Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. BÊNH SINH CỦA BƯỚU cổ ĐỊA PHƯƠNG

II. BÊNH SINH CỦA BƯỚU cổ ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bưóu này dùng iod khơng có kết quả, phải điều trị bằng hormon giáp trạng

3. Bướu do thiếu enzym

Nhiều enzym tham gia vào q trình tổng hợp nội tiết tơ" giáp trạng, nên thiếu

một trong các men này sẽ gây ra quá sản và sinh bướu.

Thiếu men peroxydase sẽ làm cho iod vô cơ không chuyển thành iod hữu cơ, do

đó khơng thế tổng hợp thành hormon giáp trạng. Thiếu men này sẽ sinh ra hội chứng

Pendred, gây điếc, đần độn và kém trí nhổ.

Thiếu men nối đơi sẽ khơng giúp cho monoiodotyrosin, diiodotyrosin thành T3

và T4.

Thiếu men déhalogenase thì việc sử dụng lại iod rất yếu.

4. Tình trạng thiếu vệ sinh

Yếu tô" thiếu vệ sinh được Mc.Carrison nhấn mạnh. Đất bẩn, nước uống và

thức ăn thiếu vitamin và đơn điệu dễ sinh bướu.

Người ta có thể gây bướu cho chim bồ câu trong điều kiện thiếu vệ sinh

Cấ sống ở vùng nước bẩn dễ sinh bướu

Dân sống ở vùng hạ lưu, nguồn nưóc bẩn dễ bị bưốu hơn ở thượng nguồn

III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ SINH HỐ

Nói chung khơng có triệu chứng cơ năng gì

Bướu cổ có thể có từ lâu mà bệnh nhân khơng biết hoặc khơng chú ý tới.

Một sô" đông người nhất là vùng bướu cổ địa phương mặc dù có bướu để yên

cho phát triên, khơng điều trị gì.

Điều than phiền chủ yếu là thẩm mỹ

Các triệu chứng chèn ép có thể gây ra khi bướu cổ to, lúc đó có thể thấy dấu

hiêu pemberton: bảo bệnh nhân giơ tay lên quá đầu thì thấy nghẹn và khó thở, có thể

gây tím tái, chóng mặt và ngất.

1. Nhìn

Bướu to ít hoặc nhiều. Bưóu cổ lẻ tẻ thường chỉ độ I, ít khi tới độ II, có thể có

nhân nhưng khơng bao giờ thành bướu keo. Bướu cổ địa phương thưòng rất to, cả

hai bên thuỳ, có thể có nhân và đơi khi bưóu to kèm theo các nang lón, làm lệch hẳn

vùng cổ.

2. Sờ, đo

Sò thấy da khơng dính vào bướu. Bướu nằm dưới sụn, nhẵn, trên hô ức

Di động theo nuốt dễ dàng. Khơng nóng và khơng bao giò có rung mưu khi sờ

vùng bưóu.

Khi sò có thể xác định được hai loại:

a.

trái.



Bướu lan toả: bướu to đều, to tồn thể, nhưng thưòng thuỳ phải to hơn thuỳ

91



Có thể chia ra hai loại:

Bướu nhu mơ: là bưóu mật độ như thịt, gồm nhu mô giáp trạng, thường to vừa,

nhẵn trơn.

- Bướu keo: là bướu có mật độ rất mềm vì trong bướu là các nang keo,

nhiều khi có các phần phình ra, to nhỏ khơng đều.

b.

Bướu nhân: có thể thấy một hoặc nhiều nhân. Các nhân có mật độ chắc giói

hạn rõ rệt so với nhu mô xung quanh. Các nhân này di động theo nuốt, cần phân biệt

vói hạch nằm cạnh vùng bướu. Đo bướu: theo Quervain: dùng một thưóc vải vòng

qua vùng cổ 7 để đo bướu. Thực tế chỉ cần đo vòng qua bướu to nhất. Điều chủ yếu là

so sánh lần đo đầu và lần đo sau.

c.



Chia độ bướu

độ o: nhìn khơng rõ bướu

la: khơng sò thấy bướu khi cổ quá ngửa ra sau

lb: sò thấy to khi cổ ngửa ra sau

2: nhìn mắt thường thân bướu to ở tư thế bình thường



3: bướu giáp nhìn thấy to khi đứng từ xa 10m.

3. Nghe

Nghe vùng bướu không bao giờ thấy tiếng thổi các loại, trừ khi có biến chứng

cường giáp trạng.

4. Xét nghiệm

Khi thăm dò chức năng tuyến, các kết quả cho thấy bình thường CH€S

bình thưòng: ±10%

Độ tập trung I131: độ tập trung I131 hơi tăng, nhưng tăng đều và giảm chậm.

Độ tập trung I131 sau khi cho bệnh nhân uống lOmicro Cil131, đo ở thời điểm 2

giò, 6 giò và 24 giò.

