Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng

3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3.1 Kiểm tra chất lượng – I (Inspection)

Phương pháp này được hình thành từ lâu và chủ yếu là tập trung vào khâu cuối cùng

(sản phẩm sau khi sản xuất), thực chất phương pháp này không tạo dụng nên chất

lượng mà chỉ nhằm hạn chế những sai lệch trong hoạt động tác nghiệp. Với cách kiểm

tra này không khai thác được tiềm năng sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị để cải

tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm. Hơn nữa việc kiểm tra gây nhiều tốn kém và mất

thời gian, không phải thực hiện dễ dàng ngay cả đối với cơng nghiệp hiện đại, trong

khi đó loại bỏ được phế phẩm ít. Ở Việt Nam, chúng ta đã thực hiện quản lý chất

lượng ở tầm mức này trong thời kỳ trước đổi mới.

Theo ISO 8402 định nghĩa: “Kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét thử

nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với

yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính”. Để đảm bảo

chất lượng sản phẩm phù hợp quy định một cách có hiệu quả bằng 100% sản phẩm,

cần phải thoả mãn những điều kiện sau:

- Công việc kiểm tra cần được tiến hành một cách đáng tin cậy và khơng có sai sót;

- Chi phí cho việc kiểm tra phải ít hơn chi phí tổn thất do sản phẩm khuyết tật và

những thiệt hại do ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng;

- Q trình kiểm tra không được ảnh hưởng đến chất lượng.

Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách

hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản

xuất về chất lượng càng ngày càng mãnh liệt. Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra

rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất và bắt đầu chú trọng đến

những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản

phẩm. Vì vậy, khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) ra đời.

2.3.2 Kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control)

Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và các biện pháp kỹ thuật có tính tác nghiệp

nhằm theo dõi q trình, đồng thời loại trừ những nguyên nhân làm hoạt động không

32



thỏa mãn ở mọi giai đoạn của sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế. Để kiểm soát chất

lượng, cần phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến q trình tạo ra

chất lượng. Nội dung kiểm sốt của yếu tố này là 5M:

5M= (Man – Machines – Material – Method – Milieu)

(Con người – thiết bị - vật liệu – phương pháp – Môi trường làm việc)

Để duy trì chất lượng phải kiểm sốt thường xun và đồng bộ tất cả các yếu tố này và

duy trì chúng ở cùng một mức độ chất lượng. Vì chỉ cân một yếu tố kém sẽ ảnh hưởng

tới chất lượng của sản phẩm.

Cũng cần lưu ý rằng, kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm tra chất

lượng bởi nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn

ngừa bớt những lỗi sai có thể xảy ra. Kiểm sốt là hoạt động bao qt hơn, tồn diện

hơn.

Đa số cơng ty Việt Nam hiện nay đạt ở mức kiểm soát chất lượng.

2.3.3 Đảm bảo chất lượng – QA (Quality Assurance)

Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mức

chất lượng đã đạt được thơng qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm. Để có thể tiến

hành hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng có hiệu quả thì các doanh nghiệp phải xây

dựng một hệ thống quản lý chất lượng và chứng minh cho khách hàng thấy được điều

đó.

Theo ISO 9000 định nghĩa về đảm bảo chất lượng: “ Đảm bảo chất lượng là tạo sự tin

tưởng cho khách hàng, rằng một tổ chức sẽ luôn luôn thỏa mãn được mọi yêu cầu của

chất lượng, thông qua việc tiến hành các hoạt động trọng hệ chất lượng theo kế hoạch,

có hệ thống, khi được yêu cầu, những hoạt động này hồn tồn có thể được trình bày,

chứng minh bằng các văn bản và hồ sơ ghi chép các hoạt động của quá trình”

Cơ sở lý luận của đảm bảo chất lượng sản phẩm là ở chỗ, khách hàng khơng thể giám

sát tờn bộ q trình sản xuất, cũng như kiểm tra tất cả trước khi nghiệm thu. Giải pháp

hiệu quả và ít tốn kém là để nhà sản xuất chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình.

33



Trong q trình sản xuất họ tự kiểm sốt chất lượng, kèm theo việc lập hồ sơ ghi

chetps để làm bằng chứng. Khách hàng có thể tìm hiểu chính sách chất lượng và hệ

thống chất lượng qua văn bản của nhà sản xuất, để có sự tin tưởng và lựa chọn ban

đầu. Sau đó khách hàng xem xét tại chỗ hệ thống quản lý có tin cậy và có được thực

hiện như cơng bố khơng. Cuối cùng, khách hàng có thể xem xét hồ sơ, tài liệu ghi chép

quá trình kiểm soát chất lượng, là bằng chứng cho việc quản lý chất lượng đã được

thực hiện như thế nào.

Quan điểm đảm bảo chất lượng lần đầu tiên được áp dụng đối với các ngành cơng

nghiệp đòi hỏi độ tin cậy cao sau đó phát triển rộng sang các ngành sản xuất bình

thường khác độ tin cậy khơng cao.

