Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH.

Tải bản đầy đủ - 0trang

quân 30,2 %/năm, trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm trên 20%; thu

nhập bình quân đầu người từ 140USD (năm 1997) tăng lên hơn 1.400 USD năm 2009.

Đó là những con số cực kỳ ấn tượng tại thời điểm khơng ít khó khăn đối với các nền

kinh tế như hiện nay.

Sau 13 năm phát triển kinh tế, từ một tỉnh nông nghiệp, Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh có

cơ cấu CN - DV - NN. Nhờ đó đời sống của nhân dân trong tỉnh từng bước được cải

thiện. Tính theo chuẩn mới, năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo tồn tỉnh là 7.7 % , trong đó khu

vực nông thôn 43.318 hộ, chiếm 19,67% số hộ nông thôn; khu vực thành thị 2.452 hộ,

chiếm 7,16% số hộ thành thị. Khả năng thu ngân sách của tỉnh tăng nhanh và mức độ

tích luỹ trong dân cư khá đã tạo điều kiện huy động các nguồn vốn vào đầu tư sản

xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nơng thơn.

1.1.2. Q trình nghiên cứu và phát triển thủy lợi .

Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu quy hoạch thuỷ lợi do các cơ quan Trung

ương, Viện nghiên cứu, các cơ quan cấp tỉnh lập ra. Mỗi nghiên cứu Quy hoạch đều

xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của từng thời kỳ. Có thể kể ra một số nghiên cứu sau:

- Quy hoạch Thuỷ lợi giai đoạn 1956-1958, Quy hoạch hồn chỉnh thuỷ nơng năm

1973-1975, Định hướng qui hoạch thuỷ lợi năm 1998 do Sở Nông nghiệp &PTNT lập

năm 1995.

- Rà sốt quy hoạch nơng lâm nghiệp và thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất

nông, lâm nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010 do Viện Quy hoạch và thiết kế nông

nghiệp, Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Qui hoạch thuỷ lợi (trực thuộc Bộ Nông

nghiệp và PTNT) phối hợp với UBND tỉnh (trực tiếp là Sở Nông nghiệp và PTNT)

thực hiện năm 2003.

- Quy hoạch phát triển Nông-Lâm nghiệp-Thuỷ sản tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010 và

định hướng đến năm 2020 do Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh phúc lập năm 2007.



4



Tồn tại các giai đoạn nghiên cứu:

Các nghiên cứu quy hoạch phát triển nông lâm - thuỷ lợi các giai đoạn trước đây đã

giải quyết được yêu cầu và phương hướng phát triển thuỷ lợi phục vụ phát triển nông

nghiệp và các ngành kinh tế khác, tuy nhiên còn một số tồn tại sau:

Do khơng thể dự báo chính xác được tốc độ phát triển của kinh tế Vĩnh Phúc nên các

quy hoạch không bám sát được tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế của tỉnh nói

chung và của ngành nơng nghiệp nói riêng.

Chưa giải quyết được thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất từ sản xuất nông

nghiệp sang công nghiệp hoặc trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, cây công nghiệp,

cây ăn quả theo chủ trương phát triển kinh tế nơng nghiệp của Chính phủ và của tỉnh

hiện nay.

Chưa đề xuất được giải pháp thuỷ lợi hợp lý, cải tạo nâng cấp hiện đại hố cơng trình

thuỷ lợi hiện có hoặc xây mới nhằm phục vụ cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng

nghiệp, nơng thơn. Các nghiên cứu đã có cũng chưa đưa ra được giải pháp khả thi cho

những vùng nhỏ lẻ thiếu nước cục bộ, điển hình ở vùng Bắc Lập Thạch, Bắc Tam

Dương, Bắc Bình Xuyên.

Sự chuyển đổi cơ chế quản lý của các HTX nông nghiệp, Tổ hợp tác dùng nước chưa

được nghiên cứu đầy đủ để gắn vào các quy hoạch thuỷ lợi.

