Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét phán quyết của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phán quyết của tòa án nhân dân cấp phúc thẩm? Nêu rõ căn cứ pháp lý?

Nhận xét phán quyết của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phán quyết của tòa án nhân dân cấp phúc thẩm? Nêu rõ căn cứ pháp lý?

Tải bản đầy đủ - 0trang

quy định cụ thể về việc hợp đồng bảo lãnh phải có trước, sau hay cùng thời điểm

với thời điểm hợp đồng tín dụng có hiệu lực. Vì vậy, hợp đồng bảo lãnh trên là

có hiệu lực và việc hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực được thể hiện qua việc ngân

hàng SHBĐN cho ông Dũng, bà Diệp vay tiền với sự bảo lãnh của công ty Cổ

phần Hưng Phát.

Bên cạnh đó, việc tòa án nhân dân cấp sơ thẩm phán quyết ông Dũng, bà

Diệp phải trả cho nguyên đơn (ngân hàng SHBĐN) số nợ gốc 600.000.000đ,

tiền lãi 425.088.000đ (trong đó, lãi trong hạn: 600.000.000 x 1.8% x 12 =

129.600.000đ, lãi quá hạn: 600.000.000+ 129.600.000 x 1.8% x 150% x 15 =

295.488.000đ) tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, tổng cộng 1.025.088.000 đ,

nếu bà Diệp, ông Dũng chậm trả phải tiếp tục trả lãi phát sinh đến khi trả xong

tồn bộ số tiền nợ. Trong tình huống trên có nhắc tới việc khi ơng Dũng, bà Diệp

nhận tiền thì số tiền được chuyển vào tài khoản của công ty Cổ phần Hưng Phát,

việc chuyển tiền là khơng đúng vì việc chuyển khoản vào tài khoản là một hình

thức giao dịch dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng

hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thơng điệp

dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch

bằng văn bản”.

Như vậy, việc chuyển khoản trên thể hiện bên vay là công ty Cổ phần Hưng

Phát chứ khơng phải ơng Dũng, bà Diệp, vì thế việc ngân hàng chuyển khoản

vào tài khoản công ty Hưng Phát phải có sự ủy quyền của ơng Dũng, bà Diệp

đối với cơng ty Hưng phát vì người vay tiền ở đây là ông Dũng, bà Diệp chứ

không phải công ty Cổ phần Hưng Phát. Từ những căn cứ trên xác định được

bên trả nợ là công ty Cổ phần Hưng Phát. Công ty sẽ phải trả số tiền lãi theo quy

định tại Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015:

“5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không

đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với

thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo

mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;



b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng

tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Bao gồm:

Lãi trên nợ gốc: 600.000.000 x 1.8% x 12 = 129.600.000 đ

Lãi trên nợ gốc quá hạn: 600.000.000 x 150% x 1.8% x 15 = 243.000.000 đ

Thứ hai, xét về phán quyết của tòa án nhân dân cấp phúc thẩm. Tại bản án

dân sự phúc thẩm số 61/2017/DSPT ngày 21-11-2017, TAND tỉnh H đã sửa bản

án dân sự sơ thẩm số 21/2017/DSST ngày 02-8-2017, tuyên Hợp đồng bảo lãnh

giữa Công ty Cổ phần Hưng Phát với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn –

Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng có hiệu lực. Buộc cơng ty cổ phần Hưng phát có

nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn số nợ gốc 600.000.000đ, tiền lãi 425.088.000đ

(trong đó, lãi trong hạn: 600.000.000 x 1.8% x 12 = 129.600.000đ, lãi quá hạn:

600.000.000+ 129.600.000 x 1.8% x 150% x 15 = 295.488.000đ) tính đến thời

điểm xét xử sơ thẩm, tổng cộng 1.025.088.000 đ, nếu bà Diệp, ông Dũng chậm

trả phải tiếp tục trả lãi phát sinh đến khi trả xong toàn bộ số tiền nợ. Phán quyết

của toà án nhân dân cấp phúc thẩm là hoàn toàn hợp lý, dựa trên những căn cứ

nêu trên về việc có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh thì cơng ty Cổ phần Hưng

Phát sẽ có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn.

