Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Vai trò của Điều 79(2) CISG trong hoạt động thương mại quốc tế.

IV. Vai trò của Điều 79(2) CISG trong hoạt động thương mại quốc tế.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngồi ra, so với UCC thì cách tiếp cận của Điều 79(2) CISG sẽ khắt khe hơn.

Chẳng hạn, bên vi phạm sẽ không được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều

79(2), trong trường hợp những trở ngại xảy ra ở cấp của nhà thầu phụ là hoàn toàn có thể

lường trước được (đối với nhà thầu phụ) về ký kết hợp đồng. Trong những trường hợp đó,

bên vi phạm của CISG không thể chứng minh rằng người thứ ba đáp ứng bốn yêu cầu của

Điều 79(1). Tuy nhiên theo chế độ UCC, một bên vi phạm trong cùng một hồn cảnh

cũng có thể được miễn. Theo Điều 2:615 UCC, bên vi phạm chỉ cần chỉ ra rằng vấn đề

ngăn cản việc thực hiện của nhà thầu phụ là khơng thể lường trước với anh ta. Chính bản

thân thầu phụ có biết hay khơng biết những khó khăn tại thời điểm ký kết hợp đồng sẽ

khơng có ý nghĩa gì. Trong trường hợp này, việc áp dụng Điều 79(2) dường như đưa ra

kết quả phù hợp hơn cho các bên tham gia vào thương mại quốc tế. Bên bị vi phạm có thể

ở vị trí tốt hơn bên vi phạm về rủi ro thiệt hại phát sinh từ lỗi của bên thứ ba 14. Do đó,

điều 79(2) có thể là cần thiết để thực hiện đúng chức năng của CISG, phù hợp với lợi ích

rõ ràng đối với cộng đồng doanh nghiệp quốc tế.

Ngược lại, quan điểm không ủng hộ Điều 79(2) cho rằng: trong các văn bản pháp

luật như PICC, PECL, UCC khơng hề có cách tiếp cận như Điều 79(2). Người ta cho

rằng khi áp dụng Điều 79(1) hay Điều 79(2) thì khơng có sự khác biệt đáng kể. Trong

trường hợp phát hiện người thứ ba không đáp ứng các điều kiện cần thiết của người thứ

ba theo Điều 79(2), bên vi phạm sẽ bị xử lý theo Điều 79(1) của CISG. Mà thực tế Tòa

đều bác bỏ các lý do của người thứ ba về sự vi phạm của mình. Vì các vấn đề như tài

chính, lỗi kỹ thuật,… đều phải nằm trong phạm vi kiểm soát của bên thứ ba và bất kỳ sự

chậm trễ nào của bên thứ ba cũng có thể được phân loại như là một trở ngại có thể lường

trước được tại thời điểm ký hợp đồng. Sự chậm trễ của bên thứ ba không phải là một sự

xuất hiện bất thường trong thương mại quốc tế. Quy định tại Điều 79(2) chỉ tạo thêm

gánh nặng chứng minh cho bên vi phạm, bởi chứng minh cho bản thân mình là trường

hợp bất khả kháng đã là điều không dễ dàng mà còn phải chứng minh tương tự cho bên

thứ ba. Do đó, nếu bỏ đi Điều 79(2) thì vẫn có thể áp dụng Điều 79(1) để giải quyết các

vấn đề liên quan tới bên thứ ba. Lỗi của người thực hiện hợp đồng phụ, trong một vài

trường hợp cụ thể có thể cấu thành trở ngại hợp lý, hay nói cách khác là “bất khả kháng”

theo Điều 3:108 PICC15. Tương tự, Điều 2:165 UCC cũng được áp dụng để giải quyết

vấn đề về việc không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do lỗi của người cung ứng hoặc

người thực hiện hợp đồng phụ.



14 C Spivack, 'Of Shrinking Sweatsuits and Poison Vine Wax: A Comparison of Basis for Excuse under

U.C.C. Article 2-615 and CISG Article 79', Pennsylvania Journal of International Economic Law, vol. 27,

2006

15 C Kessedijan, 'Competing Approaches to Force Majeure and Hardship', International Review of Law

and Economics, 2005, pp. 415-433.