Vấn đề về tiêu thoát, xử lý nước, bảo vệ môi trường của các khu vực nuôi trồng thủy

sản, khu cơng nghiệp theo tình hình mới chưa được đầu tư nghiên cứu.

1.2. Tình hình đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Vĩnh

Phúc.

1.2.1. Quy mơ vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi.

Trong những năm qua, đặc biệt từ sau ngày tái lập tỉnh Vĩnh Phúc (tháng 1/1997), tỉnh

đã chú trọng phát huy các nguồn lực, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế xã

hội. Những năm đầu sau khi mới tách tỉnh, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật

của Tỉnh còn nghèo nàn, lạc hậu, đó là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển

kinh tế xã hội. Nắm được điều đó, trong thời gian qua, đặc biệt từ sau năm 2010, tỉnh



5



đã chú trọng cải thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo

điều kiện sản xuất kinh doanh phát triển, trong đó hoạt động đầu tư XDCB cho ngành

Nơng Lâm Nghiệp nói riêng vẫn giữ vai trò vơ cùng quan trọng. Đáp ứng nhu cầu phát

triển kinh tế xã hội của tỉnh, công tác đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và đầu tư

XDCB cho ngành Nơng Lâm Nghiệp nói riêng tại Vĩnh Phúc khá sôi động và phát

triển mạnh mẽ, phạm vi đầu tư rộng khắp ở tất cả các địa bàn thành phố thị xã và các

huyện.

Quy mô vốn đầu tư XDCB nói chung và vốn đầu tư cho các cơng trình thủy lợi nói

riêng của Tỉnh tăng mạnh qua các năm. Để thấy rõ điều này, ta xem xét bảng sau:

BẢNG 1.1 : VỐN ĐẦU TƯ CHO CÁC CƠNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG TỔNG

VỐN ĐẦU TƯ XDCB CỦA TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2011-2015

(Đơn vị : tỷ đồng )



Năm



Vốn đầu tư XDCB



2011

2012

2013

2014

2015



5,061.00

6,618.00

7,905.000

8,400.00

8,870.00



Vốn đầu tư xây dựng Tỷ lệ (%)

các cơng trình thủy lợi

725.12

1,105.64

1,092.02

1,178.69

1,332.04



14,3%

16,7%

13,8%

14,03%

15,02%



Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc

Như vậy, ta thấy quy mô vốn đầu tư cho cơng trình thủy lợi từ năm 2011-2015 có xu

hướng tăng liên tục, tăng đều và khá ổn định qua các năm, năm sau cao hơn năm

trước. Điều đó cho thấy Vĩnh Phúc đã làm khá tốt công tác thu hút vốn đầu tư nói

chung cũng như vốn đầu tư xây dựng phục vụ cho ngành nơng lâm nghiệp nói riêng.

1.2.2.Vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi theo vùng.

Cách phân loại này cho thấy vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi theo các địa

phương trong tỉnh Vĩnh Phúc; cho thấy cơ cấu vốn đầu tư cho các cơng trình thủy lợi

của các huyện, thành phố so với tổng vốn đầu tư xây các công trình thủy lợi của Tỉnh.



6



Nghiên cứu, đánh giá cơ cấu, khối lượng vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi

của thành phố và các huyện trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2011-2015

nhằm rút ra những nhận định về công tác xây dựng của từng vùng. Đồng thời dựa trên

cơ sở là các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc, quy hoạch của địa

phương, đánh giá đúng đắn, hiệu quả của các cơng trình thủy lợi trong từng địa

phương, xem xét huyện nào có quy mơ đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi lớn

nhất, phần nào đánh giá được nhu cầu phát triển kinh tế của vùng.

