Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Vốn nhân lực và sự hình thành vốn nhân lực

I. Vốn nhân lực và sự hình thành vốn nhân lực

Tải bản đầy đủ - 0trang

máy tính...; một phần khác, đó chính là khoản thu nhập mà người lao động phải hy

sinh do không đi thể làm sớm hơn vì lựa chọn con đường học hành thêm. Những

chi phí bỏ ra ấy chỉ có ý nghĩa nếu chúng đem lại cho người lao động một khoản

thu nhập cao hơn hay một công việc làm dễ chịu hơn, có giá trị hơn trong tương

lai, bù đắp được các chi phí đầu tư .



-



Các yếu tố cấu thành vốn nhân lực



+ Trình độ chun mơn lành nghề

+ Phát triển năng lực

+ Sử dụng năng lực



1.1.2 Sự hình thành vốn nhân lực

Trước kia, các nhà kinh tế thường quan tâm đến ba yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất:

đất đai, nhân công và vốn. Vào những năm 1960, người ta bắt đầu quan tâm hơn đến trình

độ giáo dục của công nhân. Thuật ngữ “vốn nhân lực” xuất hiện từ đó .Nhà kinh tế học cổ

điển Anh Adam Smith (1723 – 1790) là người đầu tiên đưa khái niệm về vốn nhân lực: “

Sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi

hỏi chi phí. Đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con người. Những tài năng đó tạo thành

một phần tài sản của anh ta và của xã hội.

Một số tác giả sau này cũng thống nhất khái niệm vốn nhân lực. Henrich Von Thunen

viết: “Một dân tộc có nhiều người được học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hơn là một

dân tộc không được học tập. Một dân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản

lớn hơn, lao động đó đem lại nhiều sản phẩm hơn”. Alfred Marshall cũng chấp nhận khái

niệm vốn nhân lực: “Chúng ta thường định nghĩa tài sản của cá nhân trước hết bao gồm

năng lượng, năng lực và tài năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất cơng nghiệp. Những thứ

đó được coi là tài sản, là tư bản”.

Do đó vốn nhân lực là tập hợp kiến thức, khả năng, kỹ năng mà mỗi con người tích lũy

được.

Muốn có vốn nhân lực, gia đình (trong đó có bản thân mỗi người) và xã hội phải đầu tư,

vốn đó sẽ giúp con người kiếm sống suốt đời và góp phần làm giàu cho xã hội. Đó chính

là giá trị của sức lao động.

Thật vậy, bất cứ cá nhân hay tập thể nào khi tham gia hoạt động kinh tế đều phải tính đến

hiệu quả kinh tế mà biểu hiện tập trung nhất ở lợi nhuận. Muốn có lợi nhuận cao, trước

hết, họ phải đầu tư, hay bỏ vốn ra và kết quả họ phải tính được giữa cái thu về và cái họ

bỏ ra. Nguồn nhân lực cá nhân hay xã hội cũng vậy. Một người lao động sẵn sàng đầu tư



tiền bạc, sức lực và thời gian của mình để có được chất lượng nguồn nhân lực nhất định

với hy vọng sẽ làm tăng thu nhập cho bản thân sau này. Người sử dụng lao động đầu tư

cho đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức của mình để thu

thêm lợi nhuận.

Gary beckez là nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới ( Giải Nobel về kinh tế năm 1992) đã có

những đóng góp quan trọng, nhất là về vốn nhân lực. Theo ông, vốn nhân lực, yếu tố đầu

vào của sản xuất một phần nằm trong con người. Con người có thể đầu tư vào chính bản

thân mình, biểu hiện thơng qua việc chi tiêu cho giáo dục và đào tạo để có thể thu nhập

nhiều hơn trong tương lai. Một người chịu bỏ qua một số năm làm việc có thu nhập, vượt

khó khăn học tập để đáp ứng yêu cầu của công việc là do tin tưởng sau này sẽ có thu

nhập cao hơn bù lại thời kỳ đi học. Việc đầu tư vài kỹ năng gắn liền với bản thân người

lao động người ta gọi đó là đầu tư vào vốn con người.

.

