Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRẠM BƠM

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRẠM BƠM

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2 Yêu cầu về chất lượng

Yêu cầu về chất lượng là tập hợp các nhu cầu đối với sản phẩm, có thể định lượng hay

định tính được như: các thơng số kỹ thuật, các chuẩn mực xác định, đối với các đặc

tính của thực thể, để có thể tiến hành việc tạo ra nó và đánh giá được thực thể đó.

Các u cầu về chất lượng khơng nhưng bao gồm các yêu cầu của khách hàng được ký

qua hợp đồng kinh tế, mà còn bao gồm cả các yêu cầu của xã hội, của thị trường và

của nội bộ doanh nghiệp.

Yêu cầu của xã hội: Bao gồm những điều bắt buộc tuân thủ, được quy định trong Luật

xây dựng, trong các Nghị đinh, trong Quy chuẩn xây dựng, Tiêu chuẩn xây dựng, các

quy định về an toàn, an ninh xã hội, về bảo vệ môi trường, bảo tồn các nguồn năng

lượng và tài nguyên.

Yêu cầu của thị trường: Đời sống ngày một nâng cao, chất lượng cũng cần được nâng

cao để phù hợp với thị trường và các nhà sản xuất còn phải đi trước để kích thích thị

trường và hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm có chất lượng cao.

Yêu cầu của nội bộ doanh nghiệp: Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển chỉ bằng

con đường cạnh tranh, sự cạnh tranh lành mạnh và bền vững nhất là hướng vào chất

lượng. Chất lượng không những đáp ứng các nhu cầu của khác hàng mà còn phải vượt

trước thời đại để khẳng định uy tín và thương hiệu của minh cho q trình hội nhập và

tồn cầu hóa.

1.2. Quản lý chất lượng xây dựng cơng trình

1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là toàn bộ các hoạt động của một tổ chức nhằm duy trì chất lượng

và giảm bớt chi phí sản phẩm.

Quản lý chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ

trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mơ lớn đến

quy mơ nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản lý chất lượng

đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo

4



triết lý “làm việc đúng” và “làm đúng việc”, “làm đúng ngay từ đầu” và làm đúng tại

mọi thời điểm”.

Quản lý chất lượng dự án bao gồm tất cả các hoạt động có định hướng và liên tục mà

một tổ chức thực hiện để xác định đường lối, mục tiêu và trách nhiệm để dự án thỏa

mãn được mục tiêu đã đề ra, nó thiết lập hệ thống quản lý chất lượng thơng qua đường

lối, các quy trình và các quá trình lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm

soát chất lượng.

1.2.2 Vai trò của quản lý chất lượng

Khi nói đến tầm quan trọng của quản lý chất lượng trong nền kinh tế ta không thể

không nghĩ đến hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho nền kinh tế. Quản lý chất lượng

giữ vai trò quan trọng trong cơng tác quản lý và quản trị kinh doanh. Theo quan điểm

hiện đại thì quản lý chất lượng chính là quản lý mà có chất lượng, là quản lý tồn bộ

q trình sản xuất kinh doanh. Quản lý chất lượng giữ một vị trí then chốt đối với sự

phát triển kinh tế, đời sống của người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp.

- Đối với nền kinh tế quốc dân: Hoạt động quản lý chất lượng đem lại hiệu quả cao

cho nền kinh tế tiết kiệm được lao động cho xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài

nguyên, sức lao động, công cụ lao động, tiền vốn… Nâng cao chất lượng có ý nghĩa

tương tự như tăng sản lượng mà lại tiết kiệm được lao động. Nâng cao chất lượng sản

phẩm cũng làm cho nền kinh tế được phát triển cả về chất và lượng. Từ đó tạo đòn bẩy

cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển một cách bền vững.

- Đối với khách hàng: khi có hoạt động quản lý chất lượng, khách hàng sẽ được thụ

hưởng những sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn.

- Đối với doanh nghiệp: Quản lý chất lượng là cơ sở để tạo niềm tin cho khách hàng;

giúp doanh nghiệp có khả năng duy trì và mở rộng thị trường làm tăng năng suất, giảm

chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của

doanh nghiệp trên thị trường.



5



Trong cơ chế thị trường, cơ cấu sản phẩm, chất lượng sản phẩm hay giá cả và thời gian

giao hàng là yếu tố quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

mà các yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý chất lượng.

Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp

trong điều kiện hiện nay. Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng

cao, do đó chúng ta phải khơng ngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng, đặc biệt là

trong các tổ chức.