T3 T4 Bình thường, TSH có thể tăng nhẹ. TGI: dương tính.

Nghiệm pháp Werner: đo độ tập trung I131, ghi nhận độ tập trung I131 ở 24 giò

lần 1 là Fl. Sau đó cho bệnh nhân uống 80mg T3 trong 7-8 ngày. Đo lại độ tập trung

I131 ở 24 giò lần thứ hai, gọilà F2.

Đánh giá kết quả: đó là tỷ lệ % hạ thấp sau khi dùng T3, gọi là chỉ số ức chế hay

chỉ sơ hãm. Chỉ số này được tính theo cơng thức sau:

FI - F2

Chỉ sơ hãm = --------------F1

0 người bình thưòng và ngưòi bị bướu cổ đơn thuần, chỉ số này là 3682, với số

trung bình là 58.

Trong bệnh Basedow thường là 20

'

X quang: trong trường hợp bướu ngầm: khi chụp X quang có thể thấy hình

bướu đậm hơn bình thường.

92



IV. BIẾN CHỨNG

Bướu cổ đơn thuần thưòng ít gây biến chứng nhưng khi bướu rất to, có thể gây

các biến chứng sau:

A. CHÈN ÉP KHÍ PHẾ QUẤN

Bướu to có thể gây khó thở, khó nuốt. Nếu to quá có thể gây chèn ép trung thất

trước. Thường gặp trong thế bướu ngầm.

B. CHÈN ÉP THẦN KINH QUẶT NGƯỢC

Có thể gây nói khàn, giọng đơi. Biến chứng này ít gặp

c. CÁC RỐI LOẠN VỂ CHỨC NĂNG

1. Cường giáp trạng

Thiếu iod gây giảm tổng hợp hormon giáp trạng do đó tăng tiết TSH, đưa lại

hậu quả là muốn duy trì tình trạng đẳng giáp trạng thì tuyến phải hoạt động mạnh

hơn, trỏ nên phì đại và quá sản. Trong đa sô" các trường hợp, sự tăng hoạt động

tuyến giáp sẽ ức chế tuyến yên tiết ít TSH, làm cho sự điều hồ ở mức độ cân bằng.

Trong ít trường hợp, tuyến giáp khơng giữ được feedback sinh lý và trở nên cường.

2. Suy giáp trạng

Ngược với trạng thái trên, nếu tuyến giáp không đáp ứng tốt, sẽ trở nên suy.

Bệnh này thường từ từ dẫn tới bệnh cảnh phù niêm điển hình.

Bướu đần: thường do thiếu men peroxydase, tạo nên bệnh cảnh của hội chứng

pendred. Với các triệu chứng: điếc, đần, suy giáp nặrìg, bệnh nhân kém phát triên về

thê lực và trí tuệ gây lùn, tinh thần chậm chạp.

Đôi khi thấy suy tuyến khác kèm theo.

D. BIẾN CHỨNG TẠI TUYẾN



-



- Chảy máu ở tổ chức kẽ: đôi khi xảy ra tự phát nhất là loại bướu keo rất

to. Trong một sô" ca, chảy máu xảy ra sau một gắng sức, chấn thương vùng

bướu.

Viêm giáp trạng cấp, bán cấp

- Bệnh nhân thấy nóng, đơi khi thấy bùng nhùng, vì có thể có ổ mủ ỏ

trong. Bệnh nhân có thể sốt vừa (38°C).

Có thể có vài hạch quanh bướu

Chọc dò có mủ chảy ra theo kim

- K giáp trạng: K giáp trạng thường xảy ra ở các bưổu nhân, tuyến giáp

trở nên to, rất cứng và lổn nhổn. K giáp trạng thường xảy ra và diễn biến

từ từ. Để lâu có thể gây chèn ép tại chỗ và di căn nhiều nơi. Vì vậy ỏ người

bị bướu nhân cần theo dõi thường xuyên nếu thấy bướu to nhanh, cứng và

có hạch phải kiểm tra kỹ xem có bị biến chứng ung thư khơng.



V. CHẨN ĐỐN

1. Chẩn đoán xác đinh



93



Chẩn đoán xác định bướu cổ đơn thường dễ. Là một bướu cổ mà khơng có thay

đổi gì về chức năng trên lâm sàng và xét nghiệm.

a.

Bướu cổ lẻ tẻ: thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, ồ thành phô", hoặc các vùng

không thiếu iod.

b.



Bướu cổ địa phương: phải dựa trên cơ sỏ dân vùng đó bị mắc bưóu khá cao



2. Chẩn đốn phân biệt

a.

Với Basedow: khi bướu cổ đơn có rối loạn thần kinh thực vật gây mạch

nhanh, ra mồ hơi, người nóng phải phân biệt vổi Basedow. Phân biệt dựa vào:

-



Thăm dò chức năng tuyến: thấy cưòng giáp trạng

-



Nghiệm pháp Wermer: trong bướu cổ đơn



+ Trong Basedow

b.

