Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các công trình thuỷ lợi đòi hỏi chất lượng cao, đặc biệt các công trình có bộ phận nằm ở dưới nước thường xuyên.

Các công trình thuỷ lợi đòi hỏi chất lượng cao, đặc biệt các công trình có bộ phận nằm ở dưới nước thường xuyên.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việc thi công sẽ phức tạp hơn rất nhiều so với các cơng trình khác. Một trong những

khâu quan trọng là cơng tác dẫn dòng thi cơng. Nếu tính tốn khơng chính xác, hoặc

chọn phương pháp dẫn dòng khơng đúng sẽ dẫn đến sẽ làm cho giá thành cơng trình

tăng lên, có trường hợp còn gây ra đổ vỡ, khơng an tồn cho cơng trình

2. Sản phẩm xây dựng thuỷ lợi thường có kích thước lớn, nhiều chi tiết phức tạp, chi

phí lớn, thời gian xây dựng dài, có khi đến hơn 8 năm. Tuổi thọ của cơng trình thuỷ lợi

có thể từ 30 năm đến 50 năm, cá biệt có những cơng trình đến trên 70 năm. Vì vậy nếu

tính tốn thiết kế và thi cơng khơng đúng sẽ gây ra lãng phí rất lớn.

3. Sản phẩm xây dựng thuỷ lợi có vốn đầu tƣ lớn, từ vài chục triệu đồng đến hàng

nghìn tỷ đồng.

4. Sản phẩm xây dựng thuỷ lợi phải làm theo đơn đặt hàng trước, hiện nay do nhà

nước xây dựng và quản lý. Do đó không thể sản xuất hàng loạt để bán như các ngành

công nghiệp và ngành khác; phải xác định giá trị sản phẩm trước khi đấu thầu hoặc

trước khi ký hợp đồng xây dựng các đơn vị xây dựng phải có nhiều kinh nghiệm trong

việc xác định giá tranh thầu để tránh bị lỗ.

5. Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có nhiều đơn vị cùng tham gia thi công

trong điều kiện hiện trường thi công chật hẹp và thời gian có hạn.

7. Sản xuất xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết, điều kiện

tự nhiên, thuỷ văn khí tượng. [8]

2.4.Các quan điểm đánh giá dự án đầu tư.

2.4.1.Quan điểm của chủ đầu tư.

Khi đánh giá dự án chủ đầu tư thường có các quan điểm sau:

- Dự án phải mang lại lợi ích cho nhà đầu tư;

- Tuân theo đường lối chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

- Tuân theo pháp luật của Quốc gia, các luật về đầu tư, luật bảo vệ môi trường... [9]



16



2.4.2.Quan điểm của nhà nước .

Nói chung, khi đánh giá các dự án đầu tư nhà nước phải xuất phát từ lợi ích tổng thể

của quốc gia và xã hội, từ đường lối chung phát triển đất nước và phải xem xét toàn

diện các mặt kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ an ninh, và quốc phòng cũng

như bảo vệ mơi trường.

- Đối với dự án do vốn ngân sách đầu tư, sự đánh giá của Nhà Nước phải toàn diện và

sâu sắc hơn. Trường hợp này sự phân tích của dự án đứng trên quan điểm vĩ mô và

phải coi trọng phần phân tích kinh tế - xã hội của dự án.

- Đối với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sự đánh giá của

Nhà Nước chủ yếu chỉ hạn chế ở các mặt tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường, sự

phù hợp với đường lối phát triển chung của đất nước và của dự án đầu tư.

- Đối với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sự đánh giá của

nhà nước cũng sâu sắc và toàn diện hơn so với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp

ngoài quốc doanh. [9]

2.4.3. Quan điểm của các tổ chức tài trợ.

Các tổ chức tài trợ trước hết quan tâm đến lợi ích của mình trong khn khổ pháp luật

cho phép, đặc biệt quan tâm tới hiệu quả của dự án, tính bảo đảm chắc chắn của dự án,

đảm bảo trả nợ đúng hạn. [9]

2.5.Một số phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư dự án xây dựng cơng

trình thủy lợi.

Để phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư của một dự án xây dựng nói chung và dự án xây

dựng cơng trình thủy lợi nói riêng thì phải đánh giá tất cả các chỉ tiêu, kể cả kinh tế tài chính cũng như kinh tế - xã hội. Trong đó chỉ tiêu về kinh tế - tài chính mang tính

định lượng, còn chỉ tiêu kinh tế - xã hội lại mang tính định tính nhiều hơn. Sau đây tác

giả sẽ trình bày một số phương pháp chính đánh giá hiệu quả đầu tư của một dự án

theo hai chỉ tiêu kinh tế - tài chính và kinh tế - xã hội.



17



2.5.1.Một số phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính của dự

án đầu tư.

