,99% dân số của

huyện; luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới của

đất nước, đã xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến trên các lĩnh

vực, khai thác tiềm năng thế mạnh như: Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao

động, vốn, tiếp thu khoa học và công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu cây

trồng vật ni, tiếp cận thị trường góp phần quan trọng trong phát triển

kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là xây dựng nơng thơn mới. Đời sống vật

chất, văn hố tinh thần của nông dân từng bước được nâng lên rõ rệt, ý

thức chính trị, trình độ dân trí từng bước được nâng cao. Thu nhập bình

quân của người dân khu vực nông thôn ước đạt 18 triệu đồng/năm; vị thế

chính trị của giai cấp nơng dân ngày càng được củng cố và nâng cao, khẳng

định rõ nét là chủ thể trong phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng

nơng thơn mới.

Tuy nhiên, do đặc điểm và tình hình kinh tế, xã hội nông thôn, điều

kiện phát triển sản xuất, đời sống của một bộ phận lớn nông dân, nơng thơn

còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Việc giải quyết cơ chế, chính sách (đất đai,

hỗ trợ sản xuất, an sinh xã hội...) cho nông dân ở một số địa phương còn

thiếu thống nhất, chưa phù hợp gây bức xúc trong nông dân. Tỷ lệ lao động

nông thôn qua đào tạo có việc làm còn thấp. Sự phân hố giàu, nghèo ngày

càng có khoảng cách lớn giữa các xã, thị trấn trong huyện (nhất là các xã

điều kiện phát triển kinh tế gặp nhiều khó khăn như: Đường giao thơng

khơng thuận lợi, độc canh cây lúa, không được hưởng ưu đãi của thiên

nhiên ban tặng). Tệ nạn xã hội ở nơng thơn có chiều hướng gia tăng và

ngày một phức tạp hơn. Cùng với những khó khăn trên, vẫn còn tồn tại

những hạn chế về đặc điểm, tư tưởng, nhận thức của người nơng dân đó là:

Còn một bộ phận nơng dân mang nặng tính tư hữu (tư hữu ruộng đất,

nhà ở, tư hữu trong nền sản xuất tự cung, tự cấp, tư hữu trong lợi ích); sự

kết nối lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội còn ít; tính bảo thủ,



trì trệ vẫn còn khá nặng nề; tiếp cận khoa học kỹ thuật, xu thế phát triển

của xã hội chậm và dè dặt; tính kỷ luật đồng tâm trong sản xuất còn thấp.

Đây là mặt hạn chế cơ bản của người nông dân, đồng thời cũng là rào cản

trong phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và phát

động, triển khai các phong trào thi đua trong công tác Hội và phong trào

nông dân.

Hội Nông dân huyện Nga Sơn là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ

thống chính trị của huyện, đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng, hợp

pháp của giai cấp nông dân trong huyện. Hội có chức năng tập hợp, vận

động, giáo dục hội viên, nơng dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập

nâng cao trình độ năng lực về mọi mặt; đại diện cho giai cấp nông dân

tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đồn kết tồn dân tộc;

chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ

chức hoạt động dịch vụ tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống.

Tổ chức bộ máy cơ quan Hội Nông dân huyện gồm: Chủ tịch phụ trách

chung và là chủ tài khoản của cơ quan, công tác tổ chức, các phong trào thi

đua; 01 Phó chủ tịch phụ trách Quỹ Hỗ trợ nông dân, công tác Kiểm tra,

Kinh tế - xã hội, Tuyên Huấn và phụ trách phong trào 3 xã,1thị trấn; 3 đồng

chí cán bộ chuyên trách phụ trách phong trào 23 xã. Hệ thống tổ chức Hội

được tổ chức tại 27 cơ sở Hội (Xã, thị trấn); 235 chi hội theo địa bàn dân

cư (Thơn, xóm). Đội ngũ cán bộ Hội chun trách cấp cơ sở trong tồn

huyện có 33 người, Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp hiện có 356

người (Cấp huyện 31 người); Ban Thường vụ hiện có 88 người (Cấp huyện

7 người và cấp cơ sở 81 người).

Những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Hội Nơng dân tỉnh

Thanh Hóa và Huyện ủy Nga Sơn, các cấp Hội Nông dân huyện đã triển

khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ cơng tác Hội và phong trào nơng dân,

vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia các chương trình, dự án phát

triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động của tổ chức

Hội đã mang lại lợi ích thiết thực cho hội viên, thu hút nông dân tham gia

tổ chức Hội, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh; năng lực hoạt

động của tổ chức Hội được nâng lên. Hoạt động Hội đã góp phần quan



trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa

phương cụ thể là:

* Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ hội viên nông

dân:

Được các cấp Hội xác định là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng

hàng đầu; nội dung tuyên truyền bám sát vào chủ trương, đường lối của

Đảng; Chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chính sách liên quan đến

nơng nghiệp, nơng dân, nơng thơn; các chương trình giảm nghèo; chương

trình xây dựng nơng thơn mới; các Chỉ thị, Nghị quyết, Điều lệ của Hội;

các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, của tỉnh, của huyện; thực hiện

cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã

được triển khai sâu rộng đến các cấp Hội và hội viên, nông dân với nhiều

hình thức phong phú, hiệu quả. Hình thức tuyên truyền ngày càng được đổi

mới, đa dạng, phong phú như: Sinh hoạt chi hội thường kỳ, sinh hoạt

chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ; nâng cao chất lượng hoạt động các loại

hình câu lạc bộ nơng dân, tổ chức tham quan học tập mơ hình; các gương

điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực trên các phương tiện thông tin đại

chúng của huyện và địa phương; hệ thống báo, bản tin của Hội.

