Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Case ví dụ minh họa.

II. Case ví dụ minh họa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Nguyên đơn: Ý (người bán).

- Bị đơn: Thụy Sĩ (người mua).

- Hàng hóa: Vách ngăn phân vùng (Modular wall partitions).

- Diễn biến vụ việc: Cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1995, người bán tiến hành việc

cung cấp và lắp đặt Mơ hình tường di động tiêu chuẩn Extra (vách ngăn phân vùng) cho

bên mua sử dụng lắp đặt trong hội thảo. Tháng 9 tháng 10 năm 1995, người bán tiến hành

cung cấp lần thứ hai các vách ngăn phân vùng Model D lắp đặt tại các văn phòng của nhà

máy bên mua. Tuy nhiên lần này bên mua than phiền rằng vách ngăn không đủ tiêu chuẩn

và từ chối thanh toán số dư chưa thanh toán cho giá bán. Người bán kiện người mua ra

Tòa.

- Lập luận của bên mua: Bên mua cho rằng vách ngăn phân vùng Model D khơng

đủ tiêu chuẩn, có thể nghe âm thanh từ nơi này truyền sang nơi khác. Họ cho rằng nghĩa

vụ của hợp đồng không chỉ là việc giao hàng mà còn bao gồm cả việc lắp đặt, việc lắp đặt

vách ngăn được thực hiện thông qua B và G là đại diện của bên bán tại Ticino nên đã từ

chối thanh toán phần số dư chưa thanh toán cho giá bán và xem nó như một phần giá trị

để bù vào khiếm khuyết của vách ngăn.

- Lập luận của bên bán:

Bên bán cho rằng hợp đồng chỉ bao gồm việc giao hàng mà không bao gồm việc

lắp đặt. Chất lượng vách ngăn phù hợp với đơn đặt hàng, khiếm khuyết của vách ngăn

nằm ở việc lắp đặt, lẽ ra nó phải đạt tới chiều cao của trần nhà để tránh âm thanh bị

truyền từ nơi này sang nơi khác. Bên bán cho rằng, các vách ngăn không được lắp đặt bởi

đại diện của bên bán mà bởi ông G và B theo tư cách cá nhân chứ không phải theo tư

cách đại diện của bên bán. Hơn nữa, việc lắp đặt được lập thành hóa đơn riêng và bên

mua thanh tốn trực tiếp cho bên lắp đặt chứ khơng phải bên bán. Do đó, bên bán khơng

chịu trách nhiệm về khuyết tật của sản phẩm.

- Phán quyết của Tòa:

Tòa án sơ thẩm cho rằng sản phẩm của bên bán phù hợp với đơn hàng, lỗi ở khâu

lắp đặt, không thuộc trách nhiệm của bên bán, do đó, người bán khơng thể bị tính phí về

trách nhiệm đối với khuyết tật trong việc cung cấp vách ngăn. Bên mua kháng cáo lên

Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên Tòa phúc thẩm, Tòa án đồng quan điểm với Tòa cấp

dưới và bác bỏ kháng cáo của bên mua.

Tòa án phúc thẩm nhận định rằng khơng có chứng cứ cụ thể chứng minh B và G

thực hiện công việc lắp đặt theo sự chỉ định của bên bán. Trong trường hợp không có

bằng chứng nào, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên mua. Do đó, Tòa đồng ý với

quyết định của Tòa án cấp dưới về vấn đề này.

2.1.2 Phân tích

● Bên lắp đặt B và G có phải là bên thứ ba hay không?

8



Qua các lời khai của các bên, không có chứng cứ rõ ràng chứng minh mối quan hệ

đại diện giữa bên bán và bên lắp đặt. Dù có nhân chứng cho lời khai rằng bên lắp đặt có

thương lượng với bên bán về vấn đề sẽ đại diện bên bán để lắp đặt sản phẩm, nhưng vẫn

không thể kết luận bên bán đã chỉ thị B và G đi lắp đặt sản phẩm. Bên bán đã đưa ra được

chứng cứ cho thấy quản lý của bên mua (Mr. EG) đã tách riêng chi phí mua hàng và chi

phí lắp đặt trong đơn đặt hàng thứ hai. Điều này cho thấy, giai đoạn lắp đặt không nằm

trong hợp đồng giữa bên bán và bên mua. Thực tế bên mua cũng trả tiền công lắp đặt

riêng cho bên lắp đặt, có hóa đơn riêng cho việc này. Bên lắp đặt đã thừa nhận nhận làm

cho bên mua với mục đích luyện tập và cả mục đích kinh tế vì đã nhận số tiền là 90.000