19



Thêm một lý do nữa mà bên không ủng hộ Điều 79(2) đưa ra, đó là sự tranh cãi về câu

chuyện thế nào là người thứ ba. Trong trường hợp không có quy định cụ thể về bên thứ

ba, các tòa án hoặc trọng tài chắc chắn sẽ lấp đầy khoảng cách nhận thức trong CISG

bằng cách tham khảo luật pháp trong nước hoặc giải thích theo quan điểm của mình. Điều

đó chắc chắn dẫn đến các giải pháp khác nhau trong các vụ việc tương đồng và mục tiêu

đã nêu của Công ước về thúc đẩy sự thống nhất quốc tế sẽ bị tổn hại. Các nhà phân tích

cũng đưa ra một điều khoản trong PECL để thay thế cho Điều 79(2) CISG. Điều 8:107

của PECL nhấn mạnh rằng người bán sẽ chịu trách nhiệm về hành động của bất kỳ nhân

viên, đại lý, nhà cung cấp, nhà sản xuất và thầu phụ mà anh ta giao phó để thực hiện hợp

đồng chính. Các nhận xét cho Điều 8:107 nói rằng “mối quan hệ nội bộ giữa bên và

người thứ ba khơng có ý nghĩa gì trong bối cảnh này”16. Vì khơng có sự phân biệt giữa

trách nhiệm của người bán đối với các nhà thầu phụ và nhà cung cấp, khơng cần phải có

quy định tương tự Điều 79(2) của CISG. Nếu cách tiếp cận này được thông qua trong

Cơng ước, nó sẽ loại bỏ hồn tồn sự cần thiết phải tranh luận ai là người thứ ba. Việc

phân chia các nhà cung cấp từ nhà thầu phụ có thể bị từ bỏ và Điều 79(1) sẽ áp dụng đối

với bất kỳ trở ngại nào đối với hoạt động. Các từ ngữ của Điều 8:107 của PECL cũng sẽ

đảm bảo rằng các tòa án áp dụng Điều 79 một cách đồng nhất và vẫn giữ được phạm vi

áp dụng chặt chẽ của Điều này. Bên vi phạm sẽ khó có thể tranh luận rằng việc bên thứ ba

khơng thực hiện được là nằm ngồi tầm kiểm sốt của anh ta khi nguy cơ xảy ra sự cố đó

đã được đưa ra một cách rõ ràng. Do đó có thể kết luận rằng cộng đồng doanh nghiệp

quốc tế không cần quy định tương tự Điều 79(2). Mục đích của việc xử lý nghiêm minh

các trường hợp vỡ nợ, khó khăn hay bất kì lý do gì của nhà thầu phụ vẫn có thể đạt được

theo CISG mà khơng có Điều 79(2).

Nhìn chung, nhóm theo quan điểm khơng ủng hộ Điều 79(2) bởi đây là một điều

khoản quá nghiêm ngặt và gây ra nhiều tranh cãi, việc áp dụng điều khoản này vào thực

tế gần như là một chuyện vô cùng “viễn vông”, “xa vời”. Mặt khác, xét về bản chất, căn

cứ miễn trách nhiệm này hồn tồn khơng phù hợp với nguyên tắc chịu trách nhiệm tài

sản trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Các bên tham gia quan hệ phải tự

mình gánh chịu các nghĩa vụ cũng như lợi ích về mặt tài sản phát sinh từ quan hệ đó. Nếu

bên thứ ba được miễn trách nhiệm trước bên có hành vi vi phạm thì đó là vấn đề nằm

trong khuôn khổ hợp đồng của hai bên đó và họ phải tự giải quyết. Hợp đồng đó được

xác lập vì lợi ích của họ nên đương nhiên trách nhiệm cũng do họ gánh chịu, không thể

yêu cầu bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu hoặc chia sẻ gánh nặng đó. Đó là còn chưa

đề cập đến vấn đề sự tương quan lợi ích giá trị của hai hợp đồng chính và phụ. Giả sử

như hợp đồng phụ của bên vi phạm và bên thứ ba có giá trị nhỏ hơn hợp đồng chính thì

nếu như Điều 79(2) thật sự được áp dụng thì bên bị vi phạm sẽ bị thiệt hại lớn hơn dù

16 Comments and Notes on Article 8:107 PECL, Comment B. Viewed on 4 July 2012. Available at:

.

20



không phải lỗi của họ. Hơn nữa, qua các vụ việc mà nhóm đã nghiên cứu, sự tranh cãi về

tư cách người thứ ba cũng là khơng cần thiết và nhóm cũng đồng tình với quan điểm của

các nhà phân tích cho rằng Điều 8:107 PECL hồn tồn có thể thay thế được Điều 79(2)

CISG. Cách quy định này vừa rõ ràng, không phân biệt người thứ ba là ai, không gây ra

tranh cãi và vừa đạt được sự thống nhất và tinh thần của Điều 79(2) CISG trong quan hệ

giao thương quốc tế.



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Vai trò của Điều 79(2) CISG trong hoạt động thương mại quốc tế.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×