Hạch quanh bướu: cần phân biệt hạch quanh bướu với bướu nhân. Hạch

thường cứng, có ranh giới khá rõ rệt và không di động theo nuốt.

c.

Lớp mỡ ở người béo: đôi khi lớp mỡ ỏ ngựời béo làm ta nhầm vối một bướu

cổ đơn độ I. Lớp mỡ thường sát da và không di động theo nuốt.

d.

,Với

sụn nhẫn: ở một số người, sụn nhẫn nhô ra khá rõ dễ nhầm với

tuyến giáp sụn nhẫn thường rất cứng và chỉ là một khoanh nhỏ bao quanh khí quản

nằm trên vùng bướu.

VI. PHÒNG VÀ ĐIỂU TRỊ BƯỚU cổ

A. PHÒNG BƯỚU CỔ ĐỊA PHƯƠNG

r



Các phương pháp phòng bướu cổ địa phương thưòng khơng tách khỏi tác dụng

điều trị bằng chính các phương pháp phòng nó.

Chủ yếu là tìm cách đưa lượng iod cần thiết theo nhu cầu hàng ngày cho toàn

dân vùng bị bướu cổ địa phương. Có nhiều cách đưa iod cho người bệnh:

-



Viên IK: 5mg, tuần lễ uống 1 viên

- Iod dưới dạng dầu: tiêm bắp 3 tháng một lần, hoặc 6 tháng một lần tuỳ

theo hàm lượng ống thuốc. Dưối dạng dầu, iod có thể ở trong người hàng 3

đến 6 tháng.



Nhưng tốt nhất và sinh lý nhất là trộn muối iod ở vùng nhiệt đới: lượng iod cần

nhiều hơn: 15-26mg/kg muối

B. ĐIỂU TRỊ BƯỚU cổ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BƯỚU cổ LẺ TẺ

1. Nội khoa

Vói các bưóu cổ độ II, III, các bướu nhân, điều trị nội khoa ít có kết quả.

Vổi bướu cổ độ I, cách tốt nhất là dùng hormon giáp trạng vói liều sinh lý.

Dùng iod có thể làm bướu to thêm nếu dùng liều quá mạnh. Có thể cho một trong các

94



loại sau:

T4: 0,lmg mỗi ngày

T3: 20mg mỗi ngày

Thyroxin và T4 tác dụng chậm và kéo dài, thòi gian bán huỷ là 7-8 ngày, do đó

thường dùng 4-5 ngày mỗi tuần. Phải dùng 2-3 tháng mới có kết quả.

Vói loại bưóu cổ lẻ tẻ, dùng T3 có kết quả hơn. Loại này khơng nên dùng iod.

Khi bướu đã to ở độ II, III hoặc bướu nhân dùng nội khoa khơng có kết quả,

phải phẫu thuật khi bướu quá to gây chèn ép các tạng lân cận.

2. Ngoại khoa

- Vói các bướu to có thể cắt bỏ và cũng ít biến chứng sau mổ. Các biến

chứng sau mổ thưòng gặp là:

Cắt phải dây quặt ngược gây nói khàn hoặc mất tiếng hồn tồn.

Cắt phải tuyến cận giáp gây hạ calci máu và cơn têtani

-



*



Cắt gần hết tuyến gây suy giáp



*



r



BỆNH HỌC TUYẾN THƯỢNG THẬN







•••



I. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ

A. GIẢI PHẪU

Là một tuyến nhỏ, nằm úp vào mặt trên trong của thận. Cao 2-5cm, rộng 35cm, nặng 6g.

Tuyến gồm hai phần: tuỷ và vỏ

Vùng vỏ gồm 3 lóp: từ ngồi vào trung tâm

- Vùng cầu: ở ngồi cùng các thuỳ tê bào tròn: tiết ra aldosteron và

corticosteron. Chỉ vùng này tiết ra aldosteron vì có enzym 18 OH lase là

men cần cho việc chuyên hoá từ chất tiền thân của aldosteron mà các vùng

khác của thượng thận khơng có loại men này.

- Vùng bó: tạo nên bởi các tế bào xếp hơi song song trong đó có nhiều mõ

- Vùng lưới: ở trong cùng các thuỳ tê bào sắp xếp không thứ tự, nối liền

vối nhau thành một lưới khơng đều.

Hai vùng bó và lưới đều tiết ra androgen, corticoid và corticosteron.

Vùng tuỷ: màu hồng, tiết ra adrenalin và noradrenalin, dopamin.

B. SINH LÝ

Qua trên chúng ta thấy mỗi phần tiết ra nhiều loại hormon, mỗi thứ lại có tác

dụng sinh lý riêng biệt, khi tăng hoặc giảm sẽ gây ra tình trạng bệnh lý khác nhau.

95



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. BÊNH SINH CỦA BƯỚU cổ ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×