Ta xem xét vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi thực hiện theo vùng giai đoạn

2010-2015 thông qua bảng sau :

BẢNG 1.2 : VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THỰC

HIỆN PHÂN THEO VÙNG

(Đơn vị : tỷ đồng )

Năm

STT



Địa điểm



2011



2012



2013



2014



2015



1



Tp Vĩnh Yên



45.12



99.48



97.53



109.91



131.82



438.74



2



Bình Xuyên



68.24



122.6



120.65



133.03



154.94



531.22



3



Tam Dương



83.37



137.73



135.78



148.16



170.07



591.74



4



Lập Thạch



120.91



175.27



173.32



185.70



207.61



741.9



5



Vĩnh Tường



201.50



255.86



253.91



266.29



288.20



1.064,26



6



Yên Lạc



135.78



190.14



188.19



200.57



222.48



801.38



7



Tam Đảo



70.20



124.56



122.64



135.03



156.92



539.15



725.12



1,105.64



1,092.02



1,178.69



1,332.04



Tổng



Tổng



4.708,39



Nguồn : Sở KH & ĐT tỉnh Vĩnh Phúc

Qua bảng trên ta thấy, Huyện Vĩnh Tường chiếm khối lượng vốn đầu tư cho các cơng

trình thủy lợi cao nhất trong 7 huyện thị, với tổng vốn đầu tư cho các cơng trình thủy

lợi giai đoạn 2011-2015 là 1.064,26 tỷ đồng. Tiếp theo là huyện Yên Lạc, Lập Thạch,

Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên và cuối cùng là thành phố Vĩnh n. Vốn đầu tư

cho các cơng trình thủy lợi tập trung vào hai huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc là do hai

huyện này có diện tích nơng nghiệp lớn nhất trong tỉnh. Thành phố Vĩnh Yên, Bình



7



xuyên phát triển theo hướng cơng nghiệp hóa nên quỹ vốn đầu tư dành cho ngành

nơng nghiệp ít đi.

Việc phân chia vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi theo vùng nhằm mục đích

đánh giá xem vùng nào phát triển nền kinh tế theo hướng nông nghiệp nhiều, đánh giá

nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi của vùng đó cũng như chính sách

phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Bảng trên cũng cho thấy cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cho các cơng trình thủy lợi tỉnh

Vĩnh Phúc là tương đối hợp lý, những nơi nhu cầu phát triển kinh tế nơng nghiệp lớn

sẽ đòi hỏi một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng. Ngoài hai vùng là huyện Vĩnh

Tường và huyện Lạc thì cơ cấu vốn đầu tư giữa các huyện còn lại là tương đối đồng

đều, cho thấy việc phân bổ vốn cho các huyện là tương đối tốt, tạo điều kiện cho các

huyện phát triển kinh tế xã hội, tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững, không quá

chênh lệch kinh tế giữa các vùng trong tỉnh. Huyện Tam Đảo và Lập Thạch có số vốn

đầu tư thấp hơn so với các vùng khác một phần là do hai địa phương này là vùng miền

núi, địa hình khó khăn cho phát triển kinh tế, phần khác là do vốn đầu tư XDCB là có

hạn nên tỉnh cần cân nhắc đầu tư phát triển những địa phương có lợi thế phát triển kinh

tế trước. Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư vào hai vùng trên cũng đã có sự cải thiện đáng

kể trong thời gian qua, đó là chính sách đầu tư đúng đắn của tỉnh nhằm tạo sự phát

triển kinh tế bền vững. Cũng qua cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo vùng, ta thấy

cần tập trung đầu tư vào vùng nào cho phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển

trong tương lai, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí, tránh tập trung vào một vùng mà bỏ

quên các vùng khác, gây ra hiện tượng mất cân bằng trong phát triển kinh tế giữa các

vùng và không đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế.

1.2.3. Tổng quan về hiệu quả đầu tư xây dựng các cơng trình thủy lợi trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian vừa qua:

Trong thời gian vừa qua tỉnh Vĩnh Phúc đã đầu tư rất nhiều các cơng trình nơng nghiệp

và thuỷ lợi bao gồm các cơng trình như gia cố lại 80km đê đã xuống cấp của các

huyện, thị, xây dựng 18 trạm bơm đảm bảo tưới tiêu cho 8.672 ha, xây dựng 19 điểm

canh đê.Các cơng trình này có ý nghĩa quan trọng vì trong thời gian gần đây, tình hình

mưa lũ vào mùa mưa khá phức tạp, những cơng trình này sẽ góp phần vào việc phòng

8



chống lũ lụt trên địa bàn, giảm thiểu hậu quả của thiên tai, lũ lụt tới sản xuất và đời

sống người dân. Hệ thống thuỷ nơng đã được hình thành rộng khắp trên địa bàn tỉnh,

