Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1. Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1. Khái niệm kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học

a. Khái niệm kĩ năng

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000), kĩ năng được hiểu là khả năng

vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.

Theo tác giả Trần Bá Hoành “Kĩ năng là khả năng vận dụng những tri

thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn”.[17]

Theo Nguyễn Bá Minh (2008), “Kĩ năng là khả năng thực hiện có hiệu

quả một hành động hay một loạt hành động nào đó bằng cách lựa chọn và vận

dụng những kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một cơng việc

nào đó ở một cấp độ tiêu chuẩn xác định”. [12]

b. Khái niệm vận dụng

Theo từ điển Tiếng Việt thì khái niệm vận dụng được hiểu là “Đem tri thức

lý luận dùng vào thực tiễn”[12].. Vận dụng còn được hiểu là khả năng con người

biết cách xử lý các tình huống từ những tri thức đã được hình thành.

c. Khái niệm Thực tiễn

Theo triết học duy vật biện chứng, “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất

có mục đích mang tính lịch sử, xã hội của loài người nhằm cải biến thế giới khách

quan” [14] . Theo đó thực tiễn là những hoạt động của con người trước hết là lao

động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thực tiễn là những hoạt động của con người

trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn

tại của xã hội.[12] Thực tiễn có vai trò quan trọng với q trình nhận thức. Thực

tiễn là cơ sở nguồn gốc, động lực của nhận thức , thông qua hoạt động thực tiễn,

con người tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính

chất quy luật. Trên cơ sở đó con người mới có hiểu biết, tri thức về sự vật. Nói

khác đi, thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức, là cơ sở để hình thành sự hiểu

biết của con người. Thực tiễn đề ra yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi các nhà lý luận phải

10



giải quyết để trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển. Thực tiễn là cơ sở rèn

luyện các giác quan của con người, trên cơ sở đó giúp con người nhận thức hiệu

quả hơn và giúp thúc đẩy nhận thức phát triển.

d. Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Từ những khái niệm trên có thể khái quát : Kỹ năng vận dụng kiến thức vào

thực tiễn là khả năng sử dụng các kiến thức đã lĩnh hội để giải quyết các vấn đề

trong thực tiễn cuộc sống.

Trong hệ thống kỹ năng thì kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là kỹ

năng quan trong và là cấp độ cao nhất của tư duy. Vận dụng kiến thức vào thực

tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề thuộc về

nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất trong đời sống, sinh

hoạt hàng ngày như làm bài thực hành, làm thí nghiệm, áp dụng trong chăn ni,

trồng trọt, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề sinh học trong nông

nghiệp ... KNVD kiến thức thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành

trong nhà trường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương

châm "học đi đôi với hành".

1. 1.2.Vai trò của rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học

sinh

a. Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là thực hiện nhiệm vụ của

dạy học Sinh học.

Nhiệm vụ dạy học thể hiện ở 3 mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Ba nhiệm

vụ này có mối liên hệ thống nhất hữu cơ và có sự tác động qua lại với nhau. Trong

đó sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo là kết quả của việc nắm tri thức và cũng là điều

kiện để nắm tri thức sâu hơn, tiếp tục lĩnh hội những tri thức, kĩ năng mới. Đồng

thời nó cũng là điều kiện để hình thành nhân cách vì cần phải có một khối lượng

kiến thức và kĩ năng nhất định mới có thể biến nhận thức thành niềm tin lý tưởng

và từ đó có năng lực ý chí và hành động đúng.

b. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn vừa giúp HS củng cố, nâng cao kiến thức vừa



11



góp phần rèn luyện các kĩ năng học tập và kĩ năng sống

Kiến thức của HS khơng chỉ được hình thành thông qua những hoạt động

học tập tại trường với những nội dung nặng tính lý thuyết mà nó được hình thành

thông qua các hoạt động liên quan đến thực hành, thực tiễn khi HS được làm các thí

nghiệm, thực hành, được tham gia khám phá tự nhiên, được nghiên cứu các vấn đề

xã hội….Trong các q trình đó HS sẽ áp dụng những kiến thức đã được học để giải

quyết các vấn đề đặt ra. Khi đó HS sẽ tận dụng tối đa mọi nguồn kiến thức của mình,

trong quá trình nghiên cứu, làm việc thì sẽ củng cố lại kiến thức cho các em, làm cho

các em tin tưởng hơn về kiến thức mà mình đã được học. Bên cạnh đó, những nảy

sinh trong q trình làm việc thì sẽ làm cho HS bắt buộc phải tự lực, chủ động tìm

hiểu, khai thác thêm kiến thức, từ đó tạo điểu kiện nâng cao kiến thức cho HS hơn.

c.



Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn thể hiện tính đúng đắn



q trình nhận thức của học sinh.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của dạy học ở nhà trường là dạy cho

học sinh phát triển tư duy. Tuy nhiên, để có tư duy phát triển con người ta phải

được rèn luyện và phát triển. Năng lực tư duy đòi hỏi phải có kiến thức, có trí nhớ

nhưng quan trọng hơn kiến thức và trí nhớ là khả năng vận dụng kiến thức, các

thao tác tư duy đã có để chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng nó vào thực tiễn.

Qúa trình tư duy trải qua 4 cấp độ:

Cấp độ thứ nhất: Tri giác tài liệu là giai đoạn khởi có ý nghĩa định hướng

cho q trình nhận thức. Học sinh dùng các giác quan của mình để tiếp xúc với tài

liệu học tập mới do giáo viên giới thiệu, nhằm thu thập những tài liệu cảm tính cần

thiết. Để nhận thức được chân thực, chính xác không chỉ dừng lại ở giai đoạn cảm

giác, tri giác các hiện tượng, sự vật và ở sự hình thành các biểu tượng mà cần thiết

phải phát hiện ra bản chất của các hiện tượng, những mối liên hệ và phụ thuộc

nhân quả tồn tại trong những sự vật hiện tượng. Đó là một bậc cao hơn của sự nhận

thức.

Cấp độ thứ hai: Thông hiểu tài liệu là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức ở mức

độ đơn giản nhất. Thông hiểu tài liệu là q trình nhận thức đòi hỏi phải thực hiện

12



những thao tác tư duy nhất định như: Đối chiếu, phân tích, tìm ra những dấu hiệu

bản chất và biết khái quát thành những khái niệm, những phạm trù. Ở đây nhận

thức đòi hỏi phải có một tư duy trừu tượng cao.

Cấp độ thứ ba: Ghi nhớ kiến thức là giai đoạn hiểu kiến thức một cách thấu

đáo và đầy đủ hơn. Sự thông hiểu tài liệu bắt đầu trở thành kiến thức của học sinh

khi mà học sinh nắm vững nó một cách thành thạo và có thể tái hiện nó một cách

rành mạch và đúng đắn. Ghi nhớ ln ln mang tính chọn lọc tuỳ theo động lực,

mục đích, hứng thú và phương tiện, hoạt động mà đối tượng nào sẽ được “lựa

chọn” trở thành biểu tượng trong trí nhớ;

Cấp độ thứ tư: Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Xuất phát từ

luận điểm triết học “thực tiền là nguồn gốc của nhận thức, là tiêu chuẩu của chân

lí ”[14] .Trong q trình nhận thức, học tập, học sinh không những cần nắm

được tri thức, mà còn phải biết vận dụng tri thức vào thực tiễn. Nắm tri thức đòi

hỏi học sinh phải hiểu được nội dung của tri thức, lĩnh hội được khái niệm một

cách sâu sắc qua nỗ lực chủ quan ghi nhớ và vận dụng được những tri thức vào

thực tiễn.

d. Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là tiền đề để đào tạo học

sinh trở thành những người lao động sang tạo, năng động.

Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu giáo dục cụ thể của cấp

trung học phổ thông được xây dựng, thể hiện qua yêu cầu học sinh học xong cấp

trung học phổ thông phải đạt được ở các mặt giáo dục: tư tưởng, đạo đức lối sống,

học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kỹ thuật và hướng nghiệp, kỹ năng học tập

và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, về thể chất và cảm xúc thẩm mỹ.

Kiến thức trong chương trình Sinh học phổ thơng cung cấp cho các em các

kiến thức cơ bản nhất, cập nhật, hiện đại liên quan đến tất cả các lĩnh vực như nông

nghiệp, công nghiệp và đời sống con người. Những kiến thức này HS có thể vận

dụng trong q trình lao động săn xuất, bảo vệ sức khỏe… Đay là tiền đề giúp các

em trở thành những nông dân giỏi, những công nhân lành nghề hay một nhà khoa

hoc…Như vậy, Sinh học góp phần đào tạo những con người biết làm chủ bản thân,

13



làm chủ xã hội, có nhân cách :có văn hóa, khoa học, có năng lực nghề nghiệp, lao

động tự chủ chủ sáng tạo, có kỹ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH,

sống lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

1.1.3. Cấu trúc và biểu hiện của KNVDKT

Cấu trúc



Biểu hiện và mức độ



Nhận biết vấn đề thực HS nhận ra được mẫu thuẫn phát sinh từ vấn đề

tiễn



thực tiễn, phân tích làm rõ nội dung của vấn đề



Xác định các kiến thức - HS thu thập, lựa chọn và sắp xếp những nội

liên quan đến vấn đề



dung kiến thức liên quan đến vấn đề thực tiễn.