1.1.3 Các thước đo của vốn nhân lực

-Khả năng giao tiếp bao gồm khả năng đọc, viết, nghe, nói khơng chỉ bằng tiếng mẹ đẻ

mà bao gồm cả ngoại ngữ



- Khả năng số học, hay là những kỹ năng đòi hỏi tính logic của toán học

-Khả năng tự thấu hiểu, điều chỉnh chính bản thân mình như sự kiên trì, sự tiên

phong, khả năng tự học, tự điều tiết bản thân, khả năng đánh giá sự việc dựa trên

những chuẩn mực đạo đức nhất định và mục tiêu sống của chính cá nhân người đó

- Khả năng thấu hiểu người khác bao gồm khả năng làm việc theo nhóm và khả

năng lãnh đạo

-Các phẩm chất khác bao gồm kiến thức tiềm ẩn, khả năng giải quyết vấn đề, khả

năng làm việc chân tay, thao tác tốt đối với các thiết bị công nghệ thông tin.



1.1.4 Mối quan hệ giữa phát triển con người và phát triển vốn nhân lực

Phát triển con người( đầu tư vào giáo dục và đào tạo) nhằm tích luỹ những kỹ

năng và kiến thức (một phần phát triển của vốn nhân lực)

Phát triển con người toàn diện, trong sự hội nhập của con người vào xã hội và

trong sự phát huy cá nhân con người, trên bình diện tinh thần, giá trị đạo đức , giá

trị thể chất, vật chất.

Quá trình phát triển người phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của giá trị nhân văn

nhân

Nguyên tắc nhân văn nhân đạo chỉ đạo các con đường phát triển.



Phát triển người tập chung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị

đạo đức, giá trị thẻ chất, vật chất

Cụ thể hơn, con người được xem xét như một tài nguyên, một nguồn lực, cho nên

phát triển người hoặc phát triển nguồn lực con người trở thành một lĩnh vực nghiên

cứu hết sức cần thiết trong hệ thống phát triển các vốn nhân lực, như vật lực, tài

lực, nhân lực, trong đó nguồn lực giữ vai trò trung tâm, cũng theo hướng này, khái

niệm hai loại vốn của ngân hàng thế giới: vốn con người và vốn vật chất, trong đó

sự phát triển vốn con người quyết định sự phát triển của vốn khác.

Công cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo đại hội VIII, lấy việc phát

huy vốn nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bến vững.

Quan điểm này đặt ra cho lĩnh vực phát triển vốn nhân lực phát triển vốn nhân lực

ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn và mới mẻ. Như trên đã nói, phát triển nguồn nhân

lực được hiểu hết về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo

đức, trí tuệ , kỹ năng, tâm hồn , thể lực... làm cho con người trở thành những người

lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu

cầu to lớn của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, của sự cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước.



II. Ảnh hưởng của giáo dục, đào tạo vốn nhân lực đến sự phát triển kinh tế

- Thứ nhất, giáo dục mang lại cho mỗi cá nhân ở một trình độ nhất định việc làm

và thu nhập (lợi ích cá nhân). Người có học vấn cao có cơ hội tìm được việc làm

tốt hơn và ít có nguy cơ thất nghiệp. Nghiên cứu của Krueger và Lindahl (1999)

cho thấy nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5 15% (OECD, 2001). Ví dụ ở New Zealand và Đan Mạch, những người có bằng cấp

đại học thu nhập 15% cao hơn so với những người chỉ tốt nghiệp phổ thơng trong

suốt qng đòi làm việc của họ (OECD, 2007). Nghiên cứu của Becker trước đó

cũng cơng bố kết quả tương tự nhưng ơng nhấn mạnh thêm giữa những người có

cùng trình độ, thu nhập trung bình cũng khác nhau tuỳ thuộc vào giới tính và

chủng tộc.

