Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tác động do biện pháp tiêu úng

Tác động do biện pháp tiêu úng

Tải bản đầy đủ - 0trang

QHBV-TNN SÔNG VEN BIỂN QUẢNG NINH



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔI TRƯỜNG



Tiểu vùng IV

Nạo vét kênh tiêu tự chảy vào các sông Đầm Hà, Hà Cối, Tài Chi, Ka

Long, Đồng Cái Xương, huyện Đầm Hà có 54 cống tiêu và Móng Cái có 46

cống tiêu, các cống tiêu này sẽ đảm bảo việc tiêu thoát nước cho toàn tiểu vùng.

Việc hoàn thiện và tu bổ nâng cấp gồm: 49.5 km đê huyện Đầm Hà (54

cống tiêu dưới đê), diện tích bảo vệ là 2.305 ha và Móng Cái có 52 km đê (46

cống tiêu dưới đê), diện tích bảo vệ là 3.067 ha.

 Tác động do biện pháp phòng chông lut bão giảm nhẹ thiên tai

Trên địa bàn các lưu vực sông ven biển Quảng Ninh hiện nay các công

trình phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai là đê sông và đê biển. Việc tu bổ

các công trình đê, kè tổng chiều dài là 391,174 km, trong đó: đê biển có 268,544

km, đê sông có 68,230 km, đê bảo vệ thuỷ sản 54,4 km và các công trình dưới

đê là kè đê cửa sông có 68,230 km, kè đê biển 268,544 km, kè đê bảo vệ thuỷ

sản 54,4 km. Các tuyến đê này có độ ổn định tốt, và được kiên cố mái đảm bảo

tính bền vũng nên trong giai đoạn từ nay đến 2010 với tổng diện tích canh tác

được bảo vệ là 27.760 ha, cũng như cống đảm bảo tiêu thoát nước, đáp ứng

được yêu cầu phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ sản xuất nông

nghiệp, thuỷ sản, dân sinh và các cơ sở hạ tầng khác cho toàn vùng dự án

b.



Tác động đến tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái







Hệ sinh thái trên cạn



Sự có mặt của hồ chứa sẽ mang lại nhân tố tích cực đối với việc phát triển

của hệ thực vật và thảm phủ thực vật. Hồ nước sẽ cải thiện điều kiện vi khí hậu,

tăng cường độ ẩm của đất là những yếu tốt́ thuận lợi để lớp phủ thực vật phát

triển nhanh hơn. Như vậy

Hệ sinh thái nông nghiệp: Dự án thực thi sẽ giải quyết được vấn đề thiếu

nước mùa hạn. Đó là điều kiện để hệ sinh thái nông nghiệp toàn vùng phát triển

tốt, có thể thay đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, thâm canh, tăng vụ,

nâng cao sản lượng cây trồng. Các cây lương thực khác (ngô, khoai, sắn...) và

cây thực phẩm (đậu, lạc, vừng và các loại rau) đều phát triển tốt. Cây trồng như

thông, bạch đàn, keo, tre nứa, bụi gai và thảm thực vật tự nhiên cũng phát triển

tốt hơn tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê... cũng sẽ phát triển.

Nhìn chung các hệ sinh thái nông nghiệp biến động nhiều do đủ nước canh

tác sẽ thay đổi cơ cấu cây trồng, phương thức canh tác, thâm canh tăng vụ, sản

lượng lương thực sẽ tăng là tiền đề cho phát triển chăn nuôi và các dịch vụ khác.

* Sự biến động của hệ động vật

Hệ động vật hoang dã trong vùng nghiên cứu hiện nay cũng đang bị ảnh

hưởng rất lớn do săn bắn, chặt phá rừng làm nương rẫy, nạn du canh, du cư. Như



D:\MT\Hoa\Quang Ninh\baocao DTM.doc



-58-



QHBV-TNN SÔNG VEN BIỂN QUẢNG NINH



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MƠI TRƯỜNG



vậy khi chưa xây dựng các cơng trình thủy lợi thì với các nguyên nhân trên cũng

đã tác động đến hệ động vật hoang dã.

Khi công trình hoàn thành và đi vào hoạt động, hồ chứa nước sẽ làm khí

hậu trong vùng trở nên dễ chịu hơn, việc bảo vệ rừng đầu nguồn được đẩy mạnh,

đó là yếu tố giúp cho hệ động vật được duy trì và phát triển.





Hệ sinh thái dưới nước



Do các công trình xây dựng sẽ tác động đến toàn bộ môi trường nước mặt

và tác động đến toàn bộ hệ sinh thái môi trường nước mặt:

* Hệ sinh thái môi trường nước hô

Đối với các công trình 13 hồ chứa mới: Trong thời gian đầu 13 hồ chứa

nước mới ngập nước các loài phù du sinh vật phát triển mạnh làm nguồn thức ăn

cho các loài cá ăn thực vật và mùn bã hữu cơ. Các loại thân mềm giảm hẳn về số

loài cũng như số lượng do nền đáy hồ chưa ổn định. Nguồn dinh dưỡng trong 13

hồ này sẽ nghèo dần đi do quá trình lắng đọng và tự làm sạch, do đó số lượng và

thành phần các loài thủy sinh cũng giảm dần.