Sfr (Franc Thụy Sĩ) trong khi nếu bên bán tự làm thì chỉ có 80.000 Sfr. Nếu như đã nhận

chỉ thị từ bên bán thì đáng lẽ khơng cần phải tách riêng hóa đơn mà bên bán sẽ thanh toán

lại cho bên lắp đặt hoặc tiền lắp đặt đã bao gồm trong giá hàng bán. Như vậy, bên lắp đặt

đã dùng tư cách cá nhân của mình để thực hiện việc lắp đặt.

Hơn nữa, nhiệm vụ của bên bán chỉ dừng lại ở việc giao hàng đúng với hợp đồng

giao kết. Như vậy bên bán đã hồn thành nghĩa vụ của mình. Việc bên lắp đặt tham gia

khơng liên quan gì đến hợp đồng giữa bên bán và bên mua. Do đó, có thể kết luận, bên

lắp đặt không phải là người thứ ba theo Điều 79(2).

Người bán khơng phải chịu trách nhiệm gì với vấn đề xảy ra đối với bên mua vì

lỗi là ở khâu lắp đặt. Nếu muốn ràng buộc trách nhiệm của người bán thì người mua phải

chứng minh được giữa bên bán và bên lắp đặt có mối quan hệ đại diện hoặc có vai trò

như nhà thầu phụ. Lúc này bên bán phải chịu trách nhiệm với hoạt động của bên lắp đặt

vì có sự chỉ thị từ bên bán. Do đó, trong vụ việc này, sẽ khơng hợp lý nếu như buộc bên

bán phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả mà bên bán không liên quan đến.



2.2 CLOUT case No. 2727, No. 2718

2.2.1 Tóm tắt vụ việc

- Nguyên đơn: Nhà điều hành vườn nho ở Áo

- Bị đơn: Cơng ty F.W ở Đức.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Công ty S. Werke GmbH ở Đức

- Hàng hóa tranh chấp: Sáp nho.

- Diễn biến sự việc: Người mua và Người bán đã thiết lập quan hệ kinh doanh

trong nhiều năm. Người mua vận hành vườn ươm giống nho. Người mua sử dụng sáp

ghép grapevine để bảo vệ gốc ghép và các vết cắt khỏi chống mất nước và nhiễm

trùng. Sáp ong người mua cũng bán cho khách hàng khác, và đã được cung cấp bởi người

7 http://cisgw3.law.pace.edu/cases/980331g1.html

8 http://cisgw3.law.pace.edu/cases/990324g1.html

9



bán trong nhiều năm. Ngày 31/1/1994, nguyên đơn có đặt mua 5000kg sáp ong đen. Tuy

nhiên hàng được giao là loại sáp nho mới được phát triển bởi S.Werke. Công ty F.W đã

không kiểm tra hàng mà giao hàng một cách trực tiếp từ công ty S. Werker sang ngun

đơn. Ngày 16/6/1994, ngun đơn đã có thư thơng báo về thiệt hại to lớn do sử dụng sáp

nho. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 14.156.348,40 sA (đơn vị tiền

tệ của Áo cũ). Bị đơn không chấp nhận yêu cầu bồi thường.

- Lập luận nguyên đơn:

Sáp người bán giao vào năm 1994 đã có thiếu sót và dẫn đến những thiệt hại đáng

kể trong quá trình điều chế cây nho. Đối với chính người mua cũng như khách hàng và

các đối tác kinh doanh, sáp đã có những ảnh hưởng tàn phá đối với hạt nho.

Người mua đã cáo buộc rằng trong năm 1994 người bán đã phân phối một sản

phẩm khác với sản phẩm mà người mua thực sự đã đặt. Thêm nữa, người bán đã nhận

thức được thực tế rằng sáp được phân phối vào năm 1994 là một sản phẩm khác chưa

được kiểm tra trước đó. Giám đốc điều hành của người bán đã thông báo cho người mua

rằng anh ta không cho rằng cần thông báo về việc sửa đổi sáp được thiết kế lại, vì họ sẽ

chỉ mang lại kết quả trong cải tiến tổng thể của sản phẩm.