1.2.3. Sự cần thiết phải quản lý chất lượng sản phẩm

Quản lý chất lượng sản phẩm là yêu cầu của xã hội. Nhu cầu con người ngày một cao

nên những đòi hỏi của họ về sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú. Trong khi

hàng hố khơng chỉ sản xuất ra ở một quốc gia mà nó có sự giao thoa nhau mà sản

phẩm nào có chất lượng cao sẽ thắng thế. Đáp ứng yêu cầu đó, các nhà sản xuất kinh

doanh phải có các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ một cách

hợp lý để sản phẩm có uy tín với người tiêu dùng, phù hợp quy định quốc gia và quốc

tế.

Bên cạnh đó, u cầu về tiết kiệm đòi hỏi ta phải quản lý chất lượng sản phẩm. Các

nguồn lực cho sản xuất sản phẩm đều có giới hạn nếu như chúng ta khơng khai thác

hợp lý thì sẽ gây lãng phí và những hậu qủa xấu về kinh tế- xã hội, môi trường. Tiết

kiệm trong sản xuất là một giải pháp đạt hiệu quả kinh tế cao vừa giảm tối đa chi phí

sản xuất mà chất lượng vẫn đảm bảo, nhờ đó mà người sản xuất tìm ra các phương

pháp tối ưu trong quản lý.

Quản lý chất lượng đúng ngay từ đầu (do right the first time) đang được các nhà quản

trị doanh nghiệp hết sức quan tâm. Đây là con đường tiết kiệm nhất trong kinh doanh

và nó cũng là mục tiêu của quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp nói riêng

và quản lý của các đơn vị tổ chức nói chung.

Cần nói thêm rằng quản lý chất lượng sản phẩm là phải bảo vệ môi trường, đây khơng

chỉ là vấn đề mang tính pháp lý mà còn chứa đựng đạo đức kinh doanh trong tinh thần



6



nghiệp chủ. Quản lý chất lượng phải được xây dựng trên cơ sở phát triển bền vững cân

bằng trong mối quan hệ hữu cơ con người- sản xuất-môi trường.

1.2.4. Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng

Như bất kỳ loại quản lý khác, quản lý chất lượng phải được xem xét trên chu trình chất

lượng: Hoạch định, tổ chức, kiểm tra, kích thích và điều hồ phối hợp. Tuy nhiên, do

mục tiêu và đối lượng quản lý của quản lý chất lượng có những đặc thù riêng nên các

chức năng của quản lý chất lượng cũng có những đặc điểm riêng. Cụ thể như sau:

1. Chức năng hoạch định

Hoạch định là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng khác. Hoạch

định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện, nguồn lực và

biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm.

Nhiệm vụ chính của hoạch định chất lượng là nghiên cứu thị trường nhằm xác định các

yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, sau đó chuyển giao

kết quả này tới bộ phận tác nghiệp. Hoạt động này còn có tác dụng định hướng phát

triển chất lượng cho toàn doanh nghiệp, tạo điều kiện nâng cào khả năng cạnh tranh

trên thị trường và khai thác sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực nhằm góp phần

giảm chi phí.

2. Chức năng tổ chức

Tổ chức là quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp sau khi đã có kế hoạch cụ thể.

Để làm tốt chức năng tổ chức cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổ chức hệ thống chất lượng. Mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn cho mình hệ

thống chất lượng phù hợp như TQM (Total Quanlity Management), ISO 9000

(International Standards Organization), HACCP (Hazard Analysis and Critical Control

Point System), GMP (Good Manufacturing Practive), Q-Base (tập hợp các kinh

nghiệm quản lý chất lượng đã được thực thi tại New Zealand), giải thưởng chất lượng

Việt Nam,…



7



- Tổ chức thực hiện là hoạt động tiến hành các biện pháp kinh tế, hành chính, kỹ

thuật, chính trị tư tưởng để thực hiện kế hoạch đã đặt ra. Nhiệm vụ này bao gồm việc

làm cho mọi người thực hiện kế hoạch hiểu rõ mục tiêu, sự cần thiết và nội dung cơng

việc mình phải làm. Bên cạnh đó, tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết

đối với những người thực hiện kế hoạch; và cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi nơi

mọi lúc.

3. Chức năng kiểm tra, kiểm soát

Kiểm tra, kiểm sốt chất lượng là q trình điều khiển đánh giá các hoạt động tác

nghiệp thông qua kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và các hoạt động nhằm đảm bảo

chất lượng theo đúng yêu cầu.

Nhiệm vụ chính của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là tổ chức các hoạt động đánh giá

các sản phẩm có đạt yêu cầu hoặc đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của

doanh nghiệp; so sánh giữa chất lượng thực tế và chất lượng kế hoạch để phát hiện

những sai lệch và đưa ra những biện pháp khắc phục.

Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh xem liệu

bản thân kế hoạch đã đủ chưa và liệu kế hoạch có được tuân theo một cách trung thành

khơng, nếu mục tiêu khơng đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều trên

đều không được thoả mãn.

4. Chức năng kích thích

Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thong qua áp dụng chế

độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động và áp dụng giải thưởng quốc gia

về đảm bảo và nâng cao chất lượng.

5. Chức năng điều chỉnh, điều hoà, phối hợp

Đây là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp thống nhất, đồng bộ, khắc

phục những sai sót cò tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn nhằm làm

giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và chất lượng thực tế đạt

được. Hoạt động điều hoà, điều chỉnh, phối hợp có nhiệm vụ cải tiến, hồn thiện chất

8



lượng sản phẩm theo các hướng khác nhau như phát triển sản phẩm mới, đa dạng hoá

sản phẩm, đối mới cơng nghệ và hồn thiện q trình sản xuất. Tuy nhiên, khi tiến

hành các hoạt động điều chỉnh cần phân biệt rõ ràng giữa việc loại trừ hậu quả và loại

trừ ngun nhân của hậu quả.

1.3 Đặc điểm cơng trình xây dựng trạm bơm

Cơng trình trạm bơm là một dạng cơng trình thủy lợi nên đặc điểm của cơng trình trạm

bơm cũng giống như đặc điểm của cơng trình thủy lợi như sau:

Theo giáo trình kinh tế xây dựng 2010 - Bộ mơn kinh tế thì sản phẩm của cơng trình

xây dựng thủy lợi có 5 đặc điểm sau:

- Sản phẩm xây dựng là những cơng trình như cầu, cống, đập, nhà máy thủy điện, kênh

mương… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và

phân bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau. Sản phẩm xây dựng thủy lợi phụ

thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng,

về cách cấu tạo và về phương pháp chế tạo. Phần lớn các cơng trình thủy lợi đều nằm

trên sơng, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều kiện giao thơng khó

khăn, hiểm trở. Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên

tại nơi xây dựng cơng trình.

- Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc riêng lẻ,

nhiều chi tiết phức tạp.

- Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài. Sản phẩm xây

dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hồn thành mang tính chất tài sản cố định

nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng

nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.

- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư, máy

móc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi cơng…và đều có ảnh hưởng

đến chất lượng xây dựng cơng trình.



9



- Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn hóa,

xã hội, nghệ thuật và quốc phòng.

Cơng trình trạm bơm u cầu phải ổn định, bền lâu, an toàn tuyệt đối trong q trình

khai thác vì vậy mang 04 tính chất sau:

- Tính phức tạp: Thi cơng trong điều kiện rất khó khăn, Liên quan nhiều bộ môn khoa

học kỹ thuật, nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều địa phương, nhiều người. Phải đảm

bảo lợi dụng tổng hợp và tiến hành thi cơng trên khơ.

- Tính khẩn trương: Do chất lượng đòi hỏi cao, khối lượng lớn, thi cơng điều kiện khó

khăn, thời gian thi cơng ngắn, trong tình trạng thiếu vật tư trang thiết bị và đưa cơng

trình vào sử dụng sớm do tính khẩn trương.

- Tính khoa học: Trong thiết kế đảm bảo vững chắc, thỏa mãn các điều kiện của nhiệm

vụ thiết kế, tiện lợi cho khai thác sử dụng. Trong thi công sử dụng các loại vật tư máy

móc nhân lực và phải sử lý giải quyết các vấn đề kỹ thuật. Vì vậy nhiệm vụ của người

thi công là phải tổ chức quản lý thi công tốt, giải quyết các vấn đề kỹ thuật tốt, kịp

thời. Bởi thế thi cơng còn mang tính chất khoa học.

- Tính quần chúng: Cơng tác thi cơng thủy lợi đòi hỏi khối lượng lớn phạm vi xây

dựng rộng nên phải sử dụng lực lượng lao động rất lớn vì vậy Đảng đưa ra chủ trương:

“Phải kết hợp chặt chẽ giữa công trình hạng nhỏ do nhân dân làm với cơng trình hạng

vừa, lớn do nhà nước và nhân dân cùng làm”. Do vậy cơng tác thi cơng mang tính

quần chúng.