Tổ chức các cuộc thi viết, thi dưới hình thức sân khấu hố như: Thi

“Tìm hiểu Hội Nơng dân Việt Nam 80 năm xây dựng và trưởng thành”, thi

Giải Bóng chuyền “Bơng lúa vàng”, cuộc thi Hội thi "Nhà nông đua tài",

Hội thi “Nông dân với pháp luật", Hội thi “Nơng dân với Chương trình

Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” và các cuộc thi do Trung ương

Hội Nơng dân Việt Nam, các ngành, đồn thể phát động. Hoạt động tuyên

truyền đã thu hút 100% cán bộ Hội và trên 85% hội viên tham gia. 100%

cơ sở và chi hội có báo nơng thơn ngày nay, bản tin nơng dân Thanh Hóa.

Thơng qua cơng tác tun truyền, vận động đã góp phần nâng cao nhận

thức cho hội viên nơng dân về vai trò, vị trí của tổ chức Hội, của giai cấp

nông dân, trong sự nghiệp đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước; nâng cao ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; chính

sách, pháp luật của Nhà nước, ý thức xây dựng Đảng, xây dựng Chính

quyền, tích cực thi đua lao động sản xuất, tham gia các cuộc vận động xã



hội, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.

Từ đó, cán bộ, hội viên ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự

điều hành của chính quyền, gắn bó chặt chẽ, mật thiết với tổ chức Hội.

* Công tác xây dựng tổ chức - kiểm tra:

Xác định công tác xây dựng tổ chức Hội là nhiệm vụ trọng tâm, có ý

nghĩa then chốt quyết định chất lượng hoạt động của tổ chức Hội và phong

trào nông dân, Ban Thường vụ, Ban chấp hành Hội Nông dân huyện đã tập

trung đổi mới công tác chỉ đạo, nâng cao chất lượng tổ chức Hội, hướng

mạnh các hoạt động về cơ sở, tích cực phát triển hội viên mới, nâng cao

năng lực của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của tổ chức Hội. Xây dựng

và ban hành các Quy chế hoạt động, Hướng dẫn công tác thi đua khen

thưởng (Cụ thể hóa tiêu chuẩn xếp loại cơ sở, chi hội) Công tác kết nạp hội

viên mới và nâng cao chất lượng hội viên được các cấp Hội quan tâm chỉ

đạo, từ năm 2010 đến nay đã kết nạp được 7.823 hội viên mới, nâng tổng

số hội viên toàn huyện lên 19.000 hội viên (chiếm 95,4% hộ nơng dân có

hội viên). Nội dung, hình thức hoạt động của các chi hội cơ bản bám sát

nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chất lượng hoạt động của các cơ sở

Hội được nâng lên rõ rệt (đến năm 2014 tồn huyện có 9 cơ sở Hội, 89 chi

hội đạt xuất sắc; 2 cơ sở Hội và 15 chi hội đạt khá; nhưng vẫn còn 10 chi

hội trung bình). Cơng tác quy hoạch, kiện tồn cán bộ được quan tâm, Ban

Thường vụ Hội nông dân các cấp đã tham mưu với các cấp ủy Đảng quy

hoạch đội ngũ cán bộ Hội các cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (từ

năm 2013 - tháng 02/ 2015 đã kiện toàn bầu bổ sung 19 ủy viên Ban chấp

hành, 8ủy viên Ban thường vụ, 5 chức danh Chủ tịch và 6 phó chủ tịch Hội

cơ sở). Hàng năm có trên 80% cán bộ cơ sở, trên 75% cán bộ chi hội được

tập huấn nghiệp vụ và các chuyên đề, chuyên sâu theo lĩnh vực, nghiệp vụ

kết hợp với thực hành để nâng cao kỹ năng điều hành sinh hoạt cho cán bộ

hội... Đội ngũ cán bộ BCH các cấp từng bước được trẻ hoá, chất lượng cao

hơn những năm trước đây (cấp huyện tuổi đời bình quân là 42 tuổi, cấp cơ

sở tuổi đời bình quân là 47 tuổi).

Ban kiểm tra các cấp được kiện toàn đi vào hoạt động nề nếp. Hàng

năm các cấp Hội tổ chức kiểm tra đúng theo Điều lệ quy định (huyện kiểm



tra 100% xã, thị trấn và 50% chi hội; xã, thị trấn kiểm tra 100% chi hội)

với các nội dung: kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Hội, Chỉ thị, Nghị quyết,

chương trình cơng tác của Hội; việc sử dụng tài chính, quỹ hội, Quỹ hỗ trợ

nơng dân, các loại phí ủy thác... Thông qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện

những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Hội và triển

khai các phong trào nơng dân, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp để

khắc phục những thiếu sót, hạn chế để các cấp tổ chức hoạt động của Hội

đạt hiệu quả cao hơn.