- Lập luận bị đơn:

Các thiệt hại yêu cầu không liên quan đến q trình trồng của cây nho. Thay vào

đó, cây nho chết vì lạnh. Người bán tuyên bố rằng sự miễn trừ trách nhiệm theo Điều 79

CISG. Theo như lời khai của bị đơn sáp đã được cung cấp bởi công ty S.Werke - Người

bán lập luận rằng công ty này đã được biết đến trong ngành công nghiệp như là một nhà

cung cấp chuyên về sáp. Ngoài ra, người bán cáo buộc rằng họ không bắt buộc phải xem

hoặc kiểm tra sản phẩm. Mặt khác, người mua đã nhận thức đầy đủ về thực tế là người

bán chỉ hoạt động với vai trò trung gian. Người mua yêu cầu vượt quá về nghĩa vụ của

người trung gian trong vị trí của người bán.

- Phán quyết sơ thẩm:

+ Khơng thể áp dụng Điều 79(2) vì nhà cung cấp trong trường hợp này không

được xem là bên thứ ba.

+ Trách nhiệm của bên bán được miễn trừ theo Điều 79(1).

- Phán quyết của tòa phúc thẩm: Bên bán khơng được miễn trừ theo Điều 79(1) và

(2). Bị đơn phải bồi thường cho các thiệt hại của bên mua.

2.2.2 Phân tích

● Về vấn đề nhà cung cấp không được xem là người thứ ba.

Theo lập luận của Tòa sơ thẩm, Điều 79(2) chỉ áp dụng khi một bên của hợp đồng

giao cho người thứ ba thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng với việc thực hiện như là trách

nhiệm riêng của mình. Người thứ ba trong trường hợp này chỉ tham gia với vai trò là

người cung cấp hàng hóa nên khơng được xem là người thứ ba theo Điều 79(2).

10



Tòa phúc thẩm cũng đồng ý với kết luận này.

Xét các điều kiện đã nêu ở phần lý thuyết, nhà cung cấp trong trường hợp này rõ

ràng là một bên độc lập so với người bán, tuy nhiên lại không được người bán chỉ định

tham gia thực hiện hợp đồng với người mua. Nhà cung cấp đã có quan hệ bn bán lâu

năm với bên bán và không tham gia cụ thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của bên bán đối

với bên mua. Nhà cung cấp chỉ cung ứng sản phẩm cho bên bán còn bên bán bán sản

phẩm đó cho ai thì nhà cung cấp khơng quan tâm. Nói cách khác, nhà cung ứng chỉ đóng

vai trò bổ trợ cho bên bán. Do đó, việc xác định đây khơng phải là người thứ ba là phù

hợp.

Trong vụ việc này, Tòa sơ thẩm đã nêu rõ quan điểm của mình về người thứ ba

theo Điều 79(2). Tuy nhiên, trong một vụ việc khác, cũng có sự tham gia của bên cung

ứng và Tòa án lại cơng nhận vai trò của bên cung ứng này.

● Về vấn đề bên bán không được miễn trách nhiệm.

- (1) xảy ra ngồi tầm kiểm sốt của các bên: Tòa sơ thẩm cho rằng dù cho bên

bán có kiểm tra hàng hóa trước khi được gửi đến cho người mua thì cũng khơng thể phát

hiện ra lỗi được. Vì tác dụng của sáp cụ thể đến các cây nho nếu có gây hỏng cây nho thì

phải được bên bán thử nghiệm trên một diện rộng. Việc thử nghiệm với diện tích lớn và

tốn kém chi phí như thế dường như không hợp lý với bên bán. Tòa phúc thẩm thì hồn

tồn ngược lại, Tòa cho rằng đây hồn tồn nằm trong sự kiểm sốt của bên bán.