2.3.4 Quản lý chất lượng toàn diện – TQM (Total Quality Management)

Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp phần nâng

cao hoạt động quản lý chất lượng, như hệ thống "vừa đúng lúc" (Just-in-time), đã là cơ

sở cho lý thuyết Quản lý chất lượng toàn diện. TQM được định nghĩa là: “Một phương

pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của

mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách

hàng và lợi ích của mọi thành viên của cơng ty đó và của xã hội”.

Mục tiêu chính là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất

cho phép. Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượng

trước đây là nó cung cấp một hệ thống tồn diện cho cơng tác quản lý và cải tiến mọi

khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận và

mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.

Các đặc điểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại các cơng

ty có thể được tóm tắt như sau:





Chất lượng được tạo nên bởi sự tham gia của tất cả mọi người







Chú ý đến mối quan hệ với các lợi ích xã hội khác;







Chú ý đến cơng tác giáo dục và đào tạo;

34







Đề cao tính tự quản, chất lượng được tạo ra từ ý thức tự giác;







Quản lý chất lượng dựa trên sự kiện thực tế;







Xây dựng và triển khai hệ thống chính sách trên tồn cơng ty;







Thúc đẩy ý thức tự quản và hợp tác của người lao động;







Chia sẻ kinh nghiệm và khuyến khích các ý tưởng sáng tạo và cải tiến;







Thực hiện xem xét của lãnh đạo và đánh giá nội bộ đảm bảo hệ thống hoạt động



thơng suốt;





Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như kỹ thuật thống kê.



Về thực chất TQC, TQM hay CWQC (Kiểm sốt chất lượng tồn công ty, rất phổ biến

tại Nhật Bản) chỉ là những tên gọi khác nhau của một hình thái quản lý chất lượng.

Trong những năm gần đây, xu thế chung của các nhà quản lý chất lượng trên thế giới

là dùng thuật ngữ TQM.

Có thể nói TQM là bước phát triển cao nhất hiện nay về quản lý chất lượng với hai

điểm nổi bật:

- Bao quát tắt cả các mục tiêu và các lợi ích trong q trình sản xuất.

- Cải tiến chất lượng liên tục.

Mục tiêu quản lý của TQM là: Chất lượng, giá thành, thời gian và an toàn lao động.

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng cơng trình

2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cơng trình

2.3.1.1 Theo chủ quan

Đơn vị thi công: đơn vị thi công xây dựng trên công trường, là người biến sản phẩm

xây dựng từ trên bản vẽ thiết kế thành sản phẩm hiện thực. Do vậy đơn vị thi cơng

đóng vai trò khá quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng cơng trình cũng như cơng tác

quản lý chất lượng. Do vậy bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân đơn

35



vị có được (kỹ năng chun mơn), mỗi cá nhân cũng như tồn đội đều phải được bồi

dưỡng, đào tạo nhận thức về chất lượng và tầm quan trọng của công tác quản lý chất

lượng cơng trình xây dựng để họ có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh. Đồng thời hướng

mọi hoạt động mà họ thực hiện đều phải vì mục tiêu chất lượng.

Chất lượng nguyên vật liệu :

Nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng, một phần hình thành nên cơng trình, có thể

ví như phần da và thịt, xương của cơng trình. nguyên vật liệu là yếu tố rất quan trọng

ảnh hưởng tới chất lượng cơng trình. Vậy ngun vật liệu với chất lượng như thế nào

thì được coi là đảm bảo?

Với tình trạng nguyên vật liệu như hiện nay, chẳng hạn như : xi măng, cát, đá, ngồi

loại tốt, ln ln có một lượng hàng giả, hàng nhái với chất lượng khơng đảm bảo

hay nói đúng hơn là kém chất lượng, nếu có sử dụng loại này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới

chất lượng cơng trình xây dựng, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tới tính mạng con

người (khi cơng trình đã hồn thành và được đưa vào sử dụng). Do vậy, trong q

trình thi cơng cơng trình, nếu không được phát hiện kịp thời, sẽ bị một số cơng nhân ý

thức kém, vì mục đích trục lợi trộn lẫn vào trong q trình thi cơng. Cũng vậy, đối với

sắt, thép (phần khung cơng trình), bên cạnh những hàng tốt, chất lượng cao, có thương

hiệu nổi tiếng, còn trơi nổi, tràn ngập trên thị trường khơng ít hàng nhái kém chất

lượng.

Và một thực trạng nữa, các mẫu thí nghiệm đưa vào cơng trình, thường là đơn vị thi

cơng giao cho một bộ phận làm, nhưng họ khơng thí nghiệm mà chứng nhận ln, do

đó khơng đảm bảo. Chẳng hạn như nước trộn trong bê tông cốt thép không đảm bảo

ảnh hưởng đến công tác trộn đổ bê tông không đảm bảo.

Ý thức của công nhân trong công tác xây dựng:

Như đã được đề cập đến ở phần trên, ý thức công nhân trong công tác xây dựng rất

quan trọng. Ví dụ như: cơng nhân khơng có ý thức, chun môn kém, trộn tỷ lệ cấp

phối không đúng tỷ lệ xây dựng sẽ dẫn đến những hậu quả không lường. Sập vữa trần

do xi măng không đủ nên không kết dính được.

36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×