Với hoạt động của hồ chứa, thành phần các loài cá trong thời gian đầu hồ bị

ngập nước sẽ bị biến động lớn, các loài cá ưu vùng nước chảy sẽ bị giảm nhiều

về số lượng.

Về lâu dài khi chất lượng nước hồ ổn định thì 13 hồ chứa vẫn là môi trường

nước hồ thuận lợi để nuôi cá nước ngọt. Các giống cá có thể nuôi được trong

các hồ là: cá mè, cá chép, cá trắm cỏ.

* Hệ sinh thái môi trường nước sông

Đối với công trình hồ chứa nước, đập dâng, trạm bơm và hệ thống kênh

tưới sẽ tác động tốt cho các hệ sinh thái vùng hạ lưu và cửa sông. Do được bổ

sung từ thượng nguồn trong mùa cạn làm giảm sự ô nhiễm từ các nguồn thải,

hàm lượng dinh dưỡng trong nước tốt hơn sẽ cải thiện được môi trường sống

cho các loài cá, một số loài thuỷ sản và hải sản vùng cửa sông.

* Hệ sinh thái môi trường nước lợ

Công trình đê, kè có 54,4 km đê, kè bảo vệ thuỷ sản: Các công trình này có

vai trò ổn định và bảo vệ hệ sinh thái môi trường nước lợ (ven biển), tạo điều

kiện tốt để chăn nuôi thuỷ, hải sản như chăn nuôi tôm, tôm sú, cua.

c.



Đôi với môi trường không khí



Khi có các hồ chứa lớn làm độ ẩm không khí tăng lên, đây là một tác động

trực tiếp mang lại lợi lớn đối vơi sinh hoạt của người dân cũng như cảnh quan

môi trường. Hồ có khả năng cải thiện được chất lượng không khí cho cả vùng

chịu nhiều ảnh hưởng của công nghiệp khai thác than. Do hơi nước hồ bốc lên

làm tăng độ ẩm không khí mà giảm nguồn bụi do xúc bốc than tung vào khơng

D:\MT\Hoa\Quang Ninh\baocao DTM.doc



-59-



QHBV-TNN SƠNG VEN BIỂN QUẢNG NINH



BÁO CÁO CHUN ĐỀ MÔI TRƯỜNG



trung, bụi do vận chuyển than cũng là nguồn tạo bụi liên tục trên tuyến đường.

Giảm các tác động do bụi ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái, sức khỏe cộng đồng.

Giảm được các bệnh tật do bụi gây ra như bệnh đường hơ hấp, bệnh nghề

nghiệp. Ít bụi bám vào lá cây làm tăng khả năng quang hợp cây cối xanh tươi

kéo theo cảnh quang môi trường cũng tốt hơn.

d.



Tác động đến chất lượng sông của con người



Những ảnh hưởng có lợi đời sống nâng cao, trình độ dân trí và các mặt văn

hóa, xã hội toàn vùng:

 Đôi với môi trường nông thôn

Tương lai chất lượng sống của nông dân trên lưu vực nghiên cứu sẽ được

cải thiện đáng kể, họ là những người được hưởng lợi chính khi dự án được thực

thi:

* Tác động đến sản xuất nông nghiệp

Với khả năng cấp nước cho nông nghiệp của các công trình thuỷ lợi hiện

nay mới chỉ đạt 60% cho nhu cầu. Nên cơ cấu cây trồng còn hạn chế, trong vùng

thường trồng các loại cây truyền thống. Về vụ mùa diện tích trồng lúa chiếm

75%, khoai lang chiếm 18% và chỉ có 5% là diện tích trồng rau các loại. Về vụ

Đông Xuân diện tích trồng lúa chiếm 33%, khoai lang chiếm 29%, lạc mới có

15%, còn lại 23% là diện tích trồng đậu và rau các loại. Như vậy cây trồng

chính trong vùng chỉ có lúa, ngô, khoai lang, đậu tương, lạc và một số các loại

rau. Công trình đi vào hoạt động đảm bảo cấp đủ nước tưới có tác động tích cực

cho các hệ sinh thái nông nghiệp thuộc tiểu vùng thuỷ lợi I là 37.735 ha, đất

nông nghiệp thuộc tiểu vùng thuỷ lợi II là 10.24 ha, đất nông nghiệp thuộc tiểu

vùng thuỷ lợi III là 13.600 ha và 25.770 ha đất nông nghiệp thuộc tiểu vùng thuỷ

lợi VI. Tạo điều kiện để áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để thâm canh tăng vụ

cho 87.345 ha đất nông nghiệp toàn vùng. Nông dân còn có thể đa dạng hoá các

loại cây trồng, tạo điều kiện giúp nguời dân trong vùng dự án có mức sống cao

hơn.