Tập trung xây dựng nguồn quỹ Hội ở cơ sở, đến tháng 12/2014 tổng số

quỹ hội tồn huyện đạt gần 1.045 triệu đồng (bình quân đạt 55.000đ/hội

viên); thông qua nguồn Quỹ hội đã hỗ trợ tích cực cho hội viên nghèo vay

với lãi thấp để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và thăm hỏi động viên

hội viên lúc khó khăn, hoạn nạn, qua đời...; Quỹ Hỗ trợ nông dân, tổng

nguồn Quỹ hỗ trợ nơng dân tồn huyện là 1,2 tỷ đồng đã cho 68 hộ vay, để

phát triển các mơ hình kinh tế như: Đầu tư phát triển trang trại, gia trại

chăn ni trâu, bò cày kéo, kết hợp sinh sản ni cá lồng trên lòng hồ Thủy

điện...

* Các phong trào thi đua của Hội:

Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp

nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững được các cấp Hội Nông dân trong

huyện phát triển phong trào rộng khắp, bền vững cả về quy mô và chất

lượng, thu hút hàng chục ngàn hộ nơng dân thay đổi cách nghĩ, cách làm,

tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế hộ, kinh

tế trang trại, gia trại. Từ phong trào đã xuất hiện ngày càng nhiều nông dân

sản xuất kinh doanh giỏi điển hình tiên tiến ở khắp các địa phương trong

huyện. Hội Nơng dân huyện phối hợp với phòng nông nghiệp và phát triển

nông thôn chỉ đạo, đánh giá tổng kết phong trào theo định kỳ 5 năm 1 lần ở

cấp huyện và cơ sở.

Để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh Hội Nông dân các

cấp phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội tạo vốn cho nông dân vay;

phối hợp tổ chức các lớp tập huấn kiến thức sản xuất hàng hóa về kỹ thuật

về trồng trọt, chăn ni, phòng trừ dịch bệnh... cho hội viên nông dân; thực



hiện cung ứng vật tư phân bón, thức ăn chăn ni, giống cây, con cho nơng

dân. Hàng năm phối hợp với Ban hỗ trợ nông nghiệp huyện tổ chức Hội

nghị xúc tiến Thương mại cho các chủ hộ nông dân sản xuất kinh doanh

giỏi ở các địa phương trong huyện. Phong trào nông dân thi đua sản xuất

kinh doanh giỏi đã tác động tích cực đến việc vận động hội viên nơng dân

tương trợ, đồn kết giúp nhau giảm nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu,

chương trình giảm nghèo của huyện; hội viên nơng dân sản xuất giỏi trong

huyện đã ủng hộ Quỹ Trường Sa, quỹ vì người nghèo trị giá trên 100 triệu

đồng.

Phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi được các cấp uỷ Đảng,

chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và nơng dân tích cực hưởng ứng

mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần khơng nhỏ vào thành tích chung

trong kết quả phát triển kinh - tế xã hội của huyện nhà: sản xuất lương thực

là huyện dẫn đầu về năng suất lúa của tỉnh. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát

triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đã xuất hiện nhiều gia trại, trang trại

sản xuất hàng hố theo mơ hình tổng hợp với quy mô lớn trên 5 ha, thu hút

nhiều lao động và hoạt động có hiệu quả; ngành nghề nơng thơn có bước

phát triển thu hút gần 215 lao động nơng thơn có việc làm và thu nhập từ 2

đến 4,5 triệu đồng/người/tháng. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng

cao cả về vật chất và tinh thần. Số hộ khá, giàu tăng 10% (so với năm

2010), số hộ nghèo giảm từ 32,9% năm 2010 xuống còn 15,9% năm 2014,

kết cấu hạ tầng ở nông thôn không ngừng được đầu tư và từng bước hoàn thiện.

Tổ chức Hội được Hội cấp trên và các cấp uỷ Đảng quan tâm, lãnh đạo

chỉ đạo ngày càng được củng cố và lớn mạnh, xứng đáng là trung tâm nòng

cột của giai cấp nông dân huyện nhà. Các hoạt động phối hợp giữa Hội

Nông với các ngành, các doanh nghiệp nhất là ngành nơng nghiệp ngày

càng có hiệu quả và thiết thực đối với nơng dân. Nhìn chung, phong trào

sản xuất kinh doanh giỏi trong những năm qua liên tục phát triển và có sức

lan tỏa sâu rộng trong hội viên, nơng dân. Bằng sức mạnh tổng hợp từ chủ

trương, chính sách, đúng đắn của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của các ban,

ngành, đoàn thể và sự chủ động của Hội Nơng dân các cấp và phòng nơng

nghiệp - phát triển nông thôn, sự nỗ lực vươn lên của nông dân làm chuyển



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các cấp rất quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận, Quyết định, Chương trình, Kế hoạch, văn bản hướng dẫn ... nhằm đẩy mạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×