Mục đích của việc đánh giá kinh tế là để đảm bảo vốn đầu tư của nhà nước vào dự án

phải có hiệu quả cao. Phân tích kinh tế dự án là một công cụ để so sánh chi phí và lợi

ích của dự án được lựa chọn với các phương án khác. Điều đó rất quan trọng trong

việc khẳng định những chi phí và lợi ích của dự án mang lại. Sự tồn tại kinh tế của các

dự án có thể được thiết lập thơng qua tính tốn hệ số nội hồn EIRR. Theo ADB, thì

giá trị của hệ số EIRR khoảng 15% cho các tiểu dự án. [8]

Khi đánh giá kinh tế các dự án thủy lợi thường gặp các trường hợp sau: Đánh giá kinh

tế các dự án tưới tiêu; Đánh giá kinh tế các dự án thủy điện; Đánh giá kinh tế các dự án

phòng lũ; Đánh giá kinh tế các dự án cấp nước cơng cộng [8]

Để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính của một dự án đầu tư xây dựng

nói chung có rất nhiều phương pháp như: Phương pháp dùng một vài chỉ tiêu tài chính

kinh tế tổng hợp; Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo; Phương pháp

phân tích giá trị và giá trị sử dụng; Phương pháp sử dụng cơng cụ tốn học để tính tốn

so sánh kinh tế các phương án; Phương pháp phân tích chi phí lợi ích.

Trong khn khổ bài luận này đối với các dự án cơng trình thủy lợi tác giả tập trung

tìm hiểu phương pháp ‘‘ Phân tích chi phí - lợi ích“ đi sâu vào các nhóm cơ bản

như:

+ Nhóm ‘‘ Giá trị tương đương‘‘ bằng phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi: quy

đổi tương đương tồn bộ chuỗi dòng tiền tệ của dự án (chi phí và lợi ích) trong suốt

thời kỳ phân tích thành giá trị hiện tại của hệ số thu chi hay còn gọi là thu nhập ròng

hiện tại (NPV)

+ Nhóm ‘‘ Suất thu lợi nội tại“ : Người ta gọi mức lãi suất làm cho giá trị tương

đương của phương án bằng không là suất thu lợi nội tại (IRR) của phương án. Đây là

một độ đo hiệu quả hay được dùng nhất hiện nay.

+ Nhóm ‘‘tỷ số lợi ích – chi phí (B/C)‘‘: Đó là tỷ số giữa giá trị tương đương lợi ích và

giá trị tương đương của chi phí.

2.5.1.1. Các bước đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế - tài chính của dự án đầu tư.

Việc đánh giá phân tích đánh giá dự án thường được tiến hành trong bước báo cáo đầu

tư và lập dự án đầu tư.



18



Đối với các dự án nhóm A và đặc biệt quan trọng thì phải lập báo cáo đầu tư đánh giá

kinh tế - tài chính. Ở bước này cũng đơn giản vì các thơng số còn thiếu nhiều và chưa

có độ tin cậy cao.

Hầu hết các dự án nhóm B đều phải thơng qua việc đánh giá phân tích tài chính, kinh

tế dự án trong bước lập dự án đầu tư. Đây là việc làm quan trọng và hết sức cần thiết

vì thơng qua việc này sẽ biết được dự án có hiệu quả hay khơng, làm cơ sở vững chắc

cho việc quyết định đầu tư.

Khi đánh giá phân tích kinh tế tài chính các dự án đầu tư phải thông qua các bước sau

đây:

a) Đề xuất phương án:

Để đánh giá tài chính, kinh tế dự án đầu tư các nhà thiết kế cần đưa ra từ 3 đến 4

phương án khác nhau để so sánh và lựa chọn. Tùy từng trường hợp cụ thể, các phương

án có thể có nhiều dạng khác nhau như: tuyến xây dựng; Cao độ đặt cơng trình; Quy

mơ vốn đầu tư; Nguồn vốn đầu tư; Phương thức trả nợ vốn vay; Dây chuyền cơng

nghệ sản xuất, cơng suất trình độ hiện đại. Các dự án tưới có thể khác nhau về hình

thức đầu tư (tưới tự chảy, tưới bằng động lực). Các dự án tưới tiêu có thể giống nhau

về hình thức đầu tư nhưng lại khác nhau về phương án canh tác (có thể canh tác trồng

lúa, hay cây cơng nghiệp hoặc màu...).....vv

b) Xác định thời kỳ tính tốn ( thời kỳ phân tích) của dự án :

Thời kỳ tính tốn (thời kỳ phân tích) của dự án là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh

giá, phân tích kinh tế dự án. Việc chọn thời kỳ phân tích các phương án phải đảm bảo

tính so sánh được của các dự án. Nếu các phương án có các thời kỳ tính tốn khác

nhau phải tìm cách đưa chúng về giống nhau.

c) Ước lượng dòng tiền tệ cho từng phương án:

Để đánh giá kinh tế tài chính một dự án xây dựng nói chung và dự án xây dựng cơng

trình thủy lợi nói riêng cần xác định được dòng tiền tệ bao gồm hai phần chính: thu

nhập và chi phí.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các công trình thuỷ lợi đòi hỏi chất lượng cao, đặc biệt các công trình có bộ phận nằm ở dưới nước thường xuyên.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×