- Thứ hai, vốn nhân lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Dĩ nhiên, sự tăng trưởng

này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng nếu chúng ta hiểu đơn giản kiểu như

nếu sản xuất được nhiều hàng hố thì sẽ bán được nhiều, sẽ thu được nhiều lãi thì

trong dây chuyền sản xuất, con người là một yếu tố không thể thiếu. Nếu trước kia,

sản xuất phụ thuộc vào cơ bắp, người ta không chú trọng đến việc anh học giỏi đến



mức nào, chỉ cần anh có sức khoẻ là được thì ở giai đoạn cơng nghiệp hố, với dây

chuyền sản xuất hiện đại, nhân cơng cần có kiến thức để hiểu việc mình đang làm,

để có thể vận hành máy móc, hoặc để khắc phục sự cố nơi cơng xưởng. Thậm chí

trong tương lai, khi tất đều được thay thế bằng robot thì người ta vẫn cần những cái

đầu vĩ đại để tạo ra những con robot tốt hơn nhằm tăng gia sản xuất. Nhiều nghiên

cứu đã chỉ rõ trong một tổ chức nếu các cá nhân càng có năng lực thì khả năng tạo

ra sự cải tiến, sự sáng tạo trong sản xuất càng cao. Vậy rõ ràng, chất lượng nguồn

lao động (tức là vốn con người) có yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng kinh

tế.

- Thứ ba, vốn nhân lực góp phần tạo nên sự bền vững xã hội. Trở lên trên, liên hệ

với lợi ích cá nhân, vì tìm được việc làm ổn định, có thu nhập hợp lý nên người ta

sẽ cảm thấy thoả mãn với chính bản thân mình. Người có tri thức thường cởi mở

hơn, quan tâm đến sức khoẻ và vì vậy sống khoẻ hơn và hạnh phúc hơn. Helliwell

và Putnam đưa ra kết quả nghiên cứu cho thấy ở những nước có nền giáo dục tốt,

sự tin tưởng lẫn nhau và sự tham gia vào các hoạt động chính trị gia tăng (OECD,

2001). Người có tri thức thích tham gia vào các hoạt động xã hội và ít phạm pháp

hơn. Những điều này góp phần làm giảm sự chi tiêu lợi tức xã hội như lương trợ

cấp thất nghiệp, chi phí điều trị bệnh, chi phí cho việc đảm bảo an ninh trật tự... Và

gần gũi nhất, nếu cha mẹ có học vấn cao thì con cái cũng ít có nguy cơ thất học và

chúng nhận được sự quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Bỏ qua những bằng chứng đã

tìm được chứng minh tầm quan trọng của việc đầu tư vào nguồn vốn nhân lực,

chúng ta vẫn thấy một số điểm không hợp lý.Lý thuyết trên được hình thành trên

hai cơ sở.Trước hết, nó tách rời nền kinh tế và xã hội và trở nên một lý thuyết cục

bộ, khơng tồn tại trên thực tế.Ví dụ những hợp đồng kinh tế luôn luôn dựa trên sự

thấu hiểu về văn hoá và quy phạm pháp luật, là những sản phẩm của lịch sử xã hội.

Các nhà kinh tế biết rõ điều này nhưng họ lờ đi và xem chúng như những yếu tố có

thể cắt bỏ một cách an tồn mà khơng làm ảnh hưởng gì đến tính chính xác của

mẫu hình lý thuyết họ tạo ra. Tiếp đến, trong lý thuyết này tồn tại sự giả định các

cá nhân đều hành động có ý thức, có lựa chọn để đạt đến lợi ích tối đa.Dĩ nhiên, ai

cũng thích bỏ ra ít nhưng lại hưởng lợi nhiều nhất nhưng đặt ngược lại, chuyện gì

sẽ ra nếu một cá nhân đã đầu tư nhiều nhất nhưng lại không đạt được lợi ích cao

nhất? Ví dụ, một sinh viên tốt nghiệp ngành viết phần mềm nhưng anh ta không thể

tìm được việc làm thích hợp ở một cơng ty nơi anh ta có thể bán trí tuệ với mức

lương cao đơn giản chỉ vì thị trường lao động cho ngành mà anh được đào tạo chưa

phát triển đủ và vì những yếu tố chính trị khiến anh khơng thể sang nước khác làm

việc. Và dĩ nhiên, sau khi đã đầu tư cho việc học, để mưu sinh anh ta phải chấp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Vốn nhân lực và sự hình thành vốn nhân lực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×