HS điều tra, khảo sát thực địa, làm thí nghiệm,

quan sát,… để nghiên cứu sâu vấn đề.

- Thiết lập các mối quan hệ giữa kiến thức đã học

hoặc kiến thức cần tìm hiểu với vấn đề thực tiễn



Đề xuất biện pháp, thực HS đề xuất các biện pháp để giải quyết vấn đề

hiện giải quyết vấn đề trong thực tiễn

thực tiễn

Thực hiện giải quyết - HS thực hiện các giải pháp giải quyết vấn đề thực

vấn đề



tiễn.

- Đề xuất các ý tưởng mới về vấn đề đó hoặc các

vấn đề thực tiễn liên quan.



1.1.4.Các biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

KNVDKT vào thực tiễn là một kĩ năng mà để rèn luyện và thực hiện tốt

thì đòi hỏi HS phải sử dụng thành thạo nhiều kĩ năng khác nhau. Trong q trình

dạy học đòi hỏi người GV phải sử dụng nhiều PPDH khác nhau nhất là các

PPDH tích cực. Chúng tơi đề xuất các biện pháp để rèn luyện kĩ năng này cho

HS như sau:

- Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập/bài tập tình huống

14



- Sử dụng các PPDH tích cực

a. Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập vận dụng kiến thức thực tiễn

* Khái niệm về bài tập Sinh học

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “ Bài tập là bài ra cho học sinh làm để

tập vận dụng những điều đã học”[4].

Vậy bài tập Sinh học là một yêu cầu mà học sinh nhận được và cần giải

quyết bằng những suy luận logic, những phép tốn và những thí nghiệm trên cơ sở

các khái niệm, định luật, học thuyết …sinh học.

* Ý nghĩa của bài tập Sinh học

Bài tập Sinh học được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học, bởi nó

có vai trò và ý nghĩa rất to lớn, cụ thể như:

-



Giúp làm chính xác hóa khái niệm, khắc sâu và mở rộng kiến thức cho



người học. Giúp học sinh ơn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tự nhiên, hấp

dẫn thay vì phải thống kê kiến thức một cách gò ép, dễ nhàm chán.

-



Rèn các kĩ năng cho học sinh như: Kỹ năng tư duy logic, sử dụng kiến



thức sinh học, thực hành thí nghiệm, phân tích hiện tượng, tính tốn …trong đó có

kĩ năng sống: cẩn thận, say mê, khoa học…

-



Giúp HS vận dụng kiến thức đúng, linh hoạt để xử lý các tình huống thực



tiễn.

-



Phát huy tính sáng tạo của người học, thể hiện trong cách tiếp cận, xử lý



vấn đề gặp phải.

-



Là một phương tiện hữu ích, tích cực giúp kiểm tra, đánh giá HS.



* Nguyên tắc xây dựng hệ thống kiến thức và bài tập Sinh học gắn liền với thực

tiễn

Dựa vào mục đích, nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện dạy

học Sinh học và tâm lý HS, sự phát triển của công nghệ thông tin, của Sinh học

hiện đại và kiến thức các bộ mơn có liên quan có thể thiết kế các bài tập Sinh học

15



có nội dung gắn liền với thực tiễn, giáo dục môi trường, phát triển RLKNVDKT

theo một số nguyên tắc sau:

+ Đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại

Trong một bài tập thực tiễn, bên cạnh nội dung khức Sinh học nó còn có những

dữ liệu thực tiễn. Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác

khơng tùy tiện thay đổi.

+ Gần gũi với kinh nghiệm của học sinh

BT thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời

sống và môi trường xung quanh HS sẽ tạo cho các em động cơ và hứng thú mạnh

mẽ khi giải.

+ Bám sát chương trình

Các bài tập thực tiễn cần phải có nội dung sát với chương trình mà HS được

học, đúng chuẩn kiến thức kỹ năng. Nếu BT thực tiễn có nội dung mới về kiến

thức Sinh học thì nên dẫn dắt ngay trong câu hỏi và kiến thức đưa vào gần gũi với

kiến thức giáo khoa để tạo được động lực cho học sinh giải bài tập đó.

+ Đảm bảo logic sư phạm

Các yêu cầu giải BT cũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của học sinh,

như:

- Phân loại được học sinh giỏi,khá ,trung bình,yếu

- Khi kiểm tra – đánh giá cần sử dụng các loại BT ở tất cả các mức để phân

loại đối tượng HS.

+ Có tính hệ thống

Các BT thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo

mức độ phát triển của học sinh. Trong mỗi chương, bài nên có tất cả các loại, dạng

BT. Trong q trình dạy học, thơng qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng

những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận

thức của HS để nâng cao trình độ, khả năng nhận thức của HS.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×