đảm bảo tưới tiêu cho trên 80% diện tích canh tác của tỉnh. Các vùng trọng điểm lúa

của các huyện thị đã đảm bảo các cơng trình tưới tiêu phục vụ sản xuất, góp phần làm

tăng năng suất nơng nghiệp. Rất nhiều trạm bơm đã được hồn thành như trạm bơm

Thanh Điền, trạm bơm Đại Thịnh, Liễn Sơn…và hàng trăm trạm bơm nhỏ khác góp

phần tăng năng lực tưới lên 1 vạn ha và trên 9.000ha được tưới bổ sung. Đã kiên cố

hoá được 350 km kênh mương, hoàn thiện hạ tầng hệ thống thuỷ lợi, tạo điều kiện

thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả cao.

Nhìn chung thời gian gần đây cùng với sự phát huy tác dụng của hệ thống các cơng

trình thủy lợi xây dựng từ những năm trước và một loạt các dự án được phê duyệt

trong thời gian qua, trong phát triển kinh tế, xã hội mà các cơng trình thủy lợi đem lại

là không thể phủ nhận.Việc đầu tư xây dựng các hệ thống cơng trình thủy lợi trên địa

bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian gần đây đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ

sản xuất và dân sinh, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần bảo vệ mơi trường và

phòng chống giảm nhẹ thiên tai:

+ Hệ thống thủy lợi được đầu tư tương đối phát triển, góp phần quan trọng để tăng

diện tích hieo trồng, tăng thời vụ cải tạo đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực.

+ Hệ thống cơng trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong phòng chống thiên

tai, như: phòng chống hạn hán, chống lũ, chống úng, ngập cho khu vực đô thị và nông

thôn. Các hệ thống đê kè, hồ chứa trên tồn tỉnh đóng vai trò quan trọng cho phòng

chống lũ các lưu vực sơng. Hệ thống các trục tiêu lớn (tiêu Bến Tre, tiêu Sông Phan...),

các trạm bơm điện quy mô lớn ( Đại Định, Bạch Hạc, Liễu Trì, Kiền Sơn...) đã được

đầu tư xây dựng đảm bảo chống ngập, úng cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu

dân cư nông thôn.

+ Hệ thống thủy lợi đã góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt, bảo vệ

môi trường nước, phát triển dịch vụ, du lịch cho các vùng trên cả tỉnh: Một số cơng



9



trình thủy lợi được xây dựng vừa có giá trị phục vụ nơng nghiệp vừa có giá trị du lịch,

tạo cảnh quan môi trường đô thị như Hồ Đại Lải, Hồ Xạ Hương, Đầm Vạc......

+ Công tác quản lý khai thác cơng trình thủy lợi đang từng bước đi vào nền nếp, phục

vụ tốt sản xuất, dân sinh. Hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác công trình thủy

lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, dân sinh.

Tuy nhiên vẫn còn một số các cơng trình thuỷ lợi do được xây dựng từ những thập kỷ

trước hiện nay đang trong tình trạng xuống cấp mặc dù đã được Nhà nước và nhân dân

quan tâm tu bổ nhưng kết quả rất hạn chế, ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh sản xuất, thâm

canh đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Trong thời gian tới, tỉnh vẫn cần tiếp tục

dành một phần vốn đầu tư vào nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, kênh mương đã xuống cấp

cho các vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.

1.3.Tầm quan trọng của các cơng trình thủy lợi với sự phát triển ngành nơng

nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung.

Nơng nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng

trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động

chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông

nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành : trồng trọt, chăn ni,

sơ chế nơng sản; theo định nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm ngiệp, thủy sản.

Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm Nông – Lâm – Ngư – Nghiệp. Sản xuất nông

nghiệp không những cung cấp lương thực thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn

nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế

biến lương thực thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu,

tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong tương lai, nơng nghiệp vẫn

đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội lồi người, khơng ngành nào có

thể thay thế được. Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động

nông nghiệp. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp

phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế.

Đối với tỉnh Vĩnh Phúc để phát triển ngành nơng nghiệp phải kể đến vai trò quan trọng

của hệ thống các cơng trình thủy lợi. Quả là khơng sai nếu nói “ Hệ thống cơng trình

10



thủy lợi chính là xương sống của nền kinh tế nông nghiệp” . Người dân Vĩnh Phúc

nhiều năm qua sinh sống, trồng trọt canh tác và phát triển dựa vào hệ thống sông ngòi,

kênh, rạch....Nhờ có mạng lưới sơng ngòi, kênh rạch, các trạm bơm dẫn nước cũng

như hệ thống các hồ đập, đê kè lớn nhỏ ....mà người nơng dân có thể trữ nước, dẫn

nước vào đồng bất chấp đặc điểm địa hình phức tạp của tỉnh. Dần dần làm chủ được

thiên nhiên, tăng năng suất lao động, giảm thiểu đáng kể những thiệt hại do thiên tai lũ

lụt gây ra.

Coi trọng phát triển hệ thống cơng trình thuỷ lợi trong tỉnh , phục vụ cho chuyển đổi

cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực

trước sức ép gia tăng dân số, biến động bất lợi của thời tiết và bất ổn định của thế giới,

đồng thời phải giải quyết nguồn nước cho sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản, dịch vụ du

lịch, duy trì và cải thiện mơi trường sinh thái, khai thác thủy năng là việc làm hết sức

cần thiết để phát triển ngành nơng nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế của tỉnh

Vĩnh Phúc nói chung.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 tác giả dã khái quát một cách hệ thống tình hình hoạt động đầu tư

xây dựng cũng như phân tích đánh giá tổng quan về hiệu quả đầu tư xây dựng các

cơng trình thủy lợi của tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian vừa qua. Nhìn nhận được tầm

quan trọng của các cơng trình thủy lợi đối với sự phát triển của ngành nơng nghiệp nói

riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung . Đây chính là tiền đề để tác

giả lựa chọn phương pháp tính tốn, đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư ,đánh

giá và tìm hiểu về các nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đầu tư xây dựng

cơng trình thủy lợi của tỉnh một cách sâu sắc và cụ thể hơn trong chương 2.



11



CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN

ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠNG TRÌNH THỦY LỢI.

2.1. Những cơ sở về mặt pháp lý.

Một số văn bản luật được Quộc Hội thông qua áp dụng trong việc đánh giá hiệu quả

đầu tư. Các văn bản pháp lý dưới đây chính là kim chỉ nam để những cá nhân, đơn vị

tham gia công tác xây dựng đi đúng hướng theo luật pháp và những quy định hiện

hành của Nhà Nước:

- Luật Ngân sách nhà nước năm 2002: Luật số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm

2002 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Đấu thầu 2013: Luật số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội nước

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Đầu tư công 2014: Luật số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc Hội nước

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Xây dựng 2014: Luật số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc Hội nước

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Đầu tư 2014: Luật số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội nước

Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Để hướng dẫn thực hiện các luật trên, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều

văn bản (Chỉ thị, Nghị định, Thông tư) liên quan đến Quản lý dự án, quản lý chi phí,

đấu thầu và hợp đồng xây dựng....Đây là những văn bản hướng dẫn thực hiện trực tiếp,

có nhiều sửa đổi kịp thời so với các thay đổi thực tế. Theo cách tiếp cận về các nội

dung quản lý dự án đầu tư xây dựng, có thể xem xét các nội dung của một số văn bản

sau:

- Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 về quản lý sử dụng nguồn hỗ trợ phát

triển chính thức ODA;

- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều

của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu;



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×