1.4 Thực trạng cơng tác quản lý chất lượng cơng trình xây dựng trạm bơm

Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng cơng trình xây dựng được các cơ

quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo thực

hiện. Nhiều công trình xây dựng hồn thành, đảm bảo các u cầu về chất lượng đã

phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy

nhiên, vẫn còn nhiều cơng trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có cơng trình vừa

xây dựng xong đã xuống cấp, hư hỏng gây bức xúc trong xã hội, làm lãng phí tiền của,

khơng phát huy được hiệu quả vốn đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư,

10



các tổ chức tư vấn, các nhà thầu tham gia quản lý về xây dựng cơng trình không tuân

thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công

xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì

cơng trình xây dựng. Hệ thống quản lý chất lượng cơng trình xây dựng từ tỉnh đến cơ

sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các

ngành. Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng

chưa đáp ứng yêu cầu.

Thực tế hoạt động và những vấn đề còn tồn tại của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt

động quản lý chất lượng cơng trình xây dựng trong các bước chuẩn bị đầu tư dự án

(lập dự án, lập nhiệm vụ, đề cương...), thiết kế cơng trình, thi cơng và nghiệm thu đưa

cơng trình vào sử dụng.

1.4.1 Đối với chủ đầu tư:

Chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng, phó mặc cho tư vấn, nhà thầu thi

công; Với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử

dụng vốn ngân sách, chủ đầu tư vẫn còn dễ bị hiểu là “Ơng chủ hờ”. Họ chưa bị ràng

buộc thật sự chặt chẽ về pháp luật và chưa thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý chất

lượng, biết nhưng vẫn làm (cố tình lựa một số đơn vị tư vấn không đủ điều kiện năng

lực hành nghề hoạt động xây dựng để ký kết hợp đồng; tìm những nhà thầu thi công

không đảm bảo điều kiện năng lực tài chính, chun mơn...vì lợi ích cá nhân nào đó).

1.4.2 Đối với các tổ chức tư vấn xây dựng:

Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ

trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật cơng

nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải

điều chỉnh cho q trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất

lượng cơng trình.

Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của cơng việc mà hình thành, chưa có những

định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt. Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt

đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi

11



giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong

hoạt động tư vấn.

Trong những năm gần đây số lượng các công ty tư vấn phát triển tràn lan nhưng năng

lực thì lại yếu kém, còn nhiều hạn chế và chưa làm tròn trách nhiệm, còn vi phạm

nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng. Tất cả các đơn vị tư vấn trên địa bàn đều khơng

có hệ thống quản lý chất lượng; Trên thực tế cho thấy hầu hết các sai sót, khiếm

khuyết trong xây dựng đều có liên quan đến tư vấn xây dựng, nhất là trong thiết kế. Sai

sót của tư vấn thiết kế có trường hợp dẫn đến hậu quả lâu dài khó khắc phục. Tuy rằng

kinh phí cho cơng tác tư vấn xây dựng khơng nhiều nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn.

Những thiếu sót, sai lầm của công tác tư vấn xây dựng thuộc phạm trù chất xám nên

khó phát hiện nhưng điểm lại các nguyên nhân dễ nhận thấy nhất đó là:

- Với tư vấn thiết kế: Phần lớn các đơn vị tư vấn thiếu các cá nhân chủ trì thiết kế theo

đúng các chuyên ngành phù hợp, điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng

còn hạn chế (vẫn còn tình trạng mượn chứng chỉ: 01 ơng kiến trúc sư có chứng chỉ

thiết kế có trong hồ sơ năng lực của nhiều công ty tư vấn); do thiếu về năng lực hành

nghề chun mơn vì vậy thiết kế khơng đảm bảo u cầu kỹ thuật, dẫn đến chất lượng

sản phẩm hồ sơ rất kém (vì khơng có sự đầu tư nghiên cứu, chủ yếu là coppy từ các

cơng trình tưng tự, điển hình; tác giả chủ yếu là những kỹ sư mới ra trường, chưa có

kinh nghiệm...); đa số các đơn vị tư vấn thiết kế khơng có bộ phận kiểm tra KCS; các

đơn vị tư vấn thiết kế thường khơng có sự giám sát tác giả và từ trước tới nay chưa có

cơng trình nào được thiết kế lập quy trình bảo trì hoặc biệm pháp thi cơng chỉ đạo.

+ Trong bước thiết kế kỹ thuật (Thiết kế bản vẽ thi công): Công tác khảo sát điều tra

địa chất, thủy văn khơng chính xác (Trong cơng tác này hầu hết lại không được Ban

QLDA nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ). Các giải pháp thiết

kế đưa ra ở một số dự án không phù hợp, các cơng trình đang thi cơng dở dang phải

thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ

sung…



12



+ Các biểu hiện về chất lượng khi cơng trình thi cơng xong đưa vào sử dụng đã xảy ra

hiện tượng nứt, lún, sụt trượt, xử lý nước ngầm… như các dự án nêu trên. Không thể

nói chỉ do sai sót của đơn vị thi cơng mà còn là do sai sót của thiết kế gây ra.

- Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế:

Mới chỉ thực hiện ở dự án do Tư vấn trong nước thiết kế, nhưng nhìn chung việc giám

sát tác giả của Tư vấn thiết kế cũng chưa nghiêm túc, trách nhiệm về sản phẩm thiết kế

chưa cao, chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm thiết kế của mình.

- Với tư vấn khảo sát: còn nhiều bất cập vẫn mang tính hình thức; có nhiều Kết quả

khảo sát không phản ánh đúng thực tế; phương án khảo sát hầu như khơng có nhiệm

vụ khảo sát được phê duyệt; q trình khảo sát khơng được nghiệm thu; có đơn vị

khảo sát lợi dụng báo cáo khảo sát của công trình lân cận để đưa ra kết quả khảo sát

hoặc chỉ khảo sát một hai vị trí sau đó nội suy cho các vị trí còn lại,...

- Với tư vấn giám sát: Đây là khâu quan trọng trong hoạt động quản lý chất lượng, chất

lượng cơng trình có được bảo đảm phụ thuộc nhiều vào đội ngũ TVGS. Tư vấn giám

sát thay mặt Chủ đầu tư (Ban QLDA) để giám sát thi công; chấp nhận khối lượng, chất

lượng của nhà thầu thi công; chấp thuận biện pháp thi công để nhà thầu thực hiện; thay

mặt chủ đầu tư đề xuất quyết định việc xử lý kỹ thuật ở hiện trường. Do vậy, ở những

dự án có chất lượng cao, thi cơng an tồn là những dự án Tư vấn giám sát đã làm đúng

chức trách của mình và ngược lại.

+ Đánh giá về lực lượng TVGS: Lực lượng TVGS tuy đơng về số lượng nhưng còn

thiếu nhiều chun gia giỏi. Nguyên nhân chủ yếu do năng lực của các kỹ sư tư vấn

giám sát và chế độ chính sách của Nhà nước đối với công tác TVGS chưa được coi

trọng, chưa có cơ chế thu hút và chế độ đãi ngộ phù hợp với trách nhiệm và quyền hạn

của TVGS; Chưa có biện pháp quản lý chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, kiểm soát

năng lực hành nghề và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ tư vấn giám sát.

+ Hoạt động giám sát chất lượng của Tư vấn được thực hiện chưa đầy đủ, TVGS chưa

thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, khơng kiểm sốt được chất

lượng cơng trình trong q trình thi cơng của nhà thầu; không bám sát hiện trường để

13



kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử ký các vi phạm về chất

lượng trong quá trình thực hiện dự án.

1.4.3 Đối với nhà thầu thi công xây dựng:

Vẫn còn có nhà thầu khơng có cán bộ kỹ thuật, khơng có chỉ huy trưởng cơng trình

theo quy định, hoặc bố trí cán bộ chỉ huy trưởng cơng trường không đúng với hồ sơ dự

thầu... đa số các nhà thầu chưa quan tâm đến biện pháp thi công, hệ thống quản lý chất

lượng nội bộ, khơng bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí khốn trắng cho đội thi

công và tư vấn giám sát; Biện pháp thi công trong hồ sơ dự thầu chỉ là hình thức, chưa

đưa ra được các biện pháp sát thực để phục vụ thi công, chỉ đạo thi công một cách

khoa học.

Nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có

hệ thống quản lý chất lượng theo u cầu, tính chất quy mơ cơng trình xây dựng, trong

đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc phải được

nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản. Trong q trình thi

cơng khốn cho đội thi công. thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện

trường xây dựng.

Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng

còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc

cơng giỏi, thợ đầu đàn. Sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công

nhân thời vụ, việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài. Việc tổ

chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế.

Đây là những nguyên nhân tiềm ẩn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng cơng trình xây

dựng, gây thất thốt, lãng phí, giảm hiệu quả vốn đầu tư.

1.5 Những sự cố cơng trình xảy ra liên quan đến quản lý chất lượng

1.5.1 Một số khái niệm liên quan đến sự cố cơng trình

Định nghĩa sự cố: Sự cố cơng trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho

phép làm cho cơng trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần, tồn bộ cơng trình

hoặc cơng trình khơng sử dụng được theo thiết kế .

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRẠM BƠM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×