Người bán tự quản lý vườn ươm giống nho và do đó đã có nhiều năm kinh nghiệm

trong việc sử dụng sáp nho trong quy trình nho. Do đó, người bán không thể không biết

đến những rủi ro liên quan đến việc sửa đổi sáp nho đen thông dụng. Hơn nữa, bên cung

cấp cũng đã chỉ ra chính bên bán đã yêu cầu nhà cung cấp phải đổi mới sản phẩm để cạnh

tranh với các loại sáp khác. Khi sản phẩm mới được làm ra, nhà cung cấp đã làm các

kiểm tra các mẫu này ở việc nghiên cứu sinh học. Tuy nhiên sau đó thì cả hai bên – bên

bán và nhà cung cấp khơng làm thêm bất kì thử nghiệm nào khác về sự tương thích sinh

học trên sản phẩm. Nhà cung cấp chỉ đáp ứng đúng các yêu cầu về vật lý, hóa học.

Theo nguyên tắc chung, một nhà sản xuất không chịu trách nhiệm kiểm tra sự phù

hợp về sinh học của sản phẩm với cách sử dụng cụ thể. Vì vậy, bên bán là nhà phân phối

sáp ong người cũng điều hành một vườn ươm giống nho, biết rõ hơn bất kỳ ai khác về

đặc tính và đặc tính của sáp trong việc sử dụng cụ thể. Do đó với sản phẩm mới này,

người bán khơng thể cho rằng nó giống hồn tồn với các sản phẩm đã cung cấp trước

đó, và việc bán và phân phối sản phẩm đó liên quan đến những rủi ro đáng kể.

(2): không thể lường trước một cách hợp lý tại thời điểm kí kết hợp đồng: giám

đốc của bên bán đã hủy bỏ đặt hàng sáp nho cũ như những năm trước và loại này chưa

bao giờ bị phàn nàn bởi bất kì khách hàng nào. Thay vào đó là loại sáp mới, như đã phân

tích ở trên, chắc chắn bên bán phải lường trước các tác dụng phụ của sản phẩm mới này.

11



(3): sự kiện và hậu quả của nó khơng thể tránh được hoặc khơng thể khắc phục

được: Rõ ràng người bán có trách nhiệm thực hiện các thử nghiệm thực địa cần thiết để

tránh hoặc ít nhất giảm thiểu nguy cơ sáp mới không dung thích ứng được thực vật. Hoặc

ít nhất bên bán cũng có nghĩa vụ thơng báo cho người mua về thực tế là sáp ong được

giao lại đã được thiết kế lại, chưa được chấp thuận bằng cách sử dụng thực tế và đề nghị

bên mua thử nghiệm. Bởi người mua khơng hề biết về quyết định thay đổi hàng hóa của

bên bán và tưởng rằng đây vẫn là sản phẩm nên khơng có bất kì sự phòng chống hay chú

ý đặc biệt nào.

Như vậy, qua phân tích, vụ việc được đề cập này có sự liên quan của một bên

khơng phải hai bên chính của hợp đồng. Tuy nhiên lại khơng nằm trong phạm vi có thể áp

dụng của Điều 79(2).



2.3 CLOUT case No. 1669

2.3.1 Tóm tắt vụ việc

- Nguyên đơn (bên bán): Hồng Kông.

- Bị đơn (bên mua): Đức.

- Hàng hóa liên quan: hàng hóa Trung Quốc.

- Diễn biến vụ việc:

Bên bán và bên mua đã ký một thỏa thuận chung về việc giao hàng và phân phối

độc quyền hàng hóa Trung Quốc. Theo thỏa thuận này, bên bán chịu trách nhiệm về

những mối quan hệ kinh doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc trong khi bên mua chịu

trách nhiệm phân phối hàng hoá ở châu Âu. Trên cơ sở đó, các bên đã ký hợp đồng mua

bán hàng hố riêng lẻ theo định kỳ. Do những khó khăn về tài chính, nhà sản xuất Trung

Quốc khơng thể giao hàng đã được đặt trước cho bên bán, do đó khơng thể thực hiện

được nghĩa vụ theo hợp đồng của mình với bên mua.

Bên bán yêu cầu phải thanh tốn cho số hàng hố đã giao trước đó. Bên mua phản

đối và yêu cầu bồi thường thiệt hại cho khoản lợi nhuận bị mất do việc chấm dứt quan hệ

với bên bán và từ chối thanh toán.