Công trình còn cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, góp phần nâng cao các

điều kiện sống như nước sạch, môi trường sạch cho toàn vùng dự án: Tiểu vùng

I, cấp nước sinh hoạt cho 418.000 người thuộc các huyện Đông Triều, Uông Bí,

Yên Hưng, tiểu vùng II, cấp nước sinh hoạt cho 424.000 người thuộc các huyện

Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, thành phố Hạ Long, tiểu vùng III, cấp nước sinh

hoạt cho 97.500 người thuộc các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu và tiểu

vùng IV, cấp nước sinh hoạt cho 164.000 người thuộc các huyện Đầm Hà, Hải

Hà, thị xã Móng Cái.

* Tăngg̀ thu nhập của dân

Theo báo cáo phương hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh

giai đoạn 2005- 2015 về kinh tế có dự báo về mức tăng trưởng kinh tế như sau:

D:\MT\Hoa\Quang Ninh\baocao DTM.doc



-60-



QHBV-TNN SÔNG VEN BIỂN QUẢNG NINH



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔI TRƯỜNG



Giá trị xuất khẩu đạt năm 2005 sẽ đạt 350-400 triệu USD và năm 2010 sẽ

đạt 1.500-1.800 triệu USD, đạt tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu 20-22 % thời

kỳ 1996-2000 và 17-18 % thời kỳ 2001-2010.

Nâng tỷ trọng GDP của tỉnh từ 1,6% hiện nay lên 2% năm 2005và 2,22,4% vào năm 2015. Nâng tích luỹ đầu tư từ 10,5% GDP hiện nay lên 18-20%

năm 2005 và 30-31% năm 2010, đáp ứng 65-70% nhu cầu vốn đầu tư cho phát

triển.

Với dự kiến thu nhập trên, bình quân GDP đầu người đạt 550 USD/năm

vào năm 2005 và đến năm 2015 sẽ đạt 1.500-1.600 USD/năm, tức là tăng gấp

2,4-2,5 lần sau 10 năm đầu và 2,8-3,0 lần sau 10 năm tiếp theo.

Theo báo cáo về điều tra mức sống của một số xã điển hình về nông nghiệp

ở hai huyện Hải Hà và Đầm Hà (vùng thuỷ lợi IV) và lợi ích của dự án có ảnh

hưởng tích cực đến sự chuyển biến cơ bản trong quá trình thực hiện công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát huy thế mạnh du lịch, xoá đói

giảm nghèo, góp phần rất lớn để mức tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh như báo

cáo về phương hướng phát triển kinh tế trên có thể ước tính mức sống và thu

nhập của nông dân như sau:

- Hộ giàu: Là hộ có mức thu nhập bình quân 300.000 đ/người/tháng trở lên,

lương thực đầy đủ, có nhà cửa khang trang, tiện nghi trong gia đình khá

đầy đủ và đắt tiền, có vốn lớn để đầu tư tái sản xuất mở rộng. Tương lai sẽ

được năng lên từ 5,8% hiện nay lên 10% năm 2005 và 20% vào năm

2010.

- Hộ khá: Mức thu nhập bình quân từ 150.000-300.000 đ/người/tháng,

lương thực đầy đủ, có nhà cửa, tiện nghi đảm bảo cho sinh hoạt hàng

ngày, có điều kiện để phát triển sản xuất ổn định cuộc sống. Tương lai sẽ

được năng lên từ 18,6 % hiện nay lên 30% năm 2005 và 40% vào năm

2010.

- Trung bình: Mức thu nhập bình quân dưới 150.000 đ/người/tháng, lương

thực đầy đủ, có nhà cửa, tiện nghi đảm bảo cho sinh hoạt hàng ngày, chưa

có điều kiện để phát triển sản xuất ổn định cuộc sống. Tương lai sẽ được

năng lên từ 22,1 % hiện nay lên 40% năm 2005 và chỉ còn 35% vào năm

2010.

- Hộ nghèo: Thu nhập bình quân dưới 100.000 đ/người/tháng, lương thực

tạm đủ ăn, nhà cửa không đảm bảo, thiếu tiện nghi cần thiết tối thiểu,

không có điều kiện để ổn định sản xuất và đời sống. Tương lai sẽ giảm từ

48,8% hiện nay chỉ còn 18% năm 2005 và 5% vào năm 2010.

- Hộ đói: Bình quân thu nhập dưới 50.000 đ/người/tháng, lương thực không

đủ ăn, nhà cửa tạm bợ, tiện nghi không có gì, không có nguồn thu nhập ổn



D:\MT\Hoa\Quang Ninh\baocao DTM.doc



-61-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tác động do biện pháp tiêu úng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×