Bao gồm:

Lãi trên nợ gốc: 600.000.000 x 1.8% x 12 = 129.600.000 đ

Lãi trên nợ gốc quá hạn: 600.000.000 x 150% x 1.8% x 15 = 243.000.000 đ

Và vì sử dụng Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết tình huống trên nên theo

luật này thì số tiền lãi cơng ty Cổ phần Hưng Phát phải trả ngồi số tiền mà tòa

án nhân dân cấp sơ thẩm đưa ra còn có số tiền lãi chậm trả theo quy định tại

Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận

khơng được vượt q 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có

liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính

phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và

báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy

định tại khoản này thì mức lãi suất vượt q khơng có hiệu lực.



2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng khơng xác định

rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức

lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Số tiền đó là: 129.600.000 x 0.83% x 15 = 16.135.200 đ. Vậy tổng số tiền

phải trả là 988.735.200đ (nợ gốc 600.000.000đ và lãi là 388.735.200đ).

3. Quan điểm giải quyết vụ việc trên của nhóm đối với vụ án trên? Nêu

rõ căn cứ pháp lý?

Căn cứ vào các dữ kiện của tình huống nhóm xin giải quyết như sau: Qua

việc ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng (gọi

tắt SHBĐN) cho ông Trần Anh Dũng và bà Vũ Thị Hồng Diệp vay số tiền

600.000.000đ, lãi suất 1.8%/tháng, thời hạn 12 tháng với sự bảo lãnh của công

ty Cổ phần Hưng Phát và việc công ty Cổ phần Hưng phát trả lãi thay bà Diệp 4

tháng là căn cứ xác minh hợp đồng bảo lãnh ngày 26-4-2015 là có hiệu lực. Vì

hợp đồng bảo lãnh có hiệu lực nên nhóm sẽ giải quyết theo 2 trường hợp.

Thứ nhất, ơng Dũng, bà Diệp – bên được bảo lãnh có khả năng trả nợ thì ơng

Dũng và bà Diệp có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng SHBĐN theo quy định của

pháp luật, cụ thể là thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định Điều 466 Bộ luật

Dân sự 2015:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật

thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa

thuận khác.

2. Trường hợp bên vay khơng thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá

của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ

trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay khơng có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc

trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền u cầu trả tiền lãi với mức lãi suất

theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương



ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy

định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay khơng trả hoặc trả khơng

đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với

thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo

mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng

tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Theo quy định này, ông Dũng và bà Diệp sẽ phải trả nợ cho ngân hàng SHBĐN

bao gồm:

Lãi trên nợ gốc: 600.000.000 x 1.8% x 12 = 129.600.000 đ

Lãi trên nợ gốc quá hạn: 600.000.000 x 150% x 1.8% x 15 = 243.000.000 đ

Lãi chậm trả: 129.600.000 x 0.83% x 15 = 16.135.200 đ

Vậy tổng số tiền phải trả là: 988.735.200đ (nợ gốc 600.000.000đ và lãi là

388.735.200đ).

Thứ hai, ông Dũng, bà Diệp – bên được bảo lãnh khơng có khả năng trả nợ

thì bên bảo lãnh là cơng ty Cổ phần Hưng Phát sẽ có nghĩa vụ trả nợ thay theo

quy định tại Khoản 1 Điều 342 về trách nhiệm của bên bảo lãnh:

“1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện khơng

đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó”.

Hoặc nếu các bên có thỏa thuận cơng ty Cổ phần Hưng Phát trả nợ thay ông

Dũng, bà Diệp cho ngân hàng SHBĐN nếu ơng Dũng, bà Diệp khơng có khả

năng trả nợ thì ngân hàng SHBĐN có quyền u cầu cơng ty Cổ phần Hưng

Phát trả nợ thay ông Dũng, bà Diệp bao gồm:

Lãi trên nợ gốc: 600.000.000 x 1.8% x 12 = 129.600.000 đ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét phán quyết của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phán quyết của tòa án nhân dân cấp phúc thẩm? Nêu rõ căn cứ pháp lý?

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×