- Phán quyết của Hội đồng Trọng tài

Hội đồng trọng tài đã chấp thuận yêu cầu thanh toán của người bán. Bên mua có

thể yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh tự việc vi phạm hợp đồng bán hàng có liên

quan nhưng không phải từ hợp đồng phân phối chung.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại cho việc không thực hiện hợp đồng bán hàng,

Hội đồng trọng tài cho rằng hợp đồng có thể bị tun vơ hiệu và thiệt hại có thể được đòi

bồi thường theo điều 45 (2). Hơn nữa, bên bán có thể bị coi là đã từ chối thực hiện 1 cách

9 https://cisgw3.law.pace.edu/cases/960321g1.html

12



bất hợp pháp nếu bên bán thực hiện việc giao hàng dựa trên việc thanh toán các khoản nợ

từ hợp đồng bán hàng trước, ngay cả khi các bên đã đồng ý thanh toán trước.

Hội đồng trọng tài cũng tuyên bố rằng yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua

không bị loại trừ theo Điều 79 CISG vì những khó khăn về tài chính của nhà sản xuất

Trung Quốc bán ra nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bán, có nghĩa là bên mua

được quyền đòi bên bán bồi thường thiệt hại.

2.3.2 Phân tích

● Về vấn đề nhà sản xuất có phải là bên thứ 3 hay không?

- Nhà sản xuất Trung Quốc là hoàn toàn độc lập với bên bán.

- Nhà sản xuất Trung Quốc có quan hệ với bên bán, cung cấp hàng hóa cho bên

bán để bên bán giao hàng cho bên mua. Không rõ nhà sản xuất này chỉ cung cấp hàng hóa

cho hợp đồng của bên bán và bên mua hay chỉ đơn thuần là nhà cung cấp cho bên bán.

Tuy nhiên, vì Hội đồng Trọng tài khơng đề cập đến việc phủ nhận tư cách người thứ ba

của nhà sản xuất nên có thể khẳng định nhà sản xuất trong vụ việc này được xem là bên

thứ ba theo Điều 79(2). Như vậy, so với vụ việc trên, cùng là nhà cung cấp hàng hóa cho

bên bán nhưng khơng phải có đều được cơng nhận là người thứ ba.

● Về vấn đề bên bán có được miễn trách nhiệm hay không?

- Điều kiện 1: bên vi phạm được miễn trách theo khoản 1 Điều 79 CISG, tức là

việc bên thứ ba không thực hiện hợp đồng cấu thành một trường hợp bất khả kháng đối

với bên vi phạm;

Ta xét bên bán có được miễn trách theo khoản 1 Điều 79 CISG hay khơng có

nghĩa là xét xem việc nhà sản xuất Trung Quốc không thực hiện hợp đồng đã gây ra 1

trường hợp bất khả kháng đối với bên bán. Một trở ngại được xem là trường hợp miễn

trách phải thoả mãn đồng thời ba điều kiện:

(1) xảy ra ngồi tầm kiểm sốt của các bên: việc nhà sản xuất Trung Quốc khơng

giao hàng có thể xem là ngồi tầm kiểm sốt của bên bán.

(2) khơng thể lường trước một cách hợp lí tại thời điểm kí kết hợp đồng: điều kiện

này thỏa mãn vì khi kí kết hợp đồng với nhà sản xuất Trung Quốc có thể khi đó họ chưa

gặp khó khăn về tài chính.

(3) sự kiện và hậu quả của nó khơng thể tránh được hoặc không thể khắc phục

được: việc nhà sản xuất Trung Quốc không giao hàng là 1 trở ngại bất ngờ, vì vậy có thể

xem là khơng thể tránh được.

Nhà sản xuất Trung Quốc không thực hiện hợp đồng đã gây ra một sự kiện bất khả

kháng đối với bên bán.

- Điều kiện 2: Bên thứ ba cũng được miễn trách khi áp dụng các điều kiện tại điều

79(1) cho bên đó, hay nói cách khác, bên thứ ba khơng thực hiện hợp đồng là do gặp bất

khả kháng.

13



Xét trở ngại mà nhà sản xuất Trung Quốc gặp phải:

(1): xảy ra ngồi tầm kiểm sốt của các bên: theo nhóm thì trở ngại này khơng

ngồi tầm kiểm sốt của các bên vì vấn đề về tài chính là một vấn đề rất quan trọng trong

1 công ty, công ty phải hoàn toàn chú ý đến vấn đề này và đưa ra những chiến lược, kế

hoạch phù hợp. Nói cách khác, vấn đề tài chính là vấn đề mà cơng ty phải kiểm sốt

được.

(2): khơng thể lường trước một cách hợp lý tại thời điểm kí kết hợp đồng: một

cơng ty bắt buộc phải có những chun viên phân tích tài chính để đánh giá khả năng tài

chính của cơng ty và từ đó đưa ra những chiến lược, chính sách phù hợp. Vì vậy khơng

thể nói rằng khó khăn tài chính là khơng thể lường trước được.

(3): sự kiện và hậu quả của nó khơng thể tránh được hoặc khơng thể khắc phục

được: có thể thỏa mãn.

Như vậy trở ngại này không được xem là sự kiện bất khả kháng.

Tuy việc nhà sản xuất Trung Quốc không thực hiện hợp đồng với bên bán có thể

được coi là 1 sự kiện bất khả kháng nhưng khó khăn tài chính của nhà sản xuất Trung

Quốc không phải là một sự kiện bất khả kháng. Do vậy, bên bán không được miễn trách

theo Điều 79(2) là hợp lý.



2.4 Arbitral award No.812810

2.4.1 Tóm tắt vụ việc

- Nguyên đơn: bên mua Thụy Sĩ

- Bị đơn: bên bán Áo

- Hàng hóa liên quan: Phân bón

- Diễn biến vụ việc:

Bên mua (Thụy Sĩ) đặt hàng phân bón từ bên bán (Áo), tuy nhiên đến thời hạn

giao hàng vẫn không nhận được hàng, bên mua phải đặt hàng từ một nơi khác để thay

thế. Lý do bên bán khơng giao được hàng là vì bên cung cấp phân bón ở Ucraina do bên

bán ký hợp đồng khơng thể thực hiện hợp đồng do mẫu bao bì mà bên mua (Thụy Sĩ) gửi

không phù hợp với quy chế kỹ thuật trong sản xuất ở Ucraina, dẫn đến việc chậm trễ giao

hàng.

- Lập luận các bên:

Bên bán cho rằng việc hợp đồng không thể thực hiện được không thể quy cho bên

này vì bên bán khơng thể biết về lý do làm cản trở hợp đồng.

Bên mua cho rằng bên bán có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này và yêu

cầu bồi thường thiệt hại do bên mua phải đặt hàng thay thế .

10 http://cisgw3.law.pace.edu/cases/958128i1.html

14



- Phán quyết của Tòa trọng tài:

Tòa cho rằng bên bán vẫn phải có trách nhiệm về hàng hóa vì bên cung ứng là do

bên bán lựa chọn, nên rủi ro về hàng hóa vẫn bao gồm trách nhiệm giải quyết của bên bán

chứ khơng chỉ riêng bên cung cấp.

2.4.2 Phân tích

● Về vấn đề bên thứ ba:

Bên cung cấp trong trường hợp này được xem là người thứ ba theo Điều 79(2), xét

các điều kiện:

- Nhà cung cấp ở Ucraina hoàn toàn độc lập với bên bán.

- Nhà cung cấp này được bên bán kí hợp đồng để cung cấp hàng hóa cho bên mua.

Bao bì của sản phẩm là do bên mua cung cấp cho nhà cung cấp. Như vậy, bên mua cũng

biết rõ sự tồn tại cũng như sự tham gia hợp đồng của bên thứ ba. Nhà cung cấp có trách

nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình trong vụ việc cụ thể này theo yêu cầu của bên mua và

bên bán để thực hiện hợp đồng chính. Như vậy, bên thứ ba có sự tham gia thực hiện hợp

đồng một cách rõ nét chứ không phải là một nhà cung cấp thông thường cho bên bán và

không quan tâm đến việc bên bán bán sản phẩm đó cho ai. Do đó, nhà cung cấp là người

thứ ba trong phạm vi Điều 79(2).

● Vấn đề miễn trách nhiệm của bên bán

- Xét các điều kiện đối với bên cung cấp:

(1) xảy ra ngồi tầm kiểm sốt của các bên: việc mẫu bao bì mà Thụy Sĩ gửi

khơng phù hợp với quy chế kỹ thuật trong sản xuất của Ucraina nhóm cho rằng ngồi tầm

kiểm sốt của nhà sản xuất và bên mua. Bởi trong một chừng mực nhất định, bên mua có

thể khơng hiểu rõ các quy định về quy chế kỹ thuật của nước Ucraina do bên mua không

phải là bên hợp đồng trực tiếp với nhà cung cấp nên bao bì bên mua gửi có khả năng sẽ

khơng phù hợp với quy định nước này. Bên cung cấp Ucraina cũng chỉ nhận mẫu từ

người khác chứ không phải tự thiết kế mẫu.

(2) không thể lường trước một cách hợp lí tại thời điểm kí kết hợp đồng: có thể

thấy rằng việc mẫu bao bì khơng phù hợp với Ucraina là điều không thể lường trước khi

Thụy Sĩ và Áo ký kết hợp đồng, Ucraina là một nước độc lập và điều này khó cho việc

lường trước những khó khăn.

(3) sự kiện và hậu quả của nó khơng thể tránh được hoặc khơng thể khắc phục

được: tuy khó khăn xảy ra ngồi tầm kiểm sốt của các bên và các bên cũng khơng thể

lường trước, tuy nhiên vẫn có thể khắc phục được hậu quả bằng cách sửa lại mẫu bao bì

cho phù hợp với luật pháp Ucraina trong thời gian phù hợp.

Vậy trở ngại này không được xem là sự kiện bất khả kháng đối với bên cung cấp.



15



- Xét các điều kiện đối với bên bán: Trọng tài cho rằng bên bán hoàn toàn phải

chịu trách nhiệm đối với nhà cung cấp của mình. Nhóm đồng ý với kết luận của Tòa.

Dù bên mua tự mình gửi bao bì cho nhà cung cấp nhưng bao bì này cũng nằm

trong phạm vi kiểm sốt hàng hóa của bên bán. Bên bán lập luận rằng bên bán chỉ phải

chịu trách nhiệm khi bao bì này do chính bên bán chỉ dẫn cho bên mua hoặc trực tiếp gửi

cho bên Ucraina. Điều này là không hợp lý. Bên bán phải biết được nội dung bao bì này

có những thơng tin gì, nếu khơng biết thì bên bán phải liên lạc với nhà cung cấp. Khơng

thể nói rằng bên bán chỉ đảm bảo chất lượng phân bón còn bao bì thì khơng. Rõ ràng về

mặt tổng thể sản phẩm về chất lượng và hình thức bên bán phải đảm bảo cả hai. Như vậy,

vấn đề này nằm trong sự tầm kiểm soát của bên bán và bên bán phải lường trước được

những sự cố có thể xảy ra này.

Hơn nữa, quan hệ cung cấp rõ ràng là vấn đề của bên bán và bên cung cấp, bên

bán phải nắm rõ các quy định của nước thứ ba và phải có sự điều chỉnh khi sự cố xảy ra

hoặc có hành động tìm nhà cung cấp khác để thực hiện đúng hợp đồng với bên mua. Bên

bán đã không liên lạc với bên cung cấp và cũng khơng có các hành động để khắc phục

vấn đề. Điều kiện (3) rõ ràng không được đáp ứng.

Xét tổng thể cả hai đối tượng, bên thứ ba và bên bán đều không đáp ứng các điều

kiện để được miễn trách nhiệm cho việc không thực hiện hợp đồng. Thực tế thì cũng rất

hiếm có trường hợp được miễn trách nhiệm như đã phân tích ở phần lý thuyết.



III. Miễn trách nhiệm do lỗi của bên thứ ba trong pháp luật Việt Nam.

CISG và Luật Thương mại 2005 đều có cách tiếp cận tương tự khi quy định về các

trường hợp miễn trách nhiệm: bất khả kháng và lỗi của bên bị vi phạm (Điều 79 CISG và

Điều 294 Luật Thương mại 2005). Tuy nhiên, CISG có quy định thêm về trường hợp

miễn trách nhiệm do lỗi của bên thứ ba trong khi pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có

quy định này.

Về vấn đề này, có vẻ như Luật thương mại 2005 cứng nhắc hơn so với Pháp lệnh

hợp đồng kinh tế năm 1989, một văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng kinh tế trong

không gian và thời gian của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tại Điều 40 Pháp lệnh

hợp đồng kinh tế quy định: “Bên vi phạm hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn

hoàn toàn trách nhiệm tài sản trong các trường hợp sau đây: 1) Gặp thiên tai, địch hoạ

và các trở lực khách quan khác không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện

pháp cần thiết để khắc phục ; 2) Phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền theo quy định của pháp luật; 3) Do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với

bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản trong các trường hợp

quy định tại điểm 1 và điểm 2 của điều này... 9. Tất cả các luật quy định về hợp đồng sau

16



này như Bộ luật dân sự 1995, Luật thương mại 1997, Bộ luật dân sự 2005, Luật thương

mại 2005 đã không kế thừa sự tiến bộ này mà lại loại bỏ nó ra khỏi các trường hợp miễn

trách nhiệm được quy định trong luật. Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì bên thứ ba vi

phạm hợp đồng với bên vi phạm trong phạm vi hai trường hợp được nêu tại khoản 1, 2

Điều 40 Pháp lệnh này. Quy định này có chút khác so với quy định tại Điều 79(2) CISG,

nhưng nhìn chung hai trường hợp đó cũng có thể được coi là trường hợp bất khả kháng.

Có thể xem là thu hẹp phạm vi được miễn trách hơn đối với bên vi phạm theo CISG.

Với điểm d Khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại 2005, pháp luật Việt Nam công

nhận rằng bên vi phạm được miễn trách nhiệm “do thực hiện quyết định của cơ quan

quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết

hợp đồng”. Quy định này có thể hiểu là theo hai nghĩa: (1) Một bên phải dừng việc thực

hiện nghĩa vụ đối với bên kia do phải thực hiện mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước vì lợi

ích chung của xã hội (ví dụ doanh nghiệp vận tải phải dừng việc chở hàng cho đối tác để

đi hộ đê mùa mưa bão theo yêu cầu của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội); (2) Một

bên phải tuân thủ mệnh lệnh quản lý hành chính đến trong lúc hợp đồng đang thực hiện.

Ví dụ: Doanh nghiệp kinh doanh vàng ký hợp đồng bán vàng miếng cho một doanh

nghiệp chế tác trong vòng một năm. Tuy nhiên, hợp đồng mới thực hiện được ba tháng

thì Nghị định của Chính phủ về cấm bn bán vàng miếng được ban hành và có hiệu lực

sau một tháng sau đó. Sự kiện pháp lý này làm cho hợp đồng mua bán vàng miếng không

thể tiếp tục thực hiện được nữa. Theo ý kiến của tác giả Phan Thị Thanh Thủy, trong

trường hợp này sự can thiệp của “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” sẽ đóng vai trò như

trường hợp miễn trách do lỗi của người thứ ba quy định trong Điều 79 CISG. Xét về khía

cạnh “khơng thể biết” và “khơng dự liệu được” cũng có thể coi quy định tại khoản 1(d)

Điều 294 LTM 2005 thuộc về trường hợp “bất khả kháng”. Nhìn vào quy định của pháp

luật Việt Nam có thể thấy yếu tố sự can thiệp hành chính của Nhà nước thể hiện khá rõ

ràng trong các quan hệ dân sự thương mại mà chưa được giải thích thỏa đáng và chưa có

quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong trường hợp này 11. Đây là một

thực tiễn thương mại hồn tồn có thể xảy ra trên thực tế mà pháp luật Việt Nam cần phải

bổ sung để bảo đảm tính tồn diện và cơng bằng của miễn trách nhiệm do vi phạm hợp

đồng.

Dù vậy, theo quan điểm của nhóm, “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” tuy độc lập

về chức năng và kinh tế với bên vi phạm nhưng không thể xem là bên thứ ba do không hề

tham gia thực hiện một hay tồn bộ hợp đồng, vì vậy khó có thể xem sự can thiệp của đối

tượng này đóng vai trò như trường hợp miễn trách do lỗi của người thứ ba.

11 trang 54, 55 Phan Thị Thanh Thủy / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 5060 “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và

Công ước Viên 1980”

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Case